GSNguyenVanTruong.jpg

VĂN

 

 

Nguyễn Văn Trường                   

Houston, Texas 

Một nền Giáo dục Nhân bản?

NHÂN-BẢN THẦY-GIÁO

Sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp, không mấy ai  nghĩ:  phải đúng theo văn phạm. Thế nhưng, trong tựa đề "NHÂN-BẢN THẦY-GIÁO", thiết nghĩ phải nói rõ sự liên quan văn phạm của hai từ kép nầy: chúng tôi dùng ‘thầy-giáo' làm tĩnh từ để bỗ nghĩa cho danh-từ ‘nhân-bản'. Bổ túc cái nghĩa, nhưng là chánh, là chủ đạo. Chúng tôi không giải trình một nhân bản chung chung, trừu tượng của các triết gia, của các nhà thần học, hay các chuyên gia nghiên cứu về cái chất người. Ngay trong phần đầu, NHÂN BẢN chung chung, cũng ở trong giới hạn tầm nhìn của một thầy giáo, của một thời cụ thể: Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam.
Phần đầu, chỉ là rao, hay dạo. Rao dạo cho quen với ý niệm NHÂN BẢN,  rồi mới vào chánh đề: NHÂN-BẢN THẦY-GIÁO

Phần Một
NHÂN-BẢN

Nhân bản, 人本, là bản chất con người. Ý nói cái gốc ban đầu, cái tính chất người, cái tinh chất người, thực chất con người.
        . Nhà Phật dạy: Chân tâm. Người tu Phật tin rằng  có một chân tâm hằng tồn, bất biến, bị che lấp; cái màng-vô-minh che lấp là vọng-ngã; vọng ngã mất, vô- minh rơi, chân tâm hiện tiền, kiến tánh-thấy được chân tâm- thì... thành Phật.
        . Với người theo Đạo Chúa thì Chúa tạo con người theo hình ảnh của Chúa; con người vì ăn trái cấm, mà phải bị đọa xuống trần gian,... Cái tinh chất  của con người là trái cấm, trái của sự hiểu biết thiện và ác.

Thế nên, nói nhân bản, đi vào nguồn gốc, ta thường lạc vào lãnh vực đức tin, tín ngưỡng. Tin mà không nghi. Không thể nghĩ bàn.
        . Mạnh Tử viết: "Con người sinh ra vốn là thiện"[1].
Tuân Tử lại bảo: "Con người vốn ác"[2]. Nghĩ cho cùng, nếu bản chất con người đã là thiện thì cần gì phải dạy dỗ.  Vì con người vốn ác, nên cần phải giáo dục mới thành người tốt? Thầy Mạnh và thầy Tuân, thánh hiền của Nho gia, mà người nói thiên đàng, người bảo địa ngục. Theo ai đây?
        . Xưa và nay, vẫn có người than: "Làm người? Khó! Làm người? Khó!"[3] Khó hơn nữa, có lẽ  là xác định cái "chất người"

Không là một nhà thần học, không là một triết gia, cũng không là một chuyên viên bản thể học--ontology, cái bản chất rốt ráo của con người nằm ngoài tầm khả năng nghiên cứu của người thầy giáo, và riêng của chúng tôi.


Cho nên, để cùng trao đổi trên đề tài "nhân bản", giới hạn cho học đường, chúng tôi xin thưa trình đôi nét về nội dung cụm từ ‘Nhân- Bản' như sau đây:

Một : Nhị  Nguyên

Ngoài chữ nhân---là người, Hán Việt còn một chữ nhân thứ hai, cũng liên quan với con người, đó là: [4]. Thí dụ: Nhân ái[5] . Theo Hán Việt Từ Điển của Cụ Thiều Chữu, thì cái nghĩa đầu tiên của chữ nhân " " nầy là: Đạo-lý làm người; yêu người. Chúng ta hiểu "nhân" trong cái nghĩa nầy: Đạo lý và tình thương.

Nhân, 仁, bên trái là bộ nhân (chữ nhân, 人, mà viết ‘đứng'[6], nghĩa là  người), bên mặt là chữ ‘nhị',, nghĩa là hai. Cái đạo lý làm người, tối thiểu là hai, và thương yêu thì phải tối thiểu cũng phải: hai.

Ý như muốn nói:

  • Không có con người đơn độc.
    ‘Con ngựa hoang, đơn độc trong rừng vẫn là ngựa. Con người đơn độc từ lúc sơ sinh, không tiếp cận với xã hội loài người, thì không biết tiếng người, ý người, tình người, nên không là người'[7]. Vậy, cá nhân phải ‘thuộc'-hay sống cùng với- một tập-thể người mới là người.
    Tập thể ấy là gia tộc, bộ tộc, dân tộc, quốc gia,..hay loài người nói chung.
    Là người, tối thiểu phải là hai: cá thể với cá thể, hoặc cá thể với tập thể, hay nói rộng hơn, cá thể với môi trường; môi trường hàm ý có cả thiên nhiên, vạn vật. Đạo lý làm người nằm trong sự thông lưu qua lại, đối đáp giữa đôi bên. Thương ghét của con người cũng sinh ra từ cái đạo lý giao lưu nầy.
  • Nói theo ngôn ngữ Phật gia:
    a/ Con người -cá thể--hiện hữu trong một quan hệ nhân-quả đồng-thời với môi trường sống của nó, tương khắc mà cũng là tương sinh, cái nầy khác hẳn cái kia, nhưng xác định lẫn nhau. Cái nầy hiện hữu thì cái kia hiện hữu, cái nầy mất thì cái kia mất. Cá thể và môi trường, đồng thời hiện hữu và dị biệt.
    b/ Ngoài ra, còn có quan-hệ nhân-quả dị-thời.  Gieo và gặt. Tác động qua lại, trong một khoảng thời gian nhất định, của những con người đồng thời hiện hữu.

  • Thực tế, con người thì có nam có nữ.
    Ông Tổ loài người, có giỏi như Bà Nữ Oa, đội đá vá trời, hay như Ông Tề Thiên, đại náo Thiên Cung, cũng không sinh sản được. Phải có Bà Eva, mà chỉ có Bà mà không có Ông..Adam, thì cũng chịu phép không sinh sản được cái giống-người.
    cả hai phải ăn trái kiến thức, trái biết phân biệt thiện ác -the fruit of knowing good from evil[8].  Thế nên mắc tội, bị đọa thành người trần thế. Đó là hình ảnh cái tội tổ tông, mà cũng là phước tội. Nói là phước vì không mang cái tội ấy thì không có loài người, không có chúng ta hôm nay.
    Vậy, nam nữ, phước tội, âm dương là tiên thiên. Trời sanh: làm người thì là như vậy.

    Nhưng sau đó là hậu thiên, chuyện của con người.  Có lắm chuyện. Xin ghi qua đôi điều:

1. Kinh Thánh cũng có ghi: Không có "free lunch"[9]. Theo đó trong xã hội loài người, mọi sự việc đều có cái giá của nó.
Giá-cả
thì có mắc rẻ, cao thấp, hời hay không hời,.., dùng trong thị trường.
Ngoài giá-cả, còn có giá-trị.
Giá trị thuộc lãnh vực tính người, tình người. T
hiện ác, tốt xấu, hay dỡ, thương ghét, nhân và bất-nhân, nghĩa và bất-nghĩa,......
Nói chung, giá cả và giá trị đều có hai cực âm dương, dị biệt nhưng xác định lẫn nhau, tương khắc, tương sinh.  Giữa hai cực và ngoài hai cực, có vô số biến thái đa dạng.

Vậy, có cả một vùng để chọn giá cả trong thương thảo, hay giá trị trong giao lưu. Vì đó mà  chúng ta thường được khuyên:  giữa người với nhau, phải biết cư xử tử tế. ‘Tử'[10] nói :‘kỹ lưỡng', ‘cẩn thận'; tế[11] nói: tinh vi, tinh tế. Tử tế hàm ý: cẩn trọng, chu đáo, ý thức trách nhiệm, ý thức về quan hệ, về cái đang xảy ra và những hệ quả của nó.

2. Thiết nghĩ, với chúng ta, người Việt Nam,  cần nhấn mạnh: phải tử tế với thiên nhiên.  
Việt Nam, rừng vàng biển bạc, đất phì nhiêu, thiên nhiên ưu đải, nhưng giờ đây, biển thì có người ngại không muốn tắm, vì dơ bẩn;  cá tôm thì nhiểm độc; đất dai thì có nơi  hạn hán,  có  nơi lụt lội, nước mặn tràn vào đồng ruộng;  ở thành phố ra đường phải mang khẩu trang,.. Đó là do con người bạc đải thiên nhiên, phá rừng, xây cất bừa bãi, lạm dụng  hóa chất, xã rác vô tội vạ...

3. Ngày xưa, ‘âm' được ghi một gạch đứt đoạn: -- , ‘dương' được ghi bằng một gạnh liền:-  Âm Dương còn được gọi là lưởng nghi. Lưởng nghi, chấp chặp hai, sinh tứ tượng[12], chấp chặp ba, cho bát quái,  chấp chặp sáu cho 64 quẻ của Kinh Dịch.
Dịch[13] là thay đổi, biến đổi. Vì cuộc sống luôn tự nhiên biến đổi, không ai chắc ở tương lai, nên dùng quẻ Dịch để đoán việc sắp đến, lành dữ, rũi may,... Đó là chuyện của người xưa.

4. Người nay, đọc Kinh Dịch, có khi học quẻ Dịch, và cả Hà Đồ, Lạc Thơ[14], cũng chơi cái trò bói toán, phõng đoán vị lai.
Thế  nhưng lại ghi Âm Dương bằng 0 và 1, và thay vì sắp chặp 6, như trong Kinh Dịch, thì sắp chập 8[15], và vì dốt chữ Hán, nên gọi là bytes; mỗi byte cho một quẻ; mỗi quẻ, khi thì gọi là tự mẫu, khi thì gọi là số, khi thì gọi là dấu,.... Kết họp tự mẫu với nhau thì được các từ--words.  Kết hợp các từ với nhau thì được các cụm-từ, hoặc câu-văn.  Có những qui định gọi là văn phạm hay ngữ pháp. Các từ, cụm-từ, câu-văn đáp ứng thỏa đáng những qui tắc ngữ pháp thì mới có nghĩa.  Thế rồi, phát sinh những ngôn ngữ mới, không giống ai, danh xưng quái đản: Pascal, Cobolt, Algol,  Fortran, Basic, Jawa, C, C++,...
Đó là  các phần mềm của điện toán.
Muốn sử dụng phải có phần cứng, tức là những máy điện toán.
Thế rồi tin học ra đời.

Ngày nay, Google và Yahoo là những nguồn vô tận kiến thức; người ta hỏi nhau qua Facebook, Twitter,.. Hỏi bất cứ cái chi, và nhờ vậy mà thông thường  giao lưu trên địa bàn thế giới. Quan hệ thầy trò-vấn đáp trình độ middle school, có thể đã qua ipad hay tablets, và từ nhiều năm nay, có người ở VN điện đàm với thân nhân ở Mỹ và thấy hình ảnh của nhau.
Người nay, có những bước tiến vượt bực, như một phép lạ, trong nhiều lãnh vực.

Người nay, dùng điện toán, thu thập dữ liệu, xử lý dữ liệu, tính xác xuất, và căn cứ trên khả năng xảy ra của một sự kiện, và với ước lượng độ sai có thễ chấp nhận được, mà  hành sự. Kinh tế, thương mại, xã hội, khoa học, tâm lý,.., đâu đâu cũng dùng thống kê và xác xuất. 

Có thể nói: thế giới hôm nay là thề giới của thống kê và xác xuất, cũng là thế giới của những ngẫu nhiên, và phiêu lưu có tính toán, tính toán đến một độ sai khả chấp.

 

Hai: Nhất Nguyên

Nhị-nguyên cho quẻ Dịch, sinh điện toán. Dịch truyền đạt sự huyền diệu của những đổi thay phức tạp của duyên phận. Điện toán sinh ra khoa học của những ngẫu nhiên của đời sống.  Xưa thì đoán mà không lường trước được, nay thì ước lượng  được cái ngẫu nhiên có thể xảy ra  với một độ chính xác--sai số--khả chấp.
Dầu vậy, con người, giàu nghèo, sang hèn, mọi tầng lớp xã hội, đều như nhau: lăn trôi trong đổi thay, khổ và lạc. Thế nên, ai ai cũng mong một sự ổn định bền vững: an cư lạc nghiệp.
An cư, nhưng nếu buộc đổi thay thì cái mới phải an ổn  hơn, bền vững hơn. Lạc nghiệp, ‘có vui, thì cuộc vui phải kéo dải mãi, mà như thế, thì nhàm chán, nên phải vui hơn, vui hơn mãi'[16].
Đó là thường tình.
Vậy nên, khi có một thánh hiền, một tổ, một vị khai đạo, ca bài trường ca  ‘đời là biển khổ',  rồi dạy "hảy theo ta",  ta chỉ cho con đường thoát khổ, một pháp môn chắc như bắp rang, lời của ta là "chân thật bất hư", thì đông đảo vội vã nghe theo; chỉ vì nó đúng tâm nguyện từ lâu của mình, nên nó đúng quá.  Thí dụ như cái logic sau đây:

"Khởi điểm của vũ trụ là Thái Cực, Thái cực sinh lưỡng nghi, và từ đó phát sinh cái chuỗi vô tận ‘sinh-tử tử-sinh, luân hồi sáu bảy  nẻo", con người mới chìm đắm trong dục lạc, điên  đảo, đảo điên.  Khổ! Khổ sinh khổ! Khổ chồng thêm khổ! Không bao giờ dứt. Muốn nội tâm an lạc, hãy trở về Thái Cực, thì lưởng cực mất, sinh tử luân hồi mất; tức nhiên, và tức thời "viễn ly điên đảo"[17]. Chỉ cần ‘quay đầu lại là thấy bờ'[18]--kiến tánh[19], trực ngộ cái chân thật tuyệt đối là Thái Cực thì mọi việc được an vui.

Thật logic. Rời bỏ lưởng cực, nguồn của điên đảo giòng đời, trở về cái trạng thái chỉ còn một cực, không nhân không quả, không khác biệt, không va chạm, không xung đột, thì tất phải là một trạng thái an lạc vĩnh hằng, bất biến. Lành thay! Đúng như ta hằng mong đợi; nhất là trong lúc ta đang thật tình trong điên đảo, mất hướng đi, trong tuyệt vọng.

Nhưng nghĩ lại, đó chỉ là suy luận, theo một đường, một cách tuyến tính (linear), một trò chơi trí tuệ hay tâm linh mà con người thường dùng, để biện minh cho một con đường, một lời giải, một lý giải tất yếu, tuyệt đối đúng, có khả năng giải quyết mọi mâu thuẫn, mọi xung đột...
 Và như thế :
- hoặc để khai đạo, lập giáo, tổ chức giáo phái hay đảng phái, lấy giáo dân hay đảng viên làm công cụ cho quyền lực, và  cho việc.. tiến thân, hoặc ‘để' viết trang sử oai hùng bằng máu và nước mắt của ....kẻ khác.
- hoặc vì nhẹ dạ, mất mình trong một lý tưởng, chủ nghĩa, một tổ chức tôn giáo, đảng phái..
- hoặc hòa theo giòng người tín hữu để kinh doanh trục lợi.

Và còn nhiều động cơ khác nữa.

Cũng có người trung thực với hình ảnh mà mình có về Đạo, về chủ nghĩa, lý tưởng, "tu hành" rất mực, hay "dám hy sinh vì đại nghĩa". Họ là bậc chân tu, tự mình thật thà chạy theo tham vọng-tham vọng thành đạo, đạt đạo, đạt "đỉnh cao trí tuệ", hay ‘tử vì đạo'... Họ trung thành với logic của sự suy diễn và với vọng tưởng của mình.  Bên họ, đông đão xem việc tu hành là một phương cách kinh doanh, lấy thị hiếu quần chúng làm duyên, lấy lợi nhuận hay quyền lực làm cứu cánh. Một bên, thật thà theo ảo ảnh? Một bên, xem mình là thông minh, chí thú kinh doanh?

Trong lịch sử loài người, phương Tây  có những Thập Tự Chinh, Thánh Chiến; phương Đông, nhan nhản những ‘gương' " ‘chết' hoặc ‘khóc' vì một hôn quân vô đạo"[20].  Hai thập kỷ gần đây, có những chủ nghĩa Phát Xít, Quốc Xã, Mácxít-Lêninít, với những tên tuổi vĩ-đại Franco, Mussoloni, Hitler, Stalin, Mao, Kim, Hồ. Riêng nạn nhân của họ Sít[21] ước tính:7 triệu; của họ Mao: từ 49 đến 78 triệu; riêng Bước Đại Nhảy Vọt 1958-1962 của họ Mao: 30 triệu người chết đói, chỉ lấy một vài số liệu, và ‘danh nhân'  trên Internet. Tất cả những tang thương,  bi thảm, khốc hận thấu tận trời xanh ấy, cũng vì ‘ngàn ngàn cánh tay dơ lên', ‘hồ hở', xung phong, làm củi đốt cho một Ngài Khai Đạo; thí dụ họ Sít, Đạo Xã Nghĩa.

***

Nhất-nguyên, nhị-nguyên, thái-cực, âm-dương, quẻ dịch, điện toán, huyền học, khoa-học, xử lý dữ liệu, tính xác xuất của những ngẫu nhiên,.. là ngôn ngữ, vũ trụ quan và thành quả của con người. Thập tự chinh, thánh chiến, chiến tranh nói chung là những ấn tích trong lịch sữ loài người. Torquémada, Stalin, Mao, Hít,...là những hung thần ...vĩ đại của một thời. Họ là ấn tượng của chết chóc, đói nghèo, đỗ nát điêu tàn; cũng là biễu hiện cảnh ‘người là con sói đối với đồng loại'. Bên họ, có những bậc thánh, Khổng, Mạnh, Lão, Trang, Đức Phật, Chúa Ky-Tô, Socrates, Plato, Aristotle, ...mà lời nói và việc làm gieo ánh sáng cho nhân loại.
Thiện ác đều là người.
Xưa trong các chùa, luôn có thờ Ông Thiện và Ông Ác.  Hai Ông luôn đi chung nhau: hoặc sát cánh bên nhau trên một bàn thờ;  hoặc ngay bên trong hoặc ngoài cổng chùa, Ông bên mặt, Ông bên trái.  Ý như nhắc nhở rằng:  trong mỗi chúng sanh, có Thiện, có Ác.
Đó là tóm lược cái chất người, tiêu biểu trong những con người cụ thể, trong những bối cảnh lịch sử cụ thể của nhân loại.
Dù ở thởi của điện toán, của sự toàn cầu hóa ngôn ngữ, thông tin, kinh tế, thương mại,.., thế giới như thu hẹp, chúng ta chưa ra khỏi những tính đặc thù nêu trên. Với những nét sơ khởi chung chung ấy, thì cái nhìn hạn hẹp của người thầy giáo, và nói riêng cho người thầy giáo Việt Nam có thể như thế nào?


Phần Hai
NHÂN-BẢN THẦY-GIÁO

Ngày nay, thầy cô giáo, thọ lãnh cái di sản của người xưa, nghĩ về ‘nhân-bản', thường hay "pha". Pha là pha chế, pha trộn: pha trộn xưa với nay, pha trộn Đông với Tây. Nói riêng, pha  thêm cái chất thầy-giáo.

Nhìn chung, thầy cô giáo nhìn con người qua tuổi trẻ thơ dại, trong sáng và sinh động. Thơ ngây, dại dột, vì chưa thực sự tiếp cận với những thử thách lớn nhỏ của cuộc sống, nên chưa bị ô nhiểm bởi đúng sai, phải trái hay buồn vui hờn giận, của người đờiSinh sống, đối nghĩa với chết. Sinh hàm ý ‘sinh xôi nẩy nở'Sinh cũng hàm ý là ‘chưa có kinh nghiệm'[22], ẩn tàng trong người học sinh; chưa kinh nghiệm nên phải học.  , đang hình thành, nẩy nở, giàu mạnh-giàu ở tiềm năng đóng Động nói di chuyễn, không đứng chết một chỗ, không bám trụ ở một nơi.    Sinh động nói sức sống của tuổi trẻ đang lên, đang phát triển, đang hình thành, nẩy nở, luôn trở nên giàu mạnh-giàu ở tiềm năng đóng góp, giàu ở trí tuệ, ở tính người, tình người, giàu trong tiến trình phát triển.   Sinh động nói lên một hoài vọng ở tương lai. Cái tánh vốn thiện của thuở còn thơ dại, chẳng lợi ích gì cho ai, ngoài việc làm vui nhà vui cửa; phải học, trao dồi khả năng, tính tình, mới thành người. Đó là màu áo thầy-cô-giáo khoác lên cái nhân-bản sơ thảo bên trên.  Cái màu ấy có thể tóm lược trong một số định đề, ghi sau đây, để luận bàn, xin ý, với lòng mong đượcc học hỏi.

Đó là:

1.  Định đề tiên quyết: Dạy là vì nó, cho nó, bởi nó[23]. Nó là đứa học trò. Không trò, làm gì có thầy. Vì nó mà có cái giống làm thầy.  là duyên và là cứu cánh của công việc làm thầyNội dung cái dạy là nhằm cho nó, phù hợp với lứa tuổi và khả năng lãnh hội của . Động cơ của cái dạy nằm trong cái học, trong cái lòng muốn học, ham học của nó.  Tất tất đều do nó.
Xưa , ‘học thi phú văn chương', thuộc lòng tứ thư, ngủ kinh, để làm quan,  ‘phụ mẫu chi dân'. Giờ thì cái  học, nhìn gần, thì có thể  để làm ‘công chức' hay ‘cán bộ', hay ‘có công ăn việc làm';  mà nhìn xa và sâu thì học là để trang bị cho mình một cá tính, để mình thành ‘một người'[24]; nói riêng,  một người có khả năng tích cực đóng góp cho lợi ích chung, và là một vốn quý của xã hội.

2.  Hệ quả là: 
Không có việc: ‘Xưa bày nay làm'; ‘người ta sao thì mình cũng vậy.' 
Xưa: Quân Chủ chuyên chế, vua là con Trời-Thiên Tử. Cái học tập trung vào mộ chữ ‘Trung'. Xưa, có người xướng: ‘Chế độ nào, giáo dục nấy, chế độ quân chủ, giáo dục quân chủ; chế độ dân chủ, giáo dục dân chủ.'[25] Theo cái logic nầy, ngày nay, ở các nước xã-nghĩa, giáo dục nhằm đào tạo con người xã-nghĩa, ‘học đường là máy chánh, thầy cô giáo là những kỷ sư tâm hồn và là cán bộ tuyên huấn của Đảng'[26]; và khi ‘người người nhất trí, nhà nhà nhất trí', thì ta cũng nhất trí;  người sao thì ta cũng vậy, an toàn nhắm mắt qua sông.
Người thầy hẳn phải nói: ‘không' với cách suy nghĩ  nầy. ‘Ngàn con số không cộng lại vẫn bằng không'[27], không có lý do để mình là con số không thứ 1001, hay con  cừu Panurge thứ 1001. Càng không có lý do để người-thầy đồng lõa trong việc sản xuất nô lệ.
Xưa, ‘trung với vua', được chết vì vua, thì được ‘sắc phong' là ‘thần',  được thờ ở các đình miếu, danh thơm muôn thuở, một cổ tục thởi vua Văn, vua Võ bên Tàu, rất là Tàu.
Ngày nay, ngoại trừ một vài nơi như ở Cộng Hòa Xã Nghĩa Triều Tiên, ông Kim cha qua đời, khi ông Kim con chuẫn bị đăng quan, thì thần dân xã nghĩa phải khóc ông Kim cha, còn hơn mất cha mất mẹ.  Ông Sít[28] mất, ông Tố[29] khóc Ông Sít:

‘Thương cha thương mẹ, thương chồng,
Thương mình thương một thương ông thương mười.'

Dạy học không là đơn thuần theo gót người xưa. Cái di sản của tiền nhân phải được khai thác, mở rộng, đào sâu, sáng tạo, tạo một môi trường thích hợp cho sự phát triển, cho mình và cho mỗi thành viên của xã hội. Không phài vỉ một số cuồng tín mà ta phải điên theo.  Đứng để cổ tục thành ngục tù trí tuệ. Đừng để học đường trở thành công xưởng sản xuất nô lệ.

3. Tiên đề 2:  Dạy là khai phóng. Khai là mở, như trong khai thông, khai trí, khai phá, khai triển,.. Phóng là buông, thả như trong phóng tích, giải phóng, phóng sinh. Khai phóng là ‘mở rộng và buông thả'[30]. Khai phóng hàm ý một thái độ cởi mở, mở trí, mở lòng mình, và buông bỏ vị kỷ, thành kiến, thoát khỏi các xiềng xích trí tuệ hay tâm linh, để rộng đón, tiếp cận và tìm hiểu cái mới.
Đó là biểu hiện của tinh thần khai phá, tiên phong, chịu khó, kiên trì, chấp nhận hiểm nguy-một hiểm nguy có tính toán, có ước lượng thiệt hơn, trong cuộc phiêu lưu Nam Tiến của cha ông ta.
Đó cũng là tinh thần buông xả, vô trụ của nhà Phật, để tránh cái nhìn lệch lạc, ít nhiều không chính xác của giác quan, của một tâm tư nhiều cảm xúc và định kiến. Xả là xả bỏ, không dính mắc, tức cảm nhận có dính mắc, cần xả bỏ. Vô trụ là không bám víu vào cái sẳn có, nói riêng không bám víu tiên kiến. Xả bỏ, vô trụ, để thấy, biết hiểu để tiếp thu cái mới, trong mức độ tối đa mà ta có được; cũng có thể là rời bỏ cái vị trí chủ quan để tiến đến một cái nhìn thật sự  khách quan.

4. Tiên đề 3:  Dạy học không là nhồi sọ.
Nhồi sọ là ‘ban pháp': Thầy, ở trên, người nắm vững kiến thức,  cái đúng, cái lẽ phải, cái tốt, cái chân thật bất hư, ban bố  cho trò, ở dưới, còn thơ dại, chưa biết, còn dốt, phải tin, nghe, nhập tâm, và thi hành lời thầy dạy. ‘Nhồi sọ' buộc người học tin mà không nghi. Nếu có vấn hỏi, thì sự vấn hỏi lắm khi là hình thức nhằm củng cố lòng tin ‘sắc đá' của tự thân.
‘Nhồi sọ' cũng buộc người học ‘nương tựa, vâng lời, và phục tùng', nếu không tin hẳn ở người dạy, thì tin  ở trí tuệ tập thể, ở tổ chức Đảng, ở tổ chức tôn giáo, hoặc rập khuôn theo người xưa: Nghiêu, Thuấn, Khổng, Lão,..., đông đảo thánh hiền.
Ban pháp là một từ mà có một thời, thường nghe ở các chùa. Quí sư sãi, thường được mời ‘quang lâm và thí pháp hay ban pháp' cho tín đồ.  ‘Sự-quy-y' là ‘‘nương tựa, vâng lời, và phục tùng' tam bảo mà người ban pháp là đại diện. Sư sãi ban pháp, nhưng không ‘nhồi sọ': người tín đồ thường lớn tuổi, tự nguyện tìm đến quy y học đạo, tin ở lời sư giảng, tin mà không nghi. Nếu có nghi vấn, và sư thấy có chút khó khăn, thì sư lấy một lời của Đức Phật, hoặc của một tổ-căn cứ theo kinh nầy, kinh khác, mà giài đáp. Lời Đức Phật, của tổ  ắt phải đúng thôi. Lấy lời của Phật,  của tổ mà trám miệng người, là một thái độ... thiếu lương thiện, mà ít ai không vấp phải.
Ngoài ra, Sư Sãi còn có cái áo vàng, chuông mõ, hương trầm, có được cái không khí cho người học buông xã thành kiến, buông xã những lo âu, phiền não hằng ngày, để chú tâm nghe pháp, và để pháp nhập tâm.
Công việc của Sư tương tựa như ‘tẩy não', nhưng không hẳn là tẩy não, theo cái nghĩa thông thường. Người bị tẩy não bị  bắt buộc, bị đe dọa, và luôn lo sợ, còn tín đồ đến sư với lòng mong muốn, muốn được trang bị một tinh thần mới, thì dụ tìm an tịnh thân tâm.
"‘Tẩy não'-
洗  - bắt nguồn từ những trại cải tạo do Đảng Cộng Sản Trung Quốc thành lập năm 1949, sau khi nội chiến chấm dứt. Nó có nghĩa là cải tạo tư tưởng. Trong thực tế, đó là một bạo hành tâm linh, buộc người bị cải tạo phải từ bỏ mọi quan niệm, ý riêng của mình, để chỉ theo tiếng nói của Đảng."[31] Tẩy não, cải tạo có bao hàm cái ý răn đe, dọa dẫm, hoặc đối xử người bị cải tạo như với một kẻ bất lương hay có mang trọng tội.

Người-thầy không làm công việc của người cán bộ coi tù cải tạo. Công việc người thầy là trang bị cho trẻ những kiến thức cần thiết cho cuộc sống, giúp trẻ thấu hiểu quyền hạn và nghĩa vụ công dân, ý thức cấu trúc luật pháp, chánh quyền, kinh tế, thị trường, xã hội,.. cảm nhận  những giới hạn của tự do và trách nhiệm, quyền lợi và bổn phận, là trang bị  chocác thói quen siêng năng, cần mẫn, kiên nhẫn, chịu khó, để học, hỏi, để chính chắn trong suy tư, trung thực trong luận bàn và hành sự.  Và nhờ vậy, có khả năng  đối thoại được với môi trường, và  hội nhập vào môi trường mà nó đang sống, nói riêng vào cái nếp sống văn hóa đương thời. Hội nhập là vào trong, nhập cuộc, có người có mình.  Hội nhập không có nghĩa:  mình là của xã hội, nô lệ một tổ chúc,  hay  là kết quả của một sự vong thân.
Trong diễn trình học tập và hội nhập, tự tạo một cá tính đặc thù, không ngừng hình thành, hiểu việc, hiểu đời, hiểu mình, hiểu người, một tiến trình hiểu biết. . không là cái ảnh của người-thầy, hay bất cứ của một ai, càng không là ảnh hay công cụ của một tổ chức. không khép kín trong tự ti,  không cứng ngắc, tự mãn  trong một cái đúng tuyệt đối, để không hiểu bất cứ cái chi về tính người, tình người, để thành ‘trơ', vô cảm trước những đổi thay của môi trường chung quanh.. Nó là nó trong những dị biệt với đồng loại; chấp nhận dị biệt để tìm hiểu, tương giao, học hỏi, và  cảm thông. Nó là nó trong những bối cảnh thuận nghịch; thuận thì biết vui, biết sướng; nghịch là thử thách phải vượt qua, để trưởng thành, thế nên, không trốn chạy; mà lắm khi muốn tránh né cũng không được.

Vậy, hội nhập không có nghĩa là rập khuôn, là bị hay chịu cho người nhồi sọ hay tẩy não.
Nhìn lại thời học đường VN Đê Nhất và Đệ Nhị Cộng Hòa, không phải mọi việc đều hoàn hão, trơn tru như đi trên thảm đỏ. Thế nhưng, ở các trường sư phạm, các khóa tu nghiệp, trong các công văn, luôn có ẩn tàng hay trực tiếp, nêu lên cái ý: tôn trọng con người trong mỗi đứa trẻ, tôn trọng cái con người mong manh đang hình thành trong đứa trẻ.

Về chương trình dạy, trong cái tuổi mẫu giáo, tuổi của chuyện ‘Tấm Cám', Thạch Sanh Lý Thông, Bạch Viên Tôn Các.., người thầy có dùng huyên thoại, huyền thoại An Dương Vương, Phù Đổng Thiên Vương,... Nhưng, cũng ngay ở cái tuổi nầy, đã bắt dầu dạy vệ sinh thường thức[32], vệ sinh cá nhân, nhất là ở thôn quê, chưa có nước máy, và trẻ con là mồi ngon cho các bệnh sốt rét, tiêu chảy, dịch tả, phong đòn gánh.... Sang tiểu học thì sớm xây dựng ngôn ngữ, nói và viết, quan sát, tả cảnh, thuật chuyện. Đến tuổi 13-15, tạm gọi là làm chủ được ngôn ngữ, thì đến giai đoạn khai tâm vào lý luận: đúng sai, hay dỡ, đẹp xấu, qua những bài phân tích và bình luận văn chương hay nghĩ suy về luân lý, về một số ca dao tục ngữ.  Vào Trung Học đệ nhị cấp là nghĩ đến chuẫn bị vào Đại Học, mà thầy trò có thể trao đổi  với nhau, nói riêng trong các lãnh vực văn chương, luân lý, triết học.
Song song với việc rèn luyện trí tuệ và tính tình, là cái học để trở thành một thành viên sản xuất-của cải vật chất hay dịch vụ. Cái cảm giác mình có lợi ích, mình có đóng góp, đem lại cho con người lòng tự tin, và là động cơ thúc đẩy con người tiến bước, tìm tòi, mở rộng, đào sâu và cứ như thế mãi mà học hỏi.
Đó là chuyện xưa.Việt Nam Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Hòa.

Ngày nay, ‘tất cả vì chủ nghĩa xã hội.'
Nói cách khác, dạy và học nhằm để vong thân trong một chủ nghĩa: xã nghĩa. Có lẽ vì vậy mà ‘xã nghĩa' luôn là môn chánh. "Chánh" trong cả hai nghĩa: hệ số cao nhất, điều kiện tiên quyết cho việc đỗ đạt và thành đạt.
Nghĩ cho cùng, ‘xã nghĩa' là một đạo giáo, có Kinh Thánh[33], có tổ chức giáo phẩm, có tòa án thẩm tra kẻ lạc giáo hay dị giáo, như thời Trung Cổ. Thật không ngoa khi gọi là Xích Giáo-- , Giáo Hội Đỏ; hoặc nói theo ngôn ngữ xã nghĩa là Sít-Giáo, tưởng nhớ đến ông Giáo Hoàng đầu tiên họ Sít, ở Thánh Địa Mát-xco-va, và theo ngôn ngữ của văn chương ‘phản động': Đạo Sít- Xít,  cái tặc-đạoc của  họ Sít.
Thế nên, làm thầy cô giáo, thời xã nghĩa, khó lắm.  Sống cơ cực, động lương eo hẹp, ngày càng eo hẹp.  Mà ai ai chẳng như vậy!  Nhưng có những thầy cô giáo còn phải uốn cong lương tri chức nghiệp, để làm một bộ phận, một mắc xích, cho cái máy đào tạo hàng loạt những rô-bô xã nghĩa, tung hô, nhất trí,...Nhượng bộ với hoàn cảnh, đồng lõa với ma vương, làm cây sậy của La Fontaine, nép theo sức gió: Khó! Thật quá khó!  Nhưng vẫn không khó bằng sòng phẳng với chính mình.


Tiên đề 4: Dạy là truyền đạt
kiến thức.  Truyền đạt những giá trị. Kiến thức, giá trị là phương tiện, tạo duyên cho đối thoại, đổi trao, cứu cánh nằm ở con người
- Kiến thức phải cổ điển, phải có những giá trị vững chắc mời được chọn và ghi trong chương trình và viết thành sách giáo khoa. Kiến thức-cũ rích, trơ, chết, bất động, vô hồn trong sách vở, người-thầy lấy đó làm duyên cho những buổi gặp gở thầy trò, làm đề tài cho giờ học. Học thì có hỏi; hỏi chưa thấu đáo chưa thôi; phải suy tư, đem ra bàn luận, mà chưa thấu đáo vẫn chưa thôi, phải đưa thử nghiệm, .... Thế nên, kiến thức cũng là duyên cho thầy trò tôi luyện quan sát, nhận xét, phê phán, phân tích, tổng họp, suy đoán, dự trù, làm dự án,.., và thực thi; vì vậy mà  cũng giúp cho sự  tôi luyện tính kiên nhẫn, chịu khó, bền lòng, bền chí,... Cũng là duyên cho đổi trao thông tin, duyên cho thông cảm, cho sự giao lưu giữa thầy trò và giữa bạn bè trong lớp học.  Duyên nào cũng có thuận, có nghịch. Nghịch duyên là thử thách.  Thử thách cho việc tôi luyện trí, tính, và tình người, trước nghịch cảnh.   Cho nên, không có cái học ‘bị học', ‘được truyền giảng' một chiều: thầy cô, bên trên-trên bục, ‘một bồ kinh sử' -‘độc quyền' thí pháp cho cái đám tín đồ dốt nát cần được dẫn dắt ở phía dưới; không có cái học như ‘con vẹt' mà là cái học năng động, cái học sống.
(Phải ghi nhận ở đây, cái phương cách truyền giảng rất thuận cho người dạy và người học, trong cái nghĩa là; cả hai bên đều yên ổn: người học  không bị động, không bị hỏi, không phải động não để trả lời, và về phía người dạy, thì tất tất đều có trong sách vở, mọi việc đều gói đẹp trong cái không có vấn để, không một sự rũi may rắc rối xảy ra. Điều nầy thường được các thầy, cô  ở cấp Đại Học áp dụng; ở Đại Học, người học được xem là có đủ khả năng tìm hiểu, tự vấn về mọi vấn đề khác biệt ở mọi lãnh vực, văn chương, triết học, khoa học,..)
-Như vậy, ‘truyền đạt' là một cách nói thiếu may mắn.  Dạy, trong bất cứ bối cảnh nào, không chỉ là một sự truyền đạt đơn thuần kiến thức hay giá trị.
Nói đúng sai, phải trái, người-thầy ắt phải nêu rõ là trong bối cảnh nào, với những giả thiết nào, ở hệ thống tiên đề nào, qui về thang giá trị nào. Có những cái xưa đúng mà nay sai; thí dụ: xưa ‘trung với vua' và chết vì chữ ‘trung', như Nhạc Phi thì ‘đúng quá đi thôi'(?); nay thì, ngoại trừ những người cuồng tín, không ai muốn chết hay làm nô lệ cho một ông lãnh đạo, hay vì một chữ ‘trung'-thí dụ: ‘Trung với Đảng', hay trung thành với một chủ thuyết, một chủ nghĩa, hay tử vì đạo. Ngoài ra, cái đúng ở Tây Phương có thể sai ở Đông Phương.  Anh và Pháp cách nhau một eo biển nhỏ, The English Channel, mà ở Anh, xe chạy bên trái, ở Pháp xe chạy bên mặt. Người thầy có thể ‘giảng'-đặt vấn đề nhất nguyên, nhị nguyên, tiên thiên, hậu thiên, chân lý,..., nhưng không gói, không nhốt, không giam, không nô lệ hóa học  trò mình hay tự thân mình trong cái huyền diệu nhất nguyên, hay trong chuyên chính nhị nguyên, hay bất cứ một chủ thuyết,  một chủa nghĩa, hay một tổ chức, dù hoàn hão tuyệt luân.. Theo đó, người thầy hành xử theo ‘duyên nghiệp', gieo nhân, gặt quả, lấy quả làm nhân, quay cuồng trong luân hồi trăm ngả'.  Có vui, có khổ. Có thành, có bại. 

Thành đạt, người học có thể là  đổ trạng nguyên, tiến sĩ, nhưng không vì đó  chết ở bằng cấp, càng không chếtởt miếng đỉnh chung, trong tranh đua quyền lực; nói cách khác, không chết vì ham muốn hay  vì tự mãn. Thành đạt có thể là một khám phá lớn cho nhân loại, nhưng không vì đó mà nghĩ ngơi, mụ người, mai một trong hào quang.  Thành đạt phải là cơ duyên mở một con đường mới, một giai đoạn mới; cái mới, cái chưa biết nào cũng có những phiêu lưu, vừa hấp dẫn, vừa làm lòng người e ngại, e ngại những hiểm nguy, ngẫu nhiên xảy ra, không lường trước được, e ngại va chạm, e ngại gieo nghiệp, e ngại thất bại.
Cái mới nào cũng có những vấn nạn, nan giải, và là thách đố, là cơ duyên tôi luyên tài năng và tính tình. Thế nên, ‘không có cái gì thay thế được ‘sự cật lưc làm việc'.'[34] Cô Pryianka Chopra, ca sĩ, minh tinh màn ảnh, ý thức sâu sắc điều nầy, khi Cô nói: ‘Hãy khoác cái áo thành công như mặc T-Shirt, không như mặc tuxedo.'

Nói cách khác,

Học là thường xuyên, là chịu khó, suốt giòng đới.

Thế giới học-và-dạy của các thầy và cô giáo, nhân-bản thầy-giáo, có thể là như thế đó.  Nhìn ngoài, nó là cái Đạo, vì như mọi đạo giáo, nó có một rừng kinh điển, có lễ nghi, văn-tư-tu đầy đủ,..; Đạo mà không là đạo vì không gói, nhốt, giam, hay nô lệ hóa  con người vào một chủ nghĩa, chủ thuyết, pháp môn, một hệ thống giáo lý, giáo điều, một tổ chức đạo giáo; cũng  không bỏ đời, tìm  một sự an ổn cho tự thân. Người-thầy trọn vẹn với cuộc sống thế tục, chấp nhận nghiệp-báo; trong cái rừng kinh sách, mượn kiến thức làm duyên để mong và nhờ tuổi trẻ mở rộng và đào sâu, với hi vọng một tương lai phong phú.
Đó là cái chất của giao lưu, của đối thoại, của hợp tác, của học hỏi,  giữa những thế hệ, mà lớn nhỏ tôn trọng nhau, để cùng vun bón tình người, tính lý con người. Có dính, có mắc; dính trong kiến thức, mắc trong lý tình, nhưng có buông, có xả.  Buông xả,
không nhầm để phiền não trôi đi, để tâm an, mà là để  buông bỏ thành kiến, tiên kiến, định kiến, để thấy, hiểu, cảm thông, hiểu mình, hiểu người, hiểu vấn đề, hiều quan hệ, và như vậy, thầy và trò luôn  trọn vẹn trong những bun xun, lăn xăn, phức tạp, thuận nghịch của duyên phận, tiến bước trong một cuộc sống thật là người. Buông xả để trưởng thành.
Đó là nhân bản thầy giáo.

Thay lời kết:
Công việc thầy cô giáo là một công việc đồng đội: theo chiều ngang, văn chương, luân lý, sử, địaa, vạn vật, lý hóa, toán, kinh tế gia đỉnh, nhạc, hội họa,..đều nhằm một cứu cánh: giúp giới trẻ xây dựng trí tuệ, tính tình, một cá tính cho tự thân. Và cũng là một công việc đồng đội theo chiều dọc, thầy cô giáo lớp học năm trước nghĩ đến người dạy năm sau. Ngang hay dọc đều cùng nhằm giúp giới trẻ xây dựng diễn trình những cái ‘Tôi' luôn hình thành và khác biệt.
Trên thực tế, thầy cô giáo dạy kiến thức, buộc phải dạy những kiến thức ghi rõ trong chương trình, và viết thành bài bản trong nhiều sách giáo khoa. Thế nhưng , kiến thức, với người dạy chỉ là phương tiện, và với người học, còn có thể là phương tiện tiến thân, có được một cái nghề, để cống hiến, đóng góp tích cực cho sự giàu mạnh chung. Cứu cánh vẫn là con người, con người đang hình thành trong mỗi đứa học sinh.
Nhắc lại điều nầy, để nhấn mạnh: Làm thầy không lúc nào có nghĩa là nhồi sọ, là tẩy não, là biến trẻ thơ thânh những con rối, làm  nô lệ cho quan trên  tùy tiện sai bảo, hay mê ngũ trong một chân lý, mà'sông có cạn, núi có mòn,  chẳng bao giờ thay đồi'

Người thầy nhìn  công việc của mình như là ‘nhuộm mây, nẩy trăng'[35], vẻ mây vì trăng. Dạy kiến thức, lấy kiến thức làm phương tiện, để giúp trẻ trưởng thành, để nó thành người, một người hiểu biết cộng đồng và môi trường mình đang sống.  Nhưng cũng nhìn nhận rằng lắm  khi phải chịu  nhân nhượng với thị hiếu quấn chúng, chạy theo bán chữ, bán kiến thức, dạy   cho thi cử, cấp bằng, học vị.

 Trong cái thói quen cố hữu nói trắng thì phải thêu đen, để trắng rõ thêm trắng,  chúng tôi có sử dụng ngôn ngữ đạo giáo, chân lý tuyệt đối, ‘chân thật bất hư', dính mắc và xả bỏ, trụ và vô trụ,..., chẳng qua là chúng tôi muốn dùng mây vẻ trăng, để làm sáng cái nhân-bản thầy-giáo.. Mọi ý tưởng châm biếm, xoi bói, chỉ trích đều ngoài ý muốn của chúng tôi.

Chúng tôi chân thành cám ơn
- Ông đồ nhà Đổ Chiêu Đức đã xem lại việc sử dụng Hán Văn của chúng tôi.

Houston, Texas July 15, 2016

NGUYỄN VĂN TRƯỜNG 

 



[1] Nhơn chi sơ tánh bổn thiện. Wikipedia.

[2] Nhơn chi vốn ác. Giản Chi: Tuân Tử.

[3] Khổng Tử: "Vi nhân nan! vi nhân nan!" (?)

 

[5] Như trong: "nhân dân ái vật,  .  thương dân yêu vật . Hán Việt Từ Điển Trực Tuyến. Internet.

[6] nên cũng thường gọi là ‘nhân-đứng'

[7] Lý chánh Trung (?)

[8] Genesis 3:5

[9] Ngươi sẽ phải đổ mồ hôi trán mới có bánh ăn, Sáng Thề Ký. Chương 3: 19.

[10] . Hám Việt Từ Điển Trực tuyến. Internet.

[11] . Hám Việt Từ Điển Trực tuyến. Internet

[12]

[13]易. Từ Điển Hán Việt Trực tuyến. Internet

[14] Nhân tử Nguyễn Văn Thọ: "Trong các sách Dịch, bao giờ cũng có những hình mô tả Hà Đồ, Lạc Thư...Hà Đồ, và Lạc Thư đều bàn về lẽ sinh thành của vũ trụ quần sinh, đều chủ trương lẽ Thiên Địa vạn vật đồng nhất thể, và Nhất Thể tán vạn thù, Vạn thù qui Nhất Thể, đều chủ trương Vạn vật phát xuất từ một Tâm Điểm, phóng phát ra ngoài, rồi cuối cùng lại qui hướng về Tâm Điểm ấy.

[15] Trong thực tế hình như họ ghép chập 16, hai bytes (?)

[16] Thích Viên Minh.

[17] Từ của Kinh Bã Nhã

[18] Hồi đầu thị ngạn,

[19] Trực ngộ chán tâm, kiến tánh thành Phật.

[20] Theo một ý của Dươn Chu. 430-380 trước Công Nguyên. 

[21] Stalin

[22] Thiều Chữu. Hán Việt Tự Điển. ‘Sống chưa chỉn gọi là sanh, làm việc không có kinh nghiệm gọi là sanh thủ  生手' Nguyên Văn.

[23] Dương Thiệu Tống. Giáo sư, Ban Giáo Dục Đại Học Sư Phạm Sài gòn.

[24] Một Người. Tựa của một quyển tiểu thuyết của Ông Lê Văn Trương.

[25] Lycurgue. Nhà lập pháp Sparte. Thế kỷ thứ IX, trước Công Nguyên.

[26] Ít nhất là trong hai thập niên 1975-1995, ở Miền Nam được ‘giải phóng'.

[27] Giáo sư Trần Quang Đệ. Nguyên Viện Trưởng Viện Đại Học Sài gòn.

[28] Joseph Stalin

[29] Tố Hữu

[30] Wikitionary. Internet.

[31] Theo Wikipedia và Wikitionary.

[32] Một từ thông dụng thời bấy giờ và rộng nghĩa hơn là: Khoa học thường thức.

[33] Mácxítlêninít. Ở Trung Quốc, thời Mao Trạch Đông còn có quyển Kinh Đỏ.

[34] Time Magazine. May 2-May 9, 2016. P.26

[35] Mái Tây. Bản Dịch Nhượng Tống. Lời bình của Kim Thánh Thán.

_________________________________________________________________________________________________________-_____________________________________________________________-- 

 

‘Văn Tư Tu'[1]

Trong Cái NGHIỆP Làm Thầy .

6/28/16

  Nguyễn Văn Trường  

Mở Đầu
Trong một bài trước-Văn Tư Tu trong cái ĐẠO làm Thầy-chúng tôi có giải- trình hai việc:
1. Làm thầy giáo, cô giáo, trong giới hạn đức tin, lễ nghi, kinh sách,.., là một Đạo, như Đạo Khổng, Đạo Lão, Đạo Phật,... Cái hạnh "Văn-Tư-Tu" có đủ. Nói là Đạo mà thật sự  không là Đạo, vì người-thầy nói có giáo lý[2] mà không có giáo điều,  có thể có một cái nhìn triết gia, nhưng không gói người và mình trong một triết thuyết.  Nói chung, người thầy có thể có một lý tưởng, nhưng không dính mắc trong một cái đúng tuyệt đối "chân thật bất hư"[3].
2. "Văn-Tư-Tu" phải là thiết yếu, và là "ba ngôi"[4] như trong Đạo Thiên Chúa, hay "tam thân"[5], như trong Đạo Phật: ba mà là một, bất khả phân. Hạnh, ý nói: đức hạnh 德行, thi hành cái đức ‘Văn, Tư, Tu"
 Bài trước, chúng tôi thưa  trình: "cái phải là', trong tư duy, lý luận trừu tượng.  Bài nầy, chúng tôi mong nói được  phần nào ‘cái thật sự là văn-tư tu'  trong hành động hành ngày của người thầy, trong cái NGHIỆP LÀM THẦY.
NGHIỆP trong bài nấy, có hai nghĩa: 1. Nghề nghiệp, như tu nghiệp, tốt nghiệp, nông nghiệp, thương nghiệp,..2. Nghiệp quả, nghịệp báo, nghiệp chướng, khẩu nghiệp, ác nghiệp, thiện nghiệp của nhà Phật[6]. Trong cái nghĩa thứ hai nầy, nghiệp nói:  ‘hành động',  gieo ‘nhân', lăn trôi trong luân hổi lắm nẽo. Cùng là sư-‘thầy giáo đạo'[7], Đạo Phật với các sư, Đạo Làm Thầy cho các thầy cô giáo- nhưng sư may mắn hơn, với ‘Văn, Tư Tu', có thể liễu Đạo, và Niết Bàn rộng mở; còn với thầy, cô giáo thì duyên sinh nghiệp chướng, trùng trùng duyên nghiệp, luôn trong đúng sai, thiện ác, khổ lạc, năm chìm bảy nổi trăm ngàn cái lênh đênh.  Đó là thân phận, là cái NGHIỆP làm thầy. Chúng tôi mong nói lên được một vài nét của cái nghiệp duyên nầy.
***

Thầy, và  người-thầy trong bài nầy cũng như trong bài trước được hiểu trong nghĩa là thầy-giáo và cô-giáo, nói riêng cho các trẻ em chưa đến tuổi thành nìên. Chưa vào cấp cấp Đại Học, các em được xem là chưa  trưởng thành. Ở cấp Đại Học, sự giao  lưu thầy trò có thể thoáng hơn, không theo một nề nếp nhất định, Văn, Tư, Tu', thực chất có thể khác đi ít nhiều.
‘Văn' vẫn có nghĩa là nghe, như trong câu "như thị ngã văn"-tôi nghe như vầy, của Phật gia. Trong cái Đạo làm thầy, ‘văn'  cụ thể là nghe kinh sách (từ sách giáo khoa các lọai, đến tâm lý, triết học,..), internet,  người xưa, người nay, nghe học trò, phụ huynh, đồng nghiệp, nghe ngay trong chính mình; không chỉ nghe lời nói, mà nghe âm vang, giọng nói, cử  chỉ, thái độ, để hiểu, để mở tầm nhìn trorng cái đa dạng, đa nguyên, đa sắc, đa âm, trong giòng biến thiên vô cùng của cuộc sống. Nghe để bắt gặp và đặt vấn đề, để vấn hỏi, luận bàn. Nghe cũng là nhận thức những  cảm xúc của lớp học, nghe được những lo âu, vui buồn của phụ huynh về cái học của con em họ, chia xớt được  những khó khăn,  phân vân, suy đoán, và luận bàn với đồng nghiệp về những kinh nghiệm liên quan đến đời sống thầy giáo,.. 
Vậy, ‘nghe' không chỉ là nghe lời nói, âm thanh, mà còn bắt gặp cử chỉ, thái độ, sắc mặt, ánh mắt,..., nghe cả ‘cái không lời'.  ‘Lời' và ‘không-lời', ‘thanh và vô-thanh', người thầy chụp bắt,  lấy đó làm duyên, để trực nhận, đánh giá và có phản ứng -một giá trị nhất thời, thích hợp ít-nhiều; tất tất cùng trong một khoảnh  khắc. Tạm gọi như vậy là  lắng nghe. Nghe duyên hợp rồi tan, khách quan, không chờ đợi ý tình khai triển.  Luôn ‘tỉnh thức'[8] để nghe cả ‘lởi' và ‘không-lời', để nắm bắt cơ duyên-thuận nghịch, trong ngoài, và tùy duyên mà ứng xử.

Người thầy quen thuộc với ‘sắc sắc không không'[9], với bọt biển sóng ngầm, với những đổi thay ‘vân cẩu'[10] ấy của giòng chảy học đường.
Trong đổi thay ‘hư giả'[11] của nhà trường, người thầy học lắng nghe và vấn hỏi những tâm tư cá biệt và vị ngọt đắng của cuộc đời.
Nói là học, vì cái nghe nầy không là thiên phú, tự nhiên, sanh ra đã vậy.
Đương nhiên, thầy trò, bên phát, bên thâu, nhưng phải học thâu, học phát; không những học mà còn phải tôi luyện, để quen chú ý, chú tâm, quen bắt gặp ý tình, trầm bổng, mạnh yếu của âm giai, trong những đổi thay trên nét mặt, ánh mắt, cử chỉ, thái độ...của bên kia. Nếu nghe qua, thấy phớt, hoặc nghe  mà tâm trí ở chỗ khác, thì không phải là cái nghe thầy-giáo.
Muốn nghe và lắng nghe, không chỉ phải học, mà còn phải tôi luyện.
Người công-giáo có sự lặng-ngắm hay thiền-contemplation or meditation-mình chỉ với mình, tập sao cho tâm thức hoàn toàn lắng động, sao cho cái TÔI của thành-bại-thị-phi chết đi, để đi vào một chiều sống mới: hiệp thông huyền diệu với Thiên Chúa[12].
Nhà Phật có Thiền: Thiền Minh Sát, Thiền Tứ Niệm Xứ. Thiền giúp tâm tịnh; tâm tịnh thì có huệ, mở đầu cho sự giác ngộ chân tâm,... Hằng ngày, dành thời gian, tìm nơi yên tĩnh, để lắng nghe mình thở ra, thở vô, ‘quán thân, thọ, tâm, pháp'[13]. Tìm lại chính mình.

Tôi luyện như thế chỉ để cho mình..... thoát khổ. Thế mà cũng lắm công phu. Các công phu lặng ngắm và thiền tập có thể rất cần thiết và hữu ích cho tâm linh: không nên nghĩ bàn.
Người-thầy cũng tu tập, nhưng không được chọn cho mình cái không khí an bình, tĩnh lặng của những buổi cấm phòng-lặng ngắm và thiền- của người công-giáo và phật-giáo, cũng không tìm một sự tĩnh lắng của tâm thức cho một sự hiệp thông hay chứng ngộ diệu huyền.
Một bên-tín đồ--nhìn vào trong, trở về với tự thân, hướng về huyền học siêu hình.
Bên kia, thầy-cô-giáo, như hướng ngoại, sứ mạng vị tha: dạy là cho nó, vì nó, bởi ở nó; nó là người học. Nói là vị tha nhưng thật chất là có người, có ta; thầy học làm thầy-và cũng là học làm người- ở lớp học, ở những giờ gặp gỡ đồng nghiệp và phụ huynh; trò học làm người, học với thầy, với bạn, với môi trường.  Người và ta. ‘học, vấn, tư biện, hành'[14] đều có đủ.
Người tu Phật tìm sự tĩnh lặng, trong ngoài, ‘ không trừ vọng, cũng không cầu chân.'[15]
Người-thầy thì trọn vẹn trong cái ồn-ào bát nháo, 'nhân-quả', ‘quả-nhân', trong cả hai nghĩa:
a/ Nhân quả đồng thời. Không trò, thì thầy thầy nghiệp.  Không chỉ có như vậy, không trò thì làm gì có thầy. Vậy trò là nhân, thầy là quả.  Thầy trò là nhân quả của nhau: Tương sinh, tương khắc. Hai bên khác biệt, nhưng không có bên nây thì cũng chẳng có bên kia. Trò và thầy, phụ huynh và giáo chức, tôi và động nghiệp của tôi, nói rộng hơn, tôi và môi-trường sống của tôi, khác hẳn mà đồng sinh.
b/ Nhân quả dị thời. Giữa hai bên-thầy trò, tôi và môi trường-có giao lưu qua lại. Bên phát bên thâu. Qua lại thông tin, qua lại ý tình, tác động trên nhau. Bên gieo nhân, bên gặt quả, và như vậy trong một chuỗi thời gian. Mỗi thành viên trực nhận mình trong quan hệ sống với những con người cụ thể.
Mỗi bên  ‘tùy duyên' mà ứng xử. Duyên khởi rồi trùng trùng duyên khởi, không ai thắc mắc, không vấn hỏi hay tìm xem: có hay không có cái duyên ban đầu.

***

Duyên thầy trò, ngẫu nhiên, nhưng đặc tính là một chuỗi dị biệt, đa dạng, có thuận có nghịch. Nghịch duyên là thường tình.  Đó là những  mâu thuẫn , va chạn, xung đột. Tình huống có thể  do:
1. Người-thầy kinh nghiệm, từng trải, và trách nhiệm-trách nhiệm về kỷ cương và an sinh lớp học, về kết quả dạy dỗ[16]Thầy chủ động. Học trò phải gìn giữ kỷ cương, học và làm bài vở mà thầy cho làm ở lớp hoặc ở nhà. Nhiệm vụ của trò là: ‘học, vấn, tư, biện, hành' quanh cái dạy của thầy. Trò  bị động..   Chủ động và bị động, hai bên như hai đối cực, như chọi nhau.
2. Thầy: già hơn[17] và cũng già dặn hơn; trò: trẻ thơ, lắm khi thơ ngây, trong sáng.  Đối kháng nhau ở tuổi tác và kinh nghiệm, đối kháng nhau ở trình độ, ở vị thế, ở trách nhiệm và ở chỗ hai con đường -dạy và học-nghịch chiều nhau, nên có nhiều duyên cho sự  ngộ nhận, mâu thuẫn , và có khi sinh  sóng gió.
Thêm vào đó, truyền thống ‘tôn sư Trọng đạo', ‘thương cho roi cho vọt' có thể dẫn đến sự bạo hành trẻ con.
Trong cái nhìn tốt nhất về duyên thầy trò, vẫn có hai khả năng tiêu cực đáng ghi:
a/ Thầy càng giỏi, và có một cuộc sống gương mẫu, trò càng tin, thì những giá trị truyền đạt có thể nhập tâm và có thể  trở thành một tháp ngà, giam hảm trò, mà trò không hay biết. Có nguy cơ là trò tự mãn trong đền vàng điện ngọc nầy của những giá trị minh triết, hay kiến thức khoa học hiện đại,...., chắc như bắp rang;  và theo đó, tâm thức không mở rộng để đón nhận cái  sinh khí luôn đổi mới của giòng đời.
b/ Thầy, quen thuộc và an toàn trên xa lộ một chiều- luôn nói đúng, truyền đạt những điều đúng,.. tất tất điều.. đúng, và học trò mình luôn(?).. ‘ vâng lời, nương tựa, phục tùng'[18], thì thầy cũng có thể chết trong tự mãn, tự kiêu.
 Ở Miền Nam, nước Pháp, có câu dân gian: ‘Đừng bao giờ cưới một cô giáo tiểu học.'[19] Có thể là vì cô-giáo quen nói đúng, làm đúng, nghĩ đúng, cô không khi nào sai. Thế thì cô là thánh. Thánh mẫu thì phải thờ, chớ không thể là vợ hay bạn. Cũng nên ghi thêm: dầu có câu nói như vậy, các cô giáo Miền Nam nước Pháp, thời bấy giờ, vẫn đắc như tôm tươi.
Nói chung, trong cái an ổn nhất-thầy và trò hài lòng nhất về kết quả cái dạy (của thầy) và cái học (của trò) -thầy và trò vẫn có nguy cơ mất mình trong tự mãn của sự thành đạt.
3.  Mâu thuẫn và.. xung đột nội tại:
Dạy là cho nó, vì nó, bởi nó. Là giúp nó hình thành một nhân cách, hướng dẫn nó hội nhập vào nếp sống của môi trường.  Nói là như vậy, nhưng mỗi người-thầy-dầu là văn, sử, toán, lý, khoa học, .. hay chi chi khác, đều có một chương trình, một nội dung phải hoàn thành cuối niên khóa; bước vào lớp thì  đã sẵn sàng một ‘giáo án'-dự án về diễn trình nội dung mà phải hoàn tất trong buổi học.
Nhìn chung, nói là đào tạo con người, hay trang bị cho tuổi trẻ một hành trang nhập cuộc, nhưng thực sự là dạy kiến thức, và trong một giới hạn nào đó, là nhồi nhét kiến thức, tập luyện trẻ con tích lũy kiến thức, mà thực chất là cổ điển-xưa, cũ, nhưng là ‘khuôn vàng thước ngọc' để đi thi, đỗ đạt hay chỉ để đạt ‘thành tích.'
‘Khuôn vàng thước ngọc', cái bền vững, bất động, bất biến, là đặc tính của một cái gì đó ‘trơ', xơ cứng, ... của cái chết.
 Họ bảo nhau:
Mỗi thầy giáo, cô giáo, ở bất cứ một bộ môn nào-Văn, Sử, Địa, Công-Dân, Kinh-Tế-Gia-Đình, Toán, Khoa-Học, Thể-Dục,..-phải là một nhà giáo dục.
Mỗi thầy giáo, cô giáo, ở bất cứ một bộ môn nào-Văn, Sử, Địa, Công-Dân, Kinh-Tế-Gia-Đình, Toán, Khoa-Học, Thể-Dục,..-phải là một nhà giáo dục.
Và cũng nói với nhau:
Dạy là lấy kiến thức làm phương tiện để đào luyện con người. Cứu cánh của giáo dục, không là kiến thức mà là : con người.
Và,
hằng ngày, họ bị chi phối giữa: phương tiện-dạy kiến thức, và cứu cánh- đào tạo con người. Kiến thức: Rõ ràng cụ thể, có chương trình, có những qui định hẳn hoi.  Con người: Hoặc trừu tượng, của muôn nơi muôn thuở; nói chung, tính người, tình người. Hoặc ít nhiều cụ thể, như con người trung hiếu trong cái trật tự quân-sư-phụ của Khổng Gia, hay gần đây, con người xã-hội-chủ-nghĩa, để rồi cái dạy thực chất là một sự nhồi sọ, đóng khung, có tổ chức và có bài bản.
Có một thời, khoảng 1945-50, ở  một trường của các sư huynh Taberd, ở Miền Nam Viêt Nam, môn giáo lý-catechism- thì hệ số 6, mà toán lý hay chi chi khác thì hệ số 2.
Ở Việt Nam, ngày nay thời xã-nghĩa, Triết Mác-Lênin là ưu tiên hàng đầu vì ‘muốn xây dựng xã nghĩa, phải có con người xã nghĩa.' Ngày nay, muốn có bằng danh dự, hay tiên tiến, hay chiến sĩ  thi đua, phải thuộc giáo lý, rành ‘sáu câu' triết Mac-Lê.

Trong thực tế,

Có lắm người-thầy dạy kiến thức vì kiến thức, có những trung tâm luyện thi đủ loại. 
Vì rằng: nhiệm vụ của họ đã cụ thể qui định  là hoàn thành một chương trình, chuyển đạt kiến thức mà đánh giá cuối cùng là thi cử, bằng cấp, học vị,... mở cho người học con đường ... ‘ngựa anh đi trước, võng nàng theo sau', .. hoặc ‘chồng quan sang, vợ hầu đẹp'...hoặc ‘phải có danh gì với núi sông' , hoặc chi chi khác, đại lọai là một cuộc sống ít nhiều ổn định, giàu danh, giàu đặt lợi, đặt quyền. Yếu tố con người bị quên đi.
Học mà đội sổ, mà ở lại lớp, hoặc thi rớt là học dỡ: điểm số, hạng thứ, bằng khen, bằng danh dự, bằng cấp,.thông  thường là động cơ của học sinh.  Dạy mà tương đối nhiều trò thi rớt là dạy dỡ. Dạy dỡ thì mất mặt, cũng có khả năng gặp những phiền toái nhất định. Không ai chịu cho mình cứ bám ở đó mà dạy dỡ, và chính mình cũng không muốn cái tiếng tăm dạy dỡ. Thế nên, dạy kiến thức là chính, thậm chí còn dạy ‘mánh', dạy ‘tủ', chọn cái chánh, bỏ cái phụ,..., dạy cả những kỹ xảo thi cử.
Hồi tôi ở Trung Học, năm chót, lớp Toán[20], ở Hyères [21], một giáo sư cho biết trong Hội Đồng Thi, Viện Đại Học Marseille, giám khảo mà cho điểm 0, zero, thì phải làm một biên bản nhò cho biết lý do; không ai muốn mất công phải làm biên bản, mà quá nhiểu biên bản thì mang tiếng là khắc khe. Thế nên, thường thường, thay vì cho zero, thì cho ¼ điểm. Thế là tôi bỏ không học vạn vật, vì ở  Ban Toán, vạn vật chỉ có thi vấn đáp với hệ số là 1. Tôi nghĩ cái vạn vật mà tôi học thời Trung Học Đệ Nhất Cấp, đủ cho tôi thừa sức qua cầu. Thi cử, điểm số vẫn là động cơ quan trọng hàng đầu cho học sinh, trong những bối cảnh cụ thể.
Nói chung có sức ép của quyền lực, tổ chức, dư luận, và  tập quán,..., của cuộc sống hằng ngày ‘buộc' thiện tâm thiện ý phải nhượng bước cho thực tiển hàng ngày:
Khi còn cha mẹ-- già yếu, bệnh hoạn, cần chăm sóc, khi còn con cái -nheo nhóc, thơ dại, thì còn cần cái tối thiểu để "yên  thân'; khi mọi gia đình vẫn nhìn sự đỗ đạt là bước tiến thân của con cái-và họ có lý do vũng chắc; khi nghĩ khác, làm khác là phản vua, phản chúa, phản động hay thuộc thành phần xét lại,...và  không biết bao nhiêu đe dọa, sức ép, và lý do khác-số mạng, nghiệp-quả,...-- để người-thầy thỏa hiệp với Satan:  chọn cái dễ. 
Thôi thì, thầy trò an ổn chạy theo điểm số, thi cử--sự đánh giá ‘khách quan' của kết quả học vấn. Kết quả: điểm số, thi đua, tiên tiến, bằng khen, bằng danh dự, bằng cấp, vấn chiếm ưu tiên hàng ngày.
4.  Cái chung và cái riêng.
 Duyên thầy trò thường là một niên khóa, gặp nhau không quá 180 ngày[22]; ở Tiểu học không quá 25 giờ/ tuần, ở Trung học, tối đa 5 giờ/ tuần. Lớp học tối thiểu trung bình là 30 trò. Mỗi tiết học trung bình 50 phút.  Trừ thời giờ chết-ổn định lớp học trò lên bảng, trở về, bôi bảng, .., còn 45 phút, dành cho giảng bài, hỏi bài, kiểm tra,.., chia cho 30 trò thì mỗi trò chỉ được 1 phút rưởi. Thoáng một cái là hết niên học. 

Nhưng mỗi người-thầy là một thế giới, mỗi bộ môn là một nhóm văn hóa riêng, có những thói quen, thuật ngữ, một cái nhìn đặc thù. Thế nên, giữa các nhóm, dầu có giao lưu, có ngầm thỏa hiệp là phải học lẫn nhau, cùng ‘nhất trí' ở những biện pháp, ‘thích ứng' với các bối cảnh dị biệt, thực chất là rời rạc, tạo  nghịch duyên, thêm thách đố cho người- thầy.
 Duyên thầy trò thường là một niên khóa, gặp nhau không quá 180 ngày[22]; ở Tiểu học không quá 25 giờ/ tuần, ở Trung học, tối đa 5 giờ/ tuần. Lớp học tối thiểu trung bình là 30 trò. Mỗi tiết học trung bình 50 phút.  Trừ thời giờ chết-ổn định lớp học trò lên bảng, trở về, bôi bảng, .., còn 45 phút, dành cho giảng bài, hỏi bài, kiểm tra,.., chia cho 30 trò thì mỗi trò chỉ được 1 phút rưởi. Thoáng một cái là hết niên học.
Thế nên, công việc của thầy cô là công-việc-đồng-đội-teamwork -mà  điểm  chung là phải chọn: hoặc Giáo dục hoặc kiến-thức và thi-cử.


Tóm lại, trong nội dung của cái dạy, trong nội tâm của người-thầy, trong quan hệ thầy trò, trong những nếp văn hóa dị biệt,.. trong sự chi phối giữa phương tiện và cứu cánh-- tích lũy kiến thức, học cho thi cử, bằng cấp, học vị hay học làm người- trong cái nhìn đa dạng đa sắc thái nầy, làm thầy cô giáo là nghiệp-duyên, là nhân-quả... Trùng trùng duyên-nghiệp, nhân-quả, quá-nhân.
Thế nên, nghe, suy tư, phân tích, tổng hợp vấn hỏi, và trực nghiệm -hỏi môi trường, hỏi tự thân, hỏi về thân phận, và thử nghiệm, để rồi không mấy khi, tìm ra  một lời giải  thỏa đáng. Người-thầy cảm nhận: Bản chất cuộc sống là dang dở. Dang dở vì nó vốn bất toàn, vốn khiếm khuyết, luôn thiếu một cái gì đó, buộc con người phải tìm cách làm tròn đầy, và như thế mãi.  Cho nên, sống là vấn đề, làm ‘thầy' là vấn đề.  Người tu Phật, nhìn cái bất toàn là duyên cho vô minh, nguồn của khổ hãi. Người-thầy hiểu bất toàn là đặc tánh của cuộc đời, khiếm khuyết là tự nhiên, vô mình là nguồn vô tận cho khám phá. Bên cái logic có cái illogic. Lý luận thì theo đường tuyến tính-linear[23]; phi lý luận thì... vô cùng phức tạp. Sống là sống với cả hai.  Logic và không logic; nói cách khác là , lý và tình. Thế nên, luôn có vấn đề. Phải vui với những vấn đề khác biệt, dù rằng không phải vấn đề nào cũng dễ nuốt trôi. Đó là cái NGHIỆP làm thầy. Nếu có nhìn ‘VĂN, TƯ, TU' trong ánh sáng của Đạo, thì càng phải  thấy trong cái NHIỆP. Ngụp lặn trong biển động của mâu thuẩn, dị biệt, đối kháng, trong bể khổ-lạc của vô thường, của đổi thay nghiệp quả, là thực tiển hình thành người-thầy, với chữ người đậm nét, và chữ thầy thật..nhỏ.


Houston, Texas, 12/13/2015


[1] Nghe, suy tư và tu tập, từ vay mượn của Phật gia
[2] thí dụ giáo lý làm người,
[3] Từ của Phật Gia. Tam Thân:   Pháp thân (zh. 法身, sa. dharmakāya), là thể tính thật sự của Phật, đồng nghĩa với Chân như, là thể của vũ trụ. Báo thân (zh. 報身, sa. saṃbhogakāya), cũng được dịch là Thụ dụng thân (zh. 受用身), "thân của sự thụ hưởng công đức". Ứng thân (zh. 應身, sa. nirmāṇakāya), cũng được gọi là Ứng hoá thân hoặc Hoá thân, là thân Phật và Bồ Tát hiện diện trên Trái Đất. Nguồn: Wikipedia.
[4] Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con, và Đức Chúa Thánh Thần.
[5] Từ mượn trong Kinh Thánh. Ba Ngôi: Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con, Đức Chúa Thánh Thần.
[6] Hán Việt Từ Điển Trích dẫn tổng họp., Internet
[7] Tựa một bài dịch cũa Ni Sư Trí Hãi, tử một truyện trong The Glass Bead Game;của Herman Hess.
[8] Từ của Phật gia.
[9] Từ của Phậ gia.
[10] O^n Như Hấu Nguyễn Gia Thiều. Cung Oán ngâm Khúc: ‘Bức tranh vân cẩu vẽ người tang thương.'
[11] Từ của Phật gia.
[12] ""Whoever wants to be my disciple must deny themselves and take up their cross and follow me. 25 For whoever wants to save their life[a] will lose it, but whoever loses their life for me will find it. 26 What good will it be for someone to gain the whole world, yet forfeit their soul? Or what can anyone give in exchange for their soul?" Mathew 16: 24-27. Marc: 8: 34-91.
[13] Tứ niệm xứ.
[14] Mạnh Tử.
[15] Huyền Giác.  Chúng Đạo Ca. Bất trừ vọng tưởng, bất cầu chân. Trúc Thiên dịch: Không trừ vọng tưởng, chẳng cầu chân. Nguồn: Inernet. Vĩnh Gia Chúng Đạo Ca.
[16] Rõ ràng nhất là ở các lớp mà cuối niên học có thi tốt nghiệp.
[17] ở tuổi tác.
[18] Vay mượn của nhà Phật.
[19] Ne te marries jamais une institutrice
[20] Lúc bấy giờ, chỉ có ba ban: Triết, Khoa học thực nghiệm (Vạn Vật) và Toán.
[21] Một thành phố nhỏ, ven biển Địa Trung Hãi. Pháp.
[22] In the USA, the average teacher:
School year = 180 days
14 Holidays/year= -14
5 personal days/year= -5
7 Sick days/year- -7
? Vacation days/year= ? *
Total days worked 154 Days/ year
*I have heard rumors teachers get vacation time as well but not confirmed
Work day is 7 hours including a 1/2 hour PAID lunch and one hour FREE period/day
Nguồn: Internet: www.sodahead.com/united-states/how-many-days-per-year-does-a-teacher-work/que

[23] Thí dụ: Theo kinh Duyên khởi, mười hai nhân duyên cụ thể như sau:1. Vô minh  sự không thấu hiểu Tứ diệu đế, không hiểu Khổ là tính chất căn bản của đời sống. 2. Vô minh sinh Hành hành động tạo nghiệp. Hành động này có thể tốt, xấu hay trung tính. Hành có thể ở trong ba dạng: thân, khẩu và ý. 3. Hành sinh Thức làm nền tảng cho một đời sống tới. Thức này đi vào bụng mẹ. Thức lựa chọn cha mẹ đúng như Hành tốt xấu quy định. 4. Thức sinh Danh sắc, là toàn bộ tâm lí và vật lí của bào thai mới, do Ngũ uẩn  tạo thành. 5. Danh sắc sinh Lục căn, là các giác quan, sáu căn (năm giác quan và khả năng suy nghĩ là sáu). 6. Lục căn bắt đầu tiếp xúc với bên ngoài gọi là Xúc Xúc sinh Thụ, là cảm nhận của con người mới với thế giới bên ngoài. 7. Thụ sinh Ái, tham ái, lòng ham muốn xuất phát từ vô minh. 8. Ái sinh Thủ là điều cá nhân mới muốn chiếm lấy cho mình. 9. Thủ dẫn đến Hữu, là toàn bộ những gì ta gọi là tồn tại, sự sống, thế giới. 10. Hữu dẫn đến Sinh, một thế giới và cá nhân mới xuất hiện hẳn hoi. 11. Sinh sinh ra Lão tử, vì có Sinh nên có hoại diệt. 

 

 

         MỘT VÀI LỄ NGHI TRONG LỚP HỌC           

                                                                        Nguyễn văn Trường

 ______________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________

1.CHIÊU HỒN LỄ: cái lễ đầu giờ, ngắn ngủi nhưng cần thiết.

...vì tự trọng, vì cảm thông nỗi khó khăn của các đồng nghiệp có thể bị quấy rầy, vì quí trọng con người mai hậu trong đứa trẻ, vì muốn dưỡng nuôi linh hồn của lớp học... biết bao lý do để ta khẳng định rằng, giáo chức chỉ có một tự do trong việc nầy là: đúng giờ, đúng hẹn. 

2.LỄ NGHI CUỐI GIỜ

....ông giáo đến đúng hẹn, đi đúng giờ và nếu những lễ nghi đầu giờ nhằm tạo một không khí thích hợp cho việc học thì những lễ nghi cuối giờ nhằm chuẩn bị cho lúc thầy cô vắng mặt, để hình ảnh của lớp học còn như đâu đó, để những lời dặn, những ghi chép sau cùng còn rõ ràng, minh bạch, để sự hiện diện của thầy cô bên đứa trẻ gần như toàn diện.

______________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________ 

 

"Tiên học Lễ, Hậu học Văn".  Đó là câu châm ngôn vở lòng ở các trường Tiểu Học.  "Gọi dạ, bảo vâng", gặp người lớn tuổi, biết cung kính; gặp kẻ khó, biết giúp đỡ tận tình,..phải học cách ăn nói, đi đứng, cư xử... trước đã. Nhưng theo thời gian, lần lần người ta không nói đến Lễ nữa. Bắt đầu từ lớp Sáu, Lễ hầu như chỉ cón là một dư âm, nhường chỗ lại cho Văn Chương, Khoa học.  Trong thời đại của Khoa học và Kỹ thuật, cái dạy phải hướng về các Khoa học căn bản và nhân văn là hẳn nhiên rồi.  Vả lại, trong thời gạo châu củi quế nầy, chạy vắt giò lên cổ mới đủ ăn là may, nói chi là những hình thức bên ngoài, đôi khi trói buộc, đôi khi làm con người khô cằn, làm xã hội cô đọng, không phát triển.  Thế nhưng, lớp học có lắm nghi thức và hôm nay tôi phải bàn về những nghi thức ấy. Thật khó thay!

1. CHIÊU HỒN LỄ.

Nghi thức đầu tiên của lớp học có lẽ là: đến lớp học đúng giờ.

Giờ học là buổi hẹn của những người trách nhiệm, trách nhiệm đóng góp một phần của mình vào cuộc sống chung để xây dựng linh hồn của lớp học. Học sinh trễ học, gặp lắm chuyện bực mình: xin giấy vào lớp, có khi bị hạch hỏi đủ điều, có khi bị cảnh cáo, lần sau.. phải có đơn xin của cha mẹ..  Ông thầy trễ hẹn thì...cũng không có gì bực mình cả, vì không mấy khi được ai hỏi đến: Ông giám học, ông hiệu trưởng, thường thì công vụ đa đoan, nên cũng có khi.... đi trễ về sớm .  Thôi thì việc ai nấy lo, miễn là phụ huynh không thưa, không kiện là được. Đa số phụ huynh hoặc thông cảm cái cảnh thanh bần cũng như những đa đoan của giáo chức, hoặc không muốn đụng chạm: con học gần nhà, ít tốn kém, thế là phước rồi, rắc rối làm chi!

Cho nên, có ông giáo, bà giáo đã dành cho mình cái tự do đến trễ, về sớm.  Trễ vài phút, sớm vài phút, không hại gì ai; có khi nhờ đó mà cái kiếp thầy giáo lại dễ chịu hơn: dễ chịu cho thầy và cũng thích cho trò, vì trong những lúc ‘nhà vắng chủ' ấy, mặc sức ta thi nhau phá quấy. Một đồng nghiệp của tôi (nguyên là giáo sinh Trường Sư Pham chúng tôi) kể rằng ở một trường nọ, giáo sư đến lớp trễ năm ba phút là thường và mỗi ai rời phòng giáo sư ngay khi chuông reo vào lớp đều bị vài đồng nghiệp nhìn dưới những đôi mắt khó chịu hay trách cứ. Trong xứ tự do, cái tự do nầy của giáo chức thật cùng tột!

Tuy nhiên, cái chế độ tự do ấy đã chia giáo chức thành hai hạng: hạng nhất, đến trễ về sớm; hạng nhì, luôn đúng hẹn, đúng giờ và chịu hậu quả khó chịu của những ‘trễ-sớm' của hạng nhất. Một nước mà có hai loại công dân: loại một, nhiều đặc ân, ít trách nhiệm; loại hai, nhiều việc, ít quyền, và chịu hậu quả của những khôn lanh của loại trước, là một nước sắp tan hay sắp loạn. Một lớp học mà có hai loại thầy dị biệt như trên chỉ có thể là một môi trường phân hóa: đó là một lớp bệnh hoạn: Hồn của lớp đang chuẩn bị lìa khỏi xác.

Hơn nữa thầy trò cốt ở tình.  Như mọi thứ tình, tình sư đệ phải được đặt trên sự mến trọng lẫn nhau.  Chúng quí tôi; hẳn nhiên rồi vì tôi là thầy của chúng, vì với tâm hồn trong sáng và ngây thơ của chúng, chúng đến tôi với sẵn cái lòng kính trọng bên trong.  Đáp lại, tôi cũng quí chúng, vì chính chúng đã dạy tôi làm thầy giáo, vì với chúng tôi xây dựng sự nghiệp của tôi. Tôi mến chúng vì chúng là hoài vọng của tôi: cái vốn của tôi là ‘thầy giáo' và trong trường hợp tốt đẹp nhất thì "một ông giáo giỏi" là cái trở thành cùng tột của tôi; còn chúng hiện tại chỉ biết ăn tiêu, vô tích sự; hiện là cái lo âu, phiền toái cho mọi người; còn tương lai chúng chưa định và chính vì yếu tố chưa định nầy, chúng đã thành niềm hi vọng thiết tha nhất của mọi người. Chúng thuộc tương lai, còn tôi thì đang chuẩn bị qua dĩ vãng. Chúng vượt qua thế hệ của tôi, đó là phước lớn của nước nhà, là cái may chung cho nhân loại.

Tôi đúng hẹn, đúng giờ vì mến cái tình chúng dành cho tôi và cũng vì những hoài vọng mà tôi đặt nơi chúng.

Tôi có dịp hướng dẫn một số giáo sinh thực tập tại các trường ở Đô Thành. Chúng tôi đến lớp đúng giờ, nhưng đôi khi, ở lớp kế bên, thầy chưa có mặt. Ông thầy trễ hẹn.  Thật ra, ông còn bận hàn huyên ở phòng giáo sư, chưa đến kịp hoặc còn đang trên đường đến lớp, với bước chân nặng nhọc của con người nhiều năm trong nghề, hoặc ông còn đang vui vẻ đấu láo với thầy giám thị ngoài hành lang. Theo đó, lớp ông đã biến thành cái chợ, kẻ hét, người la, kẻ đập bàn, người khua ghế, thật đủ trò (có một phần vì học sinh của ông biết có khách ở lớp  bên cạnh). Không cách chi dạy được với cái ồn ào, hỗn độn đó.  Thật khó chịu và hẳn các lớp của dãy lầu ấy đồng số phận với chúng tôi. Là một nhà giáo, con người ấy đã xem thường lớp học, coi thường đồng nghiệp; như thế, họ đã phủ nhận môi trường sống của họ, và theo đó, họ phủ nhận chính bản thân họ.  Vô tâm đến thế là cùng!

Tóm lại, vì tự trọng, vì cảm thông nỗi khó khăn của các đồng nghiệp có thể bị quấy rầy, vì quí trọng con người mai hậu trong đứa trẻ, vì muốn dưỡng nuôi linh hồn của lớp học... biết bao lý do để ta khẳng định rằng, giáo chức chỉ có một tự do trong việc nầy là: đúng giờ, đúng hẹn.

Đúng hẹn không có nghĩa là hấp tấp, vội vã, hay trịnh trọng đến trước giờ, để đợi. Đúng hẹn, ông giáo đến lớp học với trang nghiêm, tề chỉnh, chứng tỏ ông đã sẵn sàng.  Vậy ông không đến với quần áo xốc xếch, dép đi lẹp xẹp, tóc rối bùi nhùi, trong một trạng thái buông trôi, thả lỏng. Đó là nghi lễ thứ hai của lớp học.

Nghe tôi nói, một anh bạn cố tri của tôi hỏi: "Lúc anh còn ở Huế, hình như mỗi ngày anh đến trường với áo bỏ ra ngoài, dép đi lẹp xẹp và lúc ấy, hơn cả thầy giáo, anh giữ trách nhiệm học vụ của một trường đào tạo thầy giáo. Trong mấy năm liền, chẳng ai nói gì anh cả, anh nghĩ sao?".  Tôi đáp: "Cũng ở Huế, lúc Tết Mậu Thân, có một chàng trai đi dưới lằn đạn, suốt con đường dài ngang Bến Vân Lâu mà không sao cả. Hỏi ra: anh ta điếc. Có lần tôi mang "bệnh" điếc, tôi đi dưới lằn đạn suốt hàng giờ mà không hay biết; nhưng may, không sao cả, anh có muốn thử như tôi không?"

Tôi được nghe: Ở Đài Bắc, trước lớp học, có một gương soi khá lớn để giáo chức soi mình trước khi vào lớp. Tôi bỗng nhớ đến câu chuyện hi hữu sau đây: Lúc còn đi học, tôi có dịp làm giám thị trong một trường trung học ở Pháp. Một buổi sáng nọ, một giáo sư trẻ vào điểm tâm với chúng tôi, hấp tấp, vội vàng, mang một vết son nơi cổ áo.  Thế là anh đã trở thành trọng tâm của những mẫu chuyện tếu của phòng ăn hôm ấy. Sau cùng, anh phải nhờ chúng tôi xin phép cho anh nghỉ giờ đầu.  Ở Pháp không có gương trước mỗi lớp học như ở Đài Bắc; dầu có đi nữa, phỏng anh có nhớ soi trước khi vào lớp học của anh? Không bữa điểm tâm ấy, có thể anh đã phơi bày những chuyện tình lặt vặt riêng tư của anh cho bọn trẻ, có thể anh đã biến thành đề tài của những chuyện vui của chúng trong ngày: cái uy tín cần thiết cho mọi giáo chức đã tan biến nơi anh.

Không buông thả, nhà giáo cũng không trang sức lố lăng, lập dị.  Các thầy không nên để tóc "hippy", mặc quần áo vượt thời trang... vào lớp học. Các cô không nên đi dạy với mini-jupe, quần ống voi, áo quá hở hang, như vừa chưng bày, vừa che đậy. Mặc áo tràng, tay lần chuỗi hạt, không hẳn đã là bậc chân tu. Biết vậy, nhưng khi hành Thánh lễ tại Thánh Đường, thì chân hay giả, trong bối cảnh bình thường, tối thiểu vị linh mục phải có một phục sức trang nghiêm.

Sách Lễ Ký, thiên Đàn Cung Hạ có chép: "Ở chỗ mồ mả, chưa dạy dân phải thương mà tự nhiên dân có lòng thương; ở chỗ xã tắc tông miếu, chưa dạy dân phải kính mà dân tự nhiên có lòng kính". Cụ Trần Trọng Kim chú giải: "Ở chỗ mồ mả thì có cái không khí bi ai, ở chỗ tông miếu thì có cái không khí tôn kính; ai đã hô hấp được cái không khí ấy thì  tự hòa theo mà không biết...."[1]

Cũng  tương tự, tôi muốn lớp học tôi có một không khí trang nghiêm mà không khe khắt, cởi mở mà không phóng túng buông lơi, khả dĩ lôi cuốn được trẻ con vào sự tìm tòi học hỏi.

Chuông vừa reo, học sinh phải bỏ cuộc chơi, đến ngay nơi hẹn, lắm khi vội vã: áo quần xốc xếch, mình đẫm mồ hôi. Dấu vết của cuộc chơi còn trên khuôn mặt của chúng, trong nhịp thở không đều của chúng. Đứng trước mặt tôi, đa số chúng còn gởi hồn ở sân chơi. Trong vài phút nữa đây, chúng phải học, hoạt động của chúng bị giới hạn, vì tối đa là chúng được hỏi, được đối đáp; và trong cái đối đáp, có khi cũng dè dặt, suy tư. Dầu không khí có cởi mở, cái học vẫn khô khan, lớp học vẫn không hấp dẫn bằng sân chơi mà chúng được tự do chạy nhảy, gào thét. Tôi phải kéo chúng ra khỏi sân chơi, chuyển chúng về cho lớp học. Cho nên, phải buộc chúng sắp hàng nghiêm chỉnh; đôi khi còn bảo một trò cài lại một nút áo bỏ hở hay lau lại mồ hôi trên mặt....

Giờ thì thầy trò đã chỉnh tề, yên lặng. Tôi mời và trông chúng vào lớp. Tôi vào lớp sau cùng. Trên bục, tôi nhìn chúng như chờ đợi.  Khi dứt tiếng khua bàn ghế, khi cả lớp vừa yên lặng, tôi mời chúng ngồi. Đó là nghi cách chào hỏi hằng ngày của thầy trò tôi. Thật lắm chuyện, nhưng chỉ một hồi chuông, chỉ một phương thức sắp hàng nghiêm chỉnh trong một giây, có tài thánh tôi cũng không chiêu hồn về cho lớp học. Cho nên, phải theo dõi, quan sát, giữ yên lặng cho đến lúc tất cả cùng ngồi.

Có trường tổ chức cho học sinh tự xếp hàng vào lớp và khi giáo sư vừa đến thì với một tiếng "nghiêm" rất nhà binh, lớp học chào trọng lệnh. Tôi vốn không thích binh nghiệp, vì đó là hình ảnh của giết chóc, của nghèo đói và là cái ngu xuẩn điên rồ nhất của loài người.  Nhưng tiếng "nghiêm" lạnh người của anh trưởng lớp, hình như chỉ có lợi cho tôi trong việc tạo một không khí trang nghiêm học tập.

Tôi có thể lợi dụng một hai phút vào lớp ấy, để nhận ra những phần tử mà hồn còn vơ vẩn nơi sân chơi (để khi có dịp, săn sóc một cách thích đáng) và ước định một thái độ nhất thời cho lớp học hôm nay: nghiêm khắc, hiền hòa, cởi mở.... Hôm nay chúng có vẻ hiếu động, đa số muốn làm việc bằng tay chân hơn trí não, có lẽ phải thử một thái độ lạnh nhạt hay khắt khe?  Trái lại nếu chúng tỏ ra nhu mì, trầm lặng, có lẽ nên cởi mở hơn; bằng không, chúng sẽ rút vào cái vỏ khô khan của nhút nhát, e sợ.... Tôi phải kiểm nghiệm những dự đoán của mình và mỗi giờ dạy của tôi có thể tóm lược thành một chuỗi dài dự đoán, kiểm nghiệm, kết luận kế tiếp.

Bây giờ, có lẽ chỉ còn một nghi lễ cuối cùng để thật sự bước sang việc dạy: kiểm soát hiện diện.

Có một luật lệ hành chánh buộc giáo chức phải đúng giờ, nhưng vẫn có nhiều ông giáo không đúng giờ. Điều nầy không thiệt gì cho ông cả; chỉ phiền cho người giám thị, phải chờ đợi để chuyển giao học sinh hay phiền cho các lớp học kế cận vì bị ồn.  Nếu chẳng may ông giám thị bỏ đi về (điều nầy cũng có thể xảy ra) và sau đó có một tai nạn (thí dụ học sinh gây gổ nhau rồi lấy viết đâm nhau hay lấn nhau té lầu) thì trách nhiệm vẫn thuộc ông giám thị, ông giáo cũng không thiệt gì. Nhưng nếu đứa trẻ trốn giờ học ông và sau đó gặp một tai nạn mà ông không hay biết, trách nhiệm hẳn thuộc về ông. Sau đây là một thí dụ nghe đâu có thật:

"Một nữ sinh của một trường tại Đô Thành, đã thi đỗ Tú Tài II.  Kỳ thi nầy lại có chuyện thưa gởi; có người thưa rằng em không thi thể dục mà vẫn có 18 điểm thể dục. Theo hồ sơ, em thi thể dục tại Bình Dương.  Nhà trường lại xác nhận ngày thi ấy em có mặt tại lớp học, tại Đô thành.  Thế thì cùng một lúc em ấy có mặt ở hai nơi?  Tôi không rõ những gì xảy ra kế đó. Tôi chỉ ghi: nếu các giáo sư hôm ấy ghi nhầm hiện diện thì cả một oan uổng và rủi ro cho em ấy."

Thế nhưng, việc kiểm soát hiện diện thường được giao cho trưởng lớp và ít khi được nghiêm chỉnh thi hành. Đành rằng ta muốn tập học sinh tự điều khiển, tự tổ chức, tự kiểm soát và thi hành một số kỷ luật chung, muốn chúng nhờ đó mà ý thức được trách nhiệm của chúng trong cộng đồng; nhưng thực sự thì cái ý muốn tốt đẹp ấy không trùng nghĩa với "chuyển giao trách nhiệm" hay "làm nhẹ gánh cho ta". Có người trái lại, quá chu đáo điểm danh mỗi giờ dạy.  Như thế phải mất thêm đôi ba phút; đó là những phút chết, không lợi gì cho trò và cho thầy, ngoài cái việc thi hành đúng mức một nhiệm vụ hành chánh, khô khan, vô vị.

Thiết tưởng, dạy là giáo dục. Đã nhiều lần chúng ta khẳng định: mỗi thầy giáo, cô giáo, bất kỳ thuộc bộ môn nào, phải là một nhà giáo dục...Giáo dục cũng không đồng nghĩa với dạy chữ, bán kiến thức, một thứ kiến thức lắm khi cằn cỗi, ngu người. Với chúng ta, giáo dục là "nhuộm mây, nẩy trăng", vẽ mây chỉ vì trăng, là dùng kiến thức để đạt đến con người. Muốn thế, phải hiểu biết trẻ, không chỉ dưới hình thức một lớp học nhất tâm, nhất trí-mà tôi mạo muội gọi là môt lớp học có hồn-mà phải biết gần như từng cá nhơn một.  Cho nên nhìn qua lớp học, tối thiểu tôi phải biết những ai vắng mặt.
Không phải tôi quá quan tâm về những luật lệ hành chánh, hay về những rủi ro trăm năm mới có một lần. Tôi cũng hiểu, trong thời nhiễu loạn nầy, mạng người lắm khi còn rẻ, thì cái lỗi của ông thầy giáo cũng dễ được khoan dung. Nhưng đây thuộc nguyên tắc: tôi không thể nói giáo dục một người mà không biết gì về người đó cả; thậm chí, vắng mặt, tôi không biết; có mặt, tôi không hay; và cả cái tên thân yêu của họ, tôi cũng không nhớ nỗi. Vậy, tôi phải biết, và nếu cần, tôi sẽ hỏi thăm về sự vắng mặt: Không phải một thứ hỏi thăm tò mò về đời sống riêng tư của người khác, mà là một sự chăm sóc của thầy dành cho trò.

Thật lắm chuyện, nhưng nào hết, đây chỉ mới là chiêu hồn lễ, cái lễ đầu giờ, ngắn ngủi nhưng cần thiết.

Giờ dạy là một buổi hẹn, như mọi hẹn hò, có lúc phải chia tay. Việc chia tay thầy trò sau giờ học không lâm ly, không như "đưa chàng lòng dặc dặc buồn" hay "cảnh biệt ly sao mà buồn vậy" với khăn lau nước mắt, tay vẫy tay chào....nhưng nó vẫn có những dấu hiệu hẹn ngày tao ngộ. Thế nên phải dành năm ba phút cho cái lễ cuối giờ.

2. Lễ nghi cuối giờ. Tôi có dịp dự nhiều buổi họp của những người lớn, đa sự, đa vụ. Buổi họp thường được chuẩn bị kỹ càng, có chương trình nghị sự, tài liệu đính kèm, gởi cho các họp viên cả tuần lễ trước.  Nhưng người đa sự đa vụ không là người thường, nên có những người khác làm cái việc đọc và suy nghĩ cho họ; hầu hết họ chỉ đọc các tờ trình của những người nầy vài phút trước khi vào họp. Thế nên lắm khi người đa sự, đa vụ, vào buổi họp lại chẳng biết gì, hoặc phải mất mươi lăm phút, mới rõ những yếu điểm của những vấn đề nghị sự.

Ông giáo không là người lớn, trong cái nghĩa: ông có một địa vị xã hội khiêm tốn và  cũng không đa sự, đa vụ. Hơn nữa, đối tượng của ông là con nít. Họp với con nít, hẳn phải khác với người lớn.  Người lớn thường nhiều quyền nên có thể họp bàn những chuyện trọng đại để...không làm. Con nít, thật thà, thơ dại, nên ít biết nói để không làm. Ông giáo cũng không muốn trẻ con mình trở thành những thứ đa ngôn hành thiểu.  Cho nên ông không hẹn trổng, hẹn bông lông, hẹn gặp nhau hẳn hay; ông phải chuẩn bị buổi hẹn từ hôm nay, ngay lúc nầy, đang sắp chia tay.

Biên bản buổi họp hôm nay thì đã có rồi; đó là bản toát yếu ghi trong tập các em học sinh, là những điểm, những lời phê, lời ghi nhớ trong sổ của thầy.... Nhưng buổi gặp lại, mai mốt đây, chúng ta sẽ làm gì? Thầy sẽ bảo: "Các con, lấy sổ đầu bài và ghi: ngày... tháng.. giờ... bài học...bài làm...trang số..sách...hay các con xem lại bài...có thể thầy hỏi đến.."

"Sổ đầu bài" là một danh từ cũ mà có người không còn nhớ hay chưa biết. Thường mỗi lớp có một Sổ Đầu Bài dành cho giáo sư ghi lại các đầu bài dạy, cho các vị hiệu trưởng, giám học, thanh tra theo dõi công việc hàng ngày của giáo chức. Tùy trường, tùy ban giám đốc, hình thức các Sổ Đầu Bài khác biệt nhau, có sổ chia thành bộ môn, có sổ chia theo giáo sư phụ trách lớp học. Đó lại là một đặc chế khác của người lớn, tôi không dám lạm bàn.

"Sổ đầu bài" mà tôi muốn nói đây thuộc lãnh vực con nít.  Đó là những tập 100 trang, thường được chia thành sáu phần dành cho sáu ngày học trong tuần lễ, để trẻ con tiện ghi công việc hằng ngày của chúng. Đó là một loại ‘agenda' cho trẻ con, rẻ tiền và tiện dụng, để tập trẻ con sử dụng thời gian, và tự tổ chức cuộc sống. Về phương diện nầy, có thể nó không có chỗ trong các lớp 11 và 12 vì đa số học sinh tuổi ấy thường đã biết hoặc có cảm tưởng biết tự tổ chức lấy; nhưng ở các lớp nhỏ thì thật cần thiết.

Hơn nữa, tuy cùng một nhiệm vụ giáo dục, trong thực tế, phụ huynh và giáo chức không mấy khi được biết nhau, giúp đỡ nhau trong gánh nặng chung ấy.  Ngoại trừ những trường hợp ít oi như khen thưởng, cảnh cáo hay đuổi (cho nên, thường phụ huynh được mời đến trường hoặc với niềm vui cao độ, hoặc với thất vọng, lo âu), sự liên lạc gia-đình học-đường được tóm lược qua các thành-tích-biểu, học bạ mỗi lục-cá-nguyệt hay mỗi tháng; sự chung lo thường xuyên gần như không có. Tập sổ-đấu-bài của học sinh là nhịp cầu liên lạc hằng ngày giữa phụ huynh và giáo chức.  Nếu cần, ta thêm những cột ghi điểm, ghi lời phê của thầy cô, lời khen, lời khuyến cáo, những nơi ký khán của phụ huynh... Mỗi tối, phụ huynh chỉ cần xem qua sổ-đầu-bài của con em mình để có một ý niệm khái quát về sự diễn tiến của các cố gắng của chúng ở học đường và rõ được công việc mà chúng phải thực hiện ở nhà cho ngày học hôm sau.

Thuở xưa, tôi có biết ‘sổ-đầu-bài' với danh hiệu là ‘cahier de textes'; hiện nay nó còn có mặt trong một vài trường như Lasan Taberd với tên là ‘sổ bài học và bài làm'.  Tên tuy có khác nhưng vai trò vẫn là một. Tiếc rằng nó vắng bóng trên hầu hết các trường công lập và đa số trường tư thục, để học đường chấm dứt ngay sau giờ học, để sự liên lạc gia đình-học đường đã lỏng lẻo, càng thêm lỏng lẻo.

Chúng đã chép đầu bài học, bài làm, ghi công việc phải thực hiện ở nhà, nhưng mấy khi ta đã yên tâm với bao nhiêu đó, phải chỉ dẫn thêm, mớm hơi nhiệm vụ giao phó, để luôn trong tầm tay của chúng. Thí dụ muốn ngày học cây đậu, mỗi học sinh đều phải mang tới lớp một cây đậu con, phải chỉ dẫn loại đậu, cách gieo, cách chăm sóc, dự đoán từ lúc gieo, và cây đậu phải ở vào cỡ nào để sự quan sát có thể xem là tốt nhất....Thí dụ thầy giáo phải cho một bài toán làm ở nhà, nhưng bài ấy có vẻ hơi khó hoặc thuộc một loại mới hay đòi hỏi một lý luận mà đa số học sinh chưa quen thuộc...thì lắm khi thầy phải chú giải hay đặt thêm câu hỏi dẫn đường... Cái chánh yếu là sao cho đừng quá khó để chúng không chán nản, đừng quá dễ để chúng không xem thường, và chúng chịu khó tìm tòi.

Đứa con đầu lòng phải đi xa; nó được chọn đi học ở tỉnh hay nó phải đi làm ở tận Sài gòn... Cuộc viễn du ấy có thể là cái may vô cùng của đời nó và là cái mong đợi của toàn gia đình. Thế nhưng, người mẹ vẫn lo âu khổ sở; ngoài buổi cơm tối thịnh soạn, những chăm sóc nho nhỏ nhưng chu đáo:  từ chiếc va-li, quần áo xếp kỹ cho đến gói tiền mọn phòng xa.., những dặn dò chi tiết không bao giờ dứt.  Đó là nghi lễ ra đi.  Nghi lễ cuối giờ không khác mấy; có khác là người mẹ hoàn toàn bị động, với hình ảnh một đứa con lúc nào cũng thơ dại, còn nhà giáo thì quyết định theo những ước đoán về mức độ trưởng thành và hiểu biết của học sinh mình.  Thế nên, những tình tiết của nghi lễ cuối giờ chỉ chấm dứt với tiếng chuông ra chơi như những dặn dò của người mẹ chỉ chấm dứt khi xe đã lăn bánh. Vậy, nhà giáo không rời lớp học trước tiếng chuông reo, vì như thế các lớp học kế cận có thể bị ồn, không học được. Nhà giáo cũng không để học sinh mình ngồi đợi chuông vì như thế lớp học quen với thời gian chết. Nhà giáo cũng không kéo dài giờ học sau tiếng chuông reo vì nếu là giờ chơi thì lớp học bị chi phối bởi tiếng nô đùa kế cận; vả lại, giờ chơi cũng lợi ích và cần thiết không kém giờ học.. Trong thực tế, tiếng cười la bên ngoài lấn áp cả lời đối đáp bên trong: không nghe nhau được, không chú ý được, không học được...Nếu là tiếng chuông đổi giờ thì có một lớp học khác đang chờ đợi mình hoặc một đồng nghiệp sắp đến và không một lý do nào để buộc người đồng nghiệp phải chờ đợi ngoài hành lang.  Cho nên, kéo dài giờ học chỉ biện minh được: người dạy chưa trù liệu đúng mức hoặc chưa nắm vững thời gian của lớp học mình.

Tóm lại, ông giáo đến đúng hẹn, đi đúng giờ và nếu những lễ nghi đầu giờ nhằm tạo một không khí thích hợp cho việc học thì những lễ nghi cuối giờ nhằm chuẩn bị cho lúc thầy cô vắng mặt, để hình ảnh của lớp học còn như đâu đó, để những lời dặn, những ghi chép sau cùng còn rõ ràng, minh bạch, để sự hiện diện của thầy cô bên đứa trẻ gần như toàn diện.

Hẳn còn những nghi cách khác cho thầy, cho trò trong suốt giờ học.  Tuy nhiên, giờ học không là một chuỗi dài nghi thức....Những tiểu xảo, những hình thức bên ngoài chỉ có thể là những việc ‘bất-đắc-dĩ', ‘chẳng -đặng-đừng'.
Đức Phật từ bỏ ngai vàng, điện ngọc thì người đời lại xây chùa cao, đền đẹp.  Chúa Ky-Tô sanh ở máng cỏ, một đời khổ cực cho chúng  sanh thì nhiều khu ổ chuột bao quanh những Vương Cung Thánh Đường đồ sộ, nguy nga. Đó là lễ nghi. Nào trầm, hương, đèn đuốc,... bao nhiêu tốn kém để tạo một không khí tôn nghiêm thích hợp cho lòng người mặc niệm, từ bỏ những bản năng, nhu cầu nhỏ nhặt hằng ngày, để hướng về thế giới chân thiện mỹ... Lễ nghi trở nên cần thiết. Nhưng rồi bỗng phát sinh ông từ giữ miếu mà đa số thì lễ nghi rất mực; phải như thế nầy thế nọ, thần mới linh, người cúng mới đông, ông từ mới sống mạnh. Ông giáo cố tạo điều kiện để hướng học trò ông về một phương trời chân thiện mỹ; ông nói đạo làm người, ông không khác những người khai đạo, ông bày lễ nghi, ông giữ lễ nghi...nhưng ông không là hạng ‘từ giữ miếu' nêu trên vì lễ nghi không nhằm cho ông thêm chút xôi thịt hay lợi lộc nào. Cho nên, nếu ta đã lạm bàn về một vài nghi thức trong lớp học, nếu ta nghĩ ‘không lễ lấy gì mà đứng', thì kết luận có thể là những lời sau đây của Đức Phật.

Phật dạy:

"Ớ các tì khưu! Có người kia đi đến một vũng nước rộng thấy mé mình đứng rất nguy hiểm và ghê sợ, còn bên kia thì yên ổn hiền lành.  Muốn sang qua đó thì lại không cầu.  Anh ta bèn nghĩ: ta hãy bẻ cây làm tạm một chiếc bè để đưa ta qua sông.  Sau khi đến mé bên kia rồi, anh ta bèn nghĩ: nhờ chiếc bè nầy mà ta qua được  bên nầy; như vậy, ta phải đội nó trên đầu ta, hoặc vác nó trên vai ta luôn luôn bất cứ đi đâu. Ớ các tì khưu, các anh nghĩ thế nào về việc làm của anh đó! Làm như thế có đối xử đúng với chiếc bè của anh ta không?

--Thưa Thế Tôn, không ạ!

--Vậy thì, người ấy phải đối xử cách nào đó đối với chiếc bè cho phải lẽ? Giờ đây, nhờ chiếc bè để qua được mé bên kia, vậy thì bây giờ ta không còn cần dùng đến nó nữa, hãy để yên nó lại đây bên mé sông, hay buông thả nó trôi tha hồ theo giòng nước mà đừng lưu luyến gì đế nó nữa.  Người ấy nghĩ thế và làm thế, là sáng suốt, là đúng lẽ.

Ớ các tì khưu, giáo lý của Ta cũng chẳng khác nào chiếc bè trên đây: nó dùng để chở Ta qua sông, chớ không phải để mà đội trên đầu, mang trên vai mãi mãi..."[2] Thế nên, có một lần Đức Phật chỉ mặt Trăng mà bảo các đệ tử: "Kia là mặt Trăng? Các con cứ theo ngón tay Ta chỉ thì thấy.  Nhưng nhớ rằng ngón tay Ta không phải là mặt Trăng...cũng như những lời ta giảng về Đạo. Các con có thể theo lời Ta giảng  mà tìm thấy Đạo.  Nhưng nhớ rằng lời giảng của Ta không phải là Đạo."[3]

Một vài nghi thức cho lớp học hẳn không sánh được với giáo lý thâm sâu của Đức Phật.  Tuy nhiên, trong bối cảnh chung của việc học làm thầy giáo, có lẽ phải ghi: Hãy nhìn Trăng, và nhớ rằng ngón tay chỉ Trăng của Đức Phật không phải là Trăng.

 

Trích từ Tạp chí Tư Tưởng-Viện Đại Học Vạn Hạnh tháng 5-1974- Chủ đề: Quốc Tổ Hùng Vương

Hiệu đính: Houston, Tháng 5/2016

Nguyễn Văn Trường
Giảng sư Đ.H.S.P. Saigon

 ____________________________________________________________________________________________________

[1] Trần Trọng Kim, Nho Giáo, quyển thượng, in lần thứ tư, Tân Việt xuất bản.

[2] Thu Giang Nguyễn Duy Cần, Phật Học Tinh Hoa, Khai Trí xuất bản.

[3] Trang Tử, Nam Hoa Kinh, bản dịch của Nhượng Tống, Tân Viêt xuất bản, In lần thứ hai.

 

_______________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________ 

ĐỒNG MÔN NIÊN TRƯỞNG NGUYỄN VĂN TRƯỜNG

Thay mặt Gia Đình PTGĐTĐ Houston chúc Tết

tại Buổi Họp Mặt Tất Niên Ất Mùi & 

đón mừng Năm Mới Bính Thân

ngày 31-1-2016

2/1/2016

Kính thưa quí vị giáo sư,

Kính thứa quí vị quan khách,

Thưa quí anh chị em Cựu Học Sinh hai Trường Phan Thanh Giản và Đoàn thị Điểm Cần Thơ.

Thưa quí vị,

ptghou_jan31_GSTRuongSelf.jpg

Tôi được quí Anh Chị Em trong Ban Tổ Chức ủy nhiệm lên đây để chúc Tết quí thầy cô của chúng tôi , quí vị quan khách và đồng môn cùng thân hữu có mặt hôm nay.

Lời nói đầu tiên của tôi là chân thành cám ơn quí vị đã dành một buổi sáng Chúa Nhật, đẹp trời, nắng ấm, để đến chung vui đón Tết Bính Thân với Anh Chị Em  chúng tôi.

Chúng tôi xin
Quí vị giáo sư,
Quí vị quan khách,
Quí Anh Chị Em đồng môn và thân hữu
 Nhận nơi đây lời chúc

  • Một Tết Nguyên Đán tròn đầy hỷ lạc,
  • Một Năm Bính Thân với nhiều Hồng Ân Thượng Đế, với Vạn Sự Kiết Tường và Thân Tâm Thường An Lạc.
    Lần nữa, xin quí vị nhận nơi đây lòng biết ơn và lời chúc chân thành của chúng tôi.

Thứ đến, xin quí vị cho phép tôi có đôi lời ngắn gọn với các anh chị em đồng môn của chúng tôi có mặt hôm nay.

Thưa quí Anh Chị Em,

Chúng ta có nhận tổ chức Đại Hội cho toàn thể anh chị em chúng ta trên toàn thế giới, vào năm tới 2017. Chúng ta sẽ mời quí thầy cô của chúng ta cùng về tham dự. Đây đến đó, còn khoảng trên dưới một năm, chúng ta cần chung lưng đâu cật, chuẩn bị là vừa. Sau Đại Hội 2016 tại Úc Châu,  Ban Đại Diện sẽ mời chúng ta họp để bàn thảo, quy hoạch chương trình làm việc.

Chúng ta sẽ chung vui bàn thảo, nghị sự, chung vui góp phần mình vào việc chung.

Hai mươi năm trước, chúng ta mở màn Đại Hội. Thành công tốt đẹp. Và tinh thần PTG-ĐTĐ, từ ấy, đã xây dựng thành truyền thống. Năm 2017, trở lại đến phần của chúng ta.

Hai mươi năm sau, chúng ta hầu hết trong cái tuổi "cổ lai hy", "tòng tâm sở dục'".  Thử thách như cao độ, nhưng thử thách không chỉ ở khả năng, mà còn ở cái tính, cái tình.  Thử thách quyết tâm, thử thách sự bền chí, sự cần cù, sự chịu khó; thử thách tình người, tình của chúng ta với thầy cô, với bè bạn, với ngôi trường cũ.

Cho nên, xin phép ban tổ chức cho tôi có lời kêu gọi thiện chí của anh chị em đồng môn.  Chúng ta cùng nhau chung vui, chung làm, sao cho Đại Hội PTG-ĐTĐ Thế Giới, tại Houston năm 2017, được tổ chức hoàn mỹ.

Xin cám ơn sự lưu tâm của quí vị. 

Nguyễn Văn Trường 

PTG 43-48 

_________________________________________________ 

ĐÔI NÉT VỀ ĐẠO LÀM THẦY

                                                                                                                                         Nguyễn Văn Trường

TL_bookpenflower.jpg 

 

Một                   

Một ít thuật ngữ.

  • Trong suốt bài nầy: thầy là thầy giáo, cô giáo. Thầy giáo là những giáo viên, giáo sư các cấp, nam hay nữ. Không nên nhầm với sư sãi.
  • Đạo.
    Hán Việt có nhiều chữ ‘đạo', đồng âm mà khác nghĩa và cũng khác chữ viết. Có chữ ‘đạo' là đường đi, là cái lẽ phải tôn trọng, noi theo, thí dụ: đạo lý, đạo Khổng, đạo Lão, đạo Phật, đạo Thiên Chúa,...Chữ đạo nầy, 道: bên trái là bộ ‘sước', 辶, mà nghĩa là ‘chợt đi chợt dừng lại'[i]; bên mặt là chữ ‘thủ', 首; thủ là đầu, như trong các cụm từ ‘thủ lãnh', ‘thủ phủ', ‘thủ tướng', ...
    Đạo là con đường mà con người ‘chợt đứng chợt đi', không lường trước được. Thế nên, vào đạo, lên đường, phải có cái ‘đầu', suy tư, vận dụng trí não, tuệ căn để thấy, biết, hiểu, tiếp cận, và sống đạo.
    Trong cụm từ ‘đạo làm thầy (giáo)', danh từ ‘đạo' được dùng theo nghĩa vừa nêu.

 

Hai                        

Một thoáng lịch sử về Đạo Làm Thầy thời cận đại VN.

Đạo nào cũng nêu lên một mẫu người. Đạo Khổng: con người quân tử--tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. Đạo Lão-Trang thì hướng về vô vi, ‘tiêu dao, tề vật, dưỡng sinh',.. và chủ trương: ‘chí nhân vô kỷ, thần nhân vô công, thánh nhân vô danh'[ii]. Trong một giới hạn nào đó, con đường tu Phật là ‘ thoát vòng tay vọng ngã'[iii] và trực ngộ chân tâm. Còn Đạo Chúa, thì ‘sinh là ký, mà tử là qui', sống gởi thác về,  về Nước của Thiên Chúa; thân phận con người là phải ‘đổ mồ hôi, mới có miếng ăn'[iv], và cái biết của con người luôn là tương đối- thị phi, thiện ác, đúng sai hai ngã.

Đạo làm thầy giáo cũng có mẫu người phải hướng đến.
Xưa, Lycurge[v] nhận định: "Giáo dục là đào tạo công dân. Chế độ nào công dân đó: giáo dục quân chủ cho chế độ quân chủ, dân chủ cho chế độ dân chủ."  Thực tế thì hình như đâu đâu và thời nào cũng vậy. Quân tử là mẫu người của Khổng gia, trong chế độ quân chủ toàn trị. Thời nay ở nước ta, thì con người xã nghĩa phải giác ngộ chủ nghĩa xã hội. Đạo làm thầy là phải làm tuyên huấn cho Đảng, ‘trung với Đảng' (dù không là đảng viên), ‘thương cha, thương mẹ, thương chồng, thương mình thương một, thương Ông thương mười.' Ông ở đây là Ông Tổ khai đạo:  Đạo Xã Nghĩa.

 

1.  Ngày nay, Việt Nam thời xã-nghĩa.

Nhà nước xác quyết: Chủ Nghĩa Xã Hội-xã-nghĩa-là ‘hướng đi tất yếu của lịch sử...nhân loại'.  Cho nên toàn dân, toàn quân, toàn Đảng ‘hồ hởi', ‘nhất trí', cùng nhau là ‘đồng chí' chung lưng đâu cật để xây dựng xã nghĩa. ‘Muốn xây dựng xã nghĩa' phải có ‘con người xã nghĩa'[vi]. Con người xã nghĩa, ‘trung với Đảng, hiếu với dân'. Đảng thì lớn và chỉ có một: ‘Đảng vi quí'; mà dân thì nhỏ và quá đông, nên ‘dân vi khinh'. Con người xã nghĩa thì ‘hận thù phân minh', ‘nhất trí' với ta thì là ‘đồng chí', khác-ý -ta là thù. Cùng là yêu nước, mà khác ta thì phải tận diệt; nhưng nếu ta còn yếu thì tạm kết hợp; gặp duyên may thì ngại gì mà không thủ tiêu, để rảnh rỗi về sau. Cùng là xã nghĩa, mà Đệ Tứ thì dứt khoát tận diệt, không thể để chúng đánh lận con đen. Phải biết nuôi hận thù, và ‘biến hận thù thành sức mạnh'. Mọi phương tiện đều tốt để chiếm quyền lực. Có quyền lực trong tay, thì ta ‘nghiêng đồng đổ nước, thay trời làm mưa', ‘tiến nhanh tiến mạnh lên xã hội chủ nghĩa.'

Trong bối cảnh đó, theo giáo điều cùa Đảng: người thầy giáo là ‘cán bộ tuyên huấn của Đảng', phải ‘hồng'[vii] trước đã rồi mới ‘chuyên[viii]'. Người thầy giáo là ‘kỹ sư tâm hồn', nhà trường là cơ xưởng sản xuất những con người xã nghĩa; theo đó, ta phải nghĩ rằng: những con người xã nghĩa đều in hệt nhau, như cái smart phone Galaxy 6, chỉ khác nhau cái lớp sơn, cái vỏ bên ngoài, còn bên trong, các chức năng đều in hệt, và dễ dàng cho sử dụng.
Nói chung, cái Đạo làm thầy xã nghĩa được tóm lượt trong kinh nhật tụng Maxit-Lêninit thực dụng, thực hiện do trường Đảng, ‘hồng thì quan trọng' mà chuyên có thể dốt cũng không sao. Nhiệm vụ thầy giáo là đào tạo hàng loạt-như sản xuất dây chuyền trong công nghiệp hiện đại-những thế hệ xã nghĩa, rập khuôn, biết ‘nhất trí'. ‘hồ hởi', ‘tung hô' sùng bái nàng tiên xã nghĩa. Nói cách khác, làm thầy giáo xã nghĩa thì nhàn lắm vì như mọi người, dành mọi suy nghĩ-về đời sống, về tương lai, về đất nước, về thân phận ,về nghề nghiệp,..., tất tất cho cấp lãnh đạo đảng, để đổi lại một cuộc sống an bình, an ninh, ổn định, nhờ ơn mưa móc của Bác và Đảng. Có nghĩ suy mà lại nhiều lời, lắm khi vì đó mà nguy hiểm đến bản thân.
  Cũng nên thêm, như người quân tử hồi xưa, người thầy xã nghĩa ‘ăn không cần no, mặc không cần đủ ấm'.

Đảng "nói" như vậy, Đảng muốn như vậy, nhưng đâu phải người thầy ở thời xã nghĩa nào cũng nghe và răm rắp làm theo! Người thầy "lưu dụng" (chỉ nhà giáo chế độ cũ còn được đứng lớp) càng là những người ít "hồng" nhất, nếu không nói là chẳng muốn "hồng" chút nào, nhất là sau cái gọi là "đổi mới" từ cuối thập niên tám mươi.

 

2.  Miền Nam VN trước 30 tháng tư 1975, chế độ cộng hòa.

2.1. Đệ Nhất Cộng Hòa. Thuyết Nhân-Vị.

Miền Bắc có Mátxít-Lêninnít, thì Miền Nam cũng phải có một triết thuyết đối kháng. Đó là thuyết Nhân-Vị, mà nhiều người gọi là personnalism, một triết thuyết về ‘con người'. Duyên đưa, có một lần, tôi được gặp Linh Mục Lê Tôn Nghiêm, trong khuôn viên Viện Đại Học Đà Lạt; Ngài đang dạy trong một khóa Nhân-Vị cho công chức hay cho cán bộ Cần Lao. Ngài cho tôi biết là nguồn tài liệu của Ngài nằm trong hai quyển sách của Emmanuel Mounier và Karl Jaspers.

Thiết nghĩ:
Là một duyên may, thuyết Nhân Vị, có thể vì nó khó-trong thuật ngữ, trong lý luận,..-nên nó dừng lại trước cổng các trường của ta.  Mà Bộ GD của ta cũng không chủ trương đem chính trị / tôn giáo vào học đường. Học sinh và sinh viên ta không bị nhồi nắn bởi một triết thuyết, buộc rập khuôn theo một con đường, như ở Miền Bắc. Học đường miền Nam lúc bấy giờ còn trong sáng.

2.2. Đệ Nhị Cộng Hòa. Nhân Bản-Dân Tộc-Khai Phóng-Khoa Học.

Nhiệm vụ của người thầy giáo tế nhị hơn. 
Không có con người mẫu-ít nhiều rõ ràng như con người xã nghĩa. Không có kinh Mátxít-Lêninnít. Cũng không có thuyết Nhân Vị.

Nhiệm vụ của tôi, người thầy thời bấy giờ,  là truyền dạy kiến thức theo chương trình qui định với những chỉ thị rõ ràng-mà gần như tôi không có quyền tùy tiện châm chước, nhưng có thể uyển chuyển giảng dạy bằng phương pháp và tài năng của mình.  Đồng thời tôi phải làm sao để nhờ đó mà mà học trò tôi thấy, hiểu, và thích ứng với những hoàn cảnh khác biệt trong cuộc sống. Phải làm sao cho cái dạy của tôi giúp cho học trò tôi luôn phát triển.

Công văn nhắc nhở: phát triển con người toàn diện; nhưng không mô tả con người ấy như thế nào.  Thật khó cho tôi. Nhưng nghĩ lại: Không buộc tôi phải theo một cái khuôn, một mẫu người nhất định, nhà nước dành cho chúng tôi nhiều tự do để nghĩ và hình dung con người toàn diện ấy.
Bên nhà nước, còn có Hội Đồng Quốc Gia Giáo Dục(HĐQGGD). HĐQGGD xác quyết: Nhân Bản-Dân Tộc-Khai Phóng, và sau đó thêm hai chữ: Khoa Học để làm nền tảng của nền giáo dục quốc gia và làm phương châm hành động của chúng tôi.
Nhân Bản: Giáo dục nhằm đào tạo con người. Có thể là con người nói chung, của muôn nơi muôn thuở; có tính người, tình người, trách nhiệm làm người,.., một cách  chung chung, tình, tính chung chung của loài người. Nhưng HĐQGGD có nhấn mạnh: Không chỉ có như vậy, con người ấy phài là con người của dân tộc nầy-dân tộc VN--ở trong thời khoảng lịch sử trước mặt, trong tình trạng chiến tranh dai dẳng và đang tập tành dân chủ.
Trở về với dân tộc là một khẩu hiệu thường nghe. Nhưng ‘trở về' không là về thời ăn lông ở lổ, cũng không là trở lại thời bế quan tỏa cảng; ‘ung dung, tự tại' ta với ta, ta chỉ biết có ta, hãnh diện và khép kín trong một cái ta to lớn, dù rằng ta lạc hậu và sống cơ cực.  Hơn nữa dân tộc Việt Nam không chỉ có người Việt, mà giờ đây gọi là người kinh.  Còn những dân tộc thiểu số--người Chàm, người Thượng, người Miên,...Phải minh xác và đào sâu nghĩa của hai chữ Dân Tộc để thích ứng bối cảnh lịch sử nước nhà. Ngoài ra, thụ lãnh một di sản-vật chất và tinh thần-mỗi thế hệ đều có nhiệm vụ phải làm giàu mạnh cái di sản ấy-giàu ở sản xuất, ở phát triển công nông, ở tri kiến, ở tình người, nói chung ở mọi mặt. Theo đó, sự giao lưu với lân bang, với toàn cầu là cần thiết. Thái độ cởi mở, mở lòng mình, trí mình để đón gió bốn phương là tối ư cần thiết. Thế nên, HĐQGGD nhấn mạnh yếu tố: Khai Phóng. Khai Phóng cũng hàm ý thái độ cởi mở của cá thể đối với tha nhân và vạn vật. Nhưng, làm sao cho đứa trẻ đủ tự tin, mà không tự kiêu, và không mất mình trong luồng văn hóa nầy hay văn hóa kia?  Phải có tinh thần khoa học. 

Phương châm: Nhân Bản-Dân Tộc-Khai Phóng-Khoa Học, với những lời hướng dẫn súc tích, ngắn gọn, cụ thể, đủ gợi ý cho chúng tôi, thầy-cô giáo, một hướng đi trong việc xây dựng ở , đứa học trò của chúng tôi, một nhân cách, một khả năng, một con người; nói riêng, một con người hữu dụng cho quốc gia, cho nhân loại. Phương châm ấy cũng khá rộng mở (open), để mỗi người thầy có đủ tự do-tự do trong trách nhiệm-để hình dung và có những ước vọng về con người ấy. 

 

Ba                      

 

Đôi nét về cái Đạo làm thầy.

‘Đạo làm thầy' có những tương đồng với các đạo giáo, tôn giáo.

3.1. Kinh, Luận, Luật. Đạo nào cũng có kinh sách. Đạo Khổng có Tứ Thư Ngũ Kinh, Đạo Lão Trang có Đạo Đức Kinh và Nam Hoa Kinh. Đạo Phật có Kinh Kim Cang, Lăng Nghiêm, Pháp Hoa, Viên Giác, Hoa Nghiêm, ...., Đạo Thiên Chúa thì có Cựu Ước, Tân Ước....
Đạo làm thầy giáo cũng có kinh sách. Đó là:
Bộ pháp chế học đường, cập nhật hằng ngày, trong đó nhiệm vụ và quyền hạn của người thầy giáo, quan hệ thầy trò, quan hệ giữa nhà trường và phụ huynh, chương trình học của các lớp, và nhiều thể thức khác được rõ ràng qui định,
Ngoài những kiến thức cổ điển thu thập ở các trường đại học, còn các sách về triết lý
giáo dục, triết học nói chung, sư phạm, phương pháp giảng dạy, Internet, facebook, twitter-trao đổi kinh nghiệm,..., thế giới ngày nay như mở rộng cho mọi người, nói riêng cho thầy giáo.

Đạo Phật có 84 ngàn pháp môn. Pháp môn nào cũng đúng(!). Đạo làm thầy không biết có bao nhiêu pháp môn; pháp môn nào cũng đúng và không đúng; đúng cho ai và không đúng cho ai.

3.2.Đạo nào cũng có nghi thức phụng vụ-rite, rituals, liturgy. Đạo làm thầy cũng vậy. Ông thầy phải soạn bài, vào lớp phải ăn mặc chỉnh tề, đúng giờ, đúng hẹn, chấm bài, vô điểm, tất tất phải theo những qui định của nhà nước. Roi vọt, hình phạt về thể xác bị nghiêm cấm.

3.3.Xưa ‘tử vì Đạo' được phong thánh. ‘Tử vì Đạo' không là những người ngoại đạo hay dị-giáo-heretic-mà bị thiêu sống trên giàn hỏa. ‘Thánh tử Đạo'là những con chiên ngoan đạo mà chết vì trung thành với Đạo, ‘thập tự chinh' hay giờ đây là'thánh chiến' là từ ngữ của những tổ chức tự cho mình cái quyền giết người ‘ngoại đạo'. Chết trong ‘thập tự chinh' là ‘tử vì đạo'.
 Ở Việt Nam, Hòa Thượng Thích Quảng Đức, ‘tử vì Đạo',  được tôn vinh là Bồ tát.
‘Đạo làm thầy' không có ‘thánh chiến', không có ‘chết vì Đạo', cũng không xả thân cầu tịnh để chứng ngộ ‘chân tâm', hay dùng tuồi trẻ làm bia cho súng đạn nhằm cụ thể hóa một đức tin hay một triết thuyết ‘chân thật, bất hư'.
Tuy nhiên,

Đạo làm thầy có ‘Văn-Tư-Tu' của nhà Phật, có ‘Tôn-sư, Trọng-Đạo' của Khổng-gia, dù rằng nội dung của các cụm từ nầy có hiểu khác đi. Ngôn từ đổi thay theo thời gian và không gian  là lẽ thường.

Đạo làm thầy cũng có một nét của Lão Trang. Đó là ‘Thượng Đạo, Bất Đạo', nói theo thời nay, ngắn hơn, ‘Đạo Bất Đạo'[ix] Hiểu nôm na: còn cầu Đạo, là còn có ngoài và trong; ở trong Đạo, hành Đạo, sống Đạo, thì không thấy có Đạo hay không có Đạo-con mắt thấy mọi vật chung quanh nhưng không tự thấy chính nó; cho nên gọi là Đạo bất Đạo'.

3.4.Đức tin.

Đạo nào cũng đòi hỏi Đức Tin. Lòng tin ở tôn giáo là tuyệt đối. Tin mà không nghi. Thầy giáo có thể là tín đồ của bất cứ một tôn giáo nào; theo đó  Ông có tin mà không nghi. Tin được cứu rỗi, tin rằng sẽ được giải thoát khỏi luân hồi sinh tử.,...

Nhưng, trong cái Đạo làm thầy,
Ngoại trừ nhà trường của giáo hội xã nghĩa, của Hồi giáo, và nói chung, một số quốc gia có chế độ chuyên chế toàn trị, thì hầu hết các nước tân tiến trên thế giới đều theo qui tắc phân cách Nhà Thờ và Nhà Nước-separation of the Church and the State, qui thành luật pháp cụ thể.  Thế nên, trong giới hạn những qui định của luật pháp nầy, nhà trường là phi tôn giáo. Nói rõ hơn, tôn giáo có thể hiện hữu trong học đường dưới dạng triết học, nhân chủng học, hay văn minh học, ở các lớp trên.

Trong bối cảnh nầy, tin và nghi là một. Hai mặt đối lập, tương khắc nhưng tương sinh. Cái nầy khác hẳn cái kia, nhưng cũng xác định cái kia. Đó cũng là hai mà là một, một mà là hai ghi trong kinh Duy Ma Cật. Đó là một đặc điểm của Đạo làm thầy.

3.5.Văn, Tư, Tu.

Sư sãi các chùa có Văn, Tư, Tu. Đạo làm thầy không nói tu hành, không tìm thoát khổ, nhưng ‘văn, tư, tu' có đủ và là trọng tâm.  Như vậy, thế nào là ‘văn, tư, tu' trong cái Đạo làm thầy?

  • Văn-聞-có nghĩa là nghe. Chữ nhĩ-耳-nằm trong chữ môn--門 -cho ra chữ văn-聞. Hay nói theo Cụ Nguyễn Công Trứ: ‘Nhĩ tại môn tiền: văn'. Lỗ tai mà ở trước cửa thì: nghe. Các kinh điển nhà Phật thường mở đầu bằng câu: ‘Như thị ngã văn', tôi nghe như vầy[x] Đó là chữ văn nầy.
    Một chữ văn thứ hai, cũng Hán Việt, là文. Trái nghĩa với chữ ‘vũ'(vũ như trong vũ lực, vũ trang, vũ khí), chữ văn nầy có nghĩa là lời văn, như trong văn tự, văn chương, văn hóa, văn minh,...
    Tư-思-gồm hai chữ: điền 田 ở trên, và tâm 心 ở dướí. Tư có nghĩa là ‘nghĩ ngợi, tưởng tượng, suy xét, ghi nhớ'[xi] như trong tư tưởng, tư duy, suy tư, tương tư, tâm tư,...
    Tu - 修-nghĩa là sửa, như trong các cụm từ: tu bổ, tu chính, tu hành, tu luyện, tu học, tu thân,... Tu sĩ là người chuyên tu theo một đạo giáo hay giáo phái nào đó, thường có một pháp môn, một phương thức luyện tập, thí dụ; tọa thiền, thiền, thiền hành, niệm lục tự di đà,..., nhằm vào một mục tiêu nhất định.
    Trong cái đạo làm thầy,

Văn là nghe mà cũng có nghĩa chữ văn trong ‘văn hóa'.  Cụ thể là đặt lại vấn đề, hỏi và nghe sách vở, kinh điển, internet, người xưa, người nay, nghe học trò, phụ huynh, đồng nghiệp, và nghe ngay ở chính mình, để mở tầm nhìn trong cái đa dạng, đa nguyên, đa sắc, trong giòng chảy biến thiên vô cùng của cuộc sống.  Đó là cái học từ chương, ít nhiều thụ động, dù có để những luồng tư tưởng dị biệt, luôn đổi thay ấy, giao lưu. Nhưng nếu nghe được những cảm xúc của lớp học, qua cách hỏi, giọng nói, ánh mắt, vẻ mặt,.., của người học sinh, nếu nghe được những lo âu, vui buồn của người phụ huynh về cái học của con em họ, nếu chia xớt những phân vân và luận bàn được với đồng nghiệp về những kinh nghiệm liên quan với đời sống học đường,.. thì cái ‘văn' nầy, tự nó  rất năng động, và là nguồn hứng khởi nội tâm của thầy cô giáo.

  • Tư là suy nghĩ trên vấn đề, là phân tích, biện luận, tổng hợp, kết lại thành giá trị, rồi buông bỏ để chúng không giữ mình trong thành kiến, để tâm mình rảnh rỗi tiếp tục bước đi. Tư ngầm nói những dị biệt, mâu thuẫn, xung đột trong nội tâm, cùng là những va chạm bên ngoài.
    Thời quân quản, một đồng nghiệp bảo tôi: "Thầy[xii]nghĩ sao? Em sẽ thôi dạy, vì: em không thể vừa đứng lớp vừa làm tuyên huấn cho Đảng." Anh nói khá nhiều, nhưng tóm lại: Anh muốn bỏ nghề. Tôi nghe xót, xót tận trong sâu thẳm. Từ chối, không cộng tác với chánh quyền mới, chỉ đơn giản bao nhiêu đó mà thôi, có thể là cái cớ để vào các trại tập trung, tù không bản án, tù không biết ngày mãn hạn. Chưa kể là phải giả từ cả một cuộc đời thầy giáo của anh.Tôi có nhẹ nêu điều nầy cho Anh.
    Vài tháng sau Anh thôi việc.
    Anh muốn lương thiện. Anh sống lương thiện.
    Lương thiện với học trò của Anh, lương thiện với chính Anh.
    Quân luật. Cao trào cách mạng. Sức ép của quyền lực, sức ép của hàng vạn con cừu Panurge- ‘người người nắm tay giơ cao', ‘nhất trí', hoan hô, hồ hởi, ‘đảng ta' muôn năm, Bác muôn năm. Muốn lương thiện! Muốn nói không với những khẩu hiệu! Muốn nói không với những tiếng tung hô rỗng nghĩa! Muốn la to rằng phải nghĩ suy: nếu cả nước, trong cái tuổi sản xuất-18-50-hoặc vào trại tập trung, hoặc trong quân đội hoặc thanh niên xung phong, còn lại thì sợ hãi, căng thẳng, chịu làm con cừu non, thì còn ai sản xuất, còn ai thật dạ nghĩ suy về những vấn đề thiết thân và nóng bỏng trong bối cảnh lúc bấy giờ? Nhất trí, tung hô không tạo được của cải vật chất. Chỉ bao nhiêu thôi, không biết nói với ai, và có biết cũng không dám hở môi. Khẩu hiệu là "dám nghĩ dám làm". Nhưng, trong thực tế, suy nghĩ phải dành cho lãnh đạo Đảng. Để đổi lấy an ninh, thì cứ làm theo lời lãnh đạo, gọi như vậy là ‘trung'.
    Già trẻ--những người không phải đi tập trung, hay trong quân đội, đông đảo là phụ nữ và trẻ con-nét mặt bơ phờ, mong con, mong chồng, và đói-đói cơm áo, đói học thức, đói tin tức, đói khát sự ổn định, đói một nụ cười,.., đói trong ảo vọng!
    Trong bối cảnh đó, con người dễ nhượng bộ với hoàn cảnh. Phải tồn tại, phải tỉnh thức, vững trên hai chân mình. ‘Sông có khúc, người có lúc' , ‘qua sông phãi lụy đò', hoặc tự nhắc nhở câu chuyện Việt Vương Câu Tiển,.., không biết bao nhiêu lý do để biện minh cho sự yếu hèn, để lương tri được an ổn.
    Thật là, sống lương thiện: không dễ, nếu có chút suy tư.
  • Tu là một quá trình trải nghiệm. thực nghiệm. trực nghiệm. Nghiệm là: ‘sự hiểu biết từng trải, có chứng cứ hoặc thông qua quá trình kiểm tra hẳn hoi, chớ không phải sự hiểu biết khơi khơi, cả tin ở sách vở hay Internet ! Trực nghiệm nhấn mạnh trên cái ý trực tiếp không qua trung gian, nhưng cũng hàm ý một nhận thức mạo hiểm, phiêu lưu qua trực giác. Có thể nói tu là một quá trình sống thật, trong tìm tòi, dò dẫm, học hỏi, chứng nghệm, trong đó người thầy giáo luôn trưởng thành, vươn lên trong cái đạo làm thầy'[xiii]. Theo đó, đem ‘văn' và ‘tư' ra để chứng nghiệm.
    Tu cũng là sửa. Sửa từ"cái ta này"biến thành"cái ta khác"[xiv], mà ‘cái ta sau' tốt hơn, thiện hơn, khỏe hơn, hiệu quả hơn ‘cái ta trước'. Sửa nói lên một sự cải thiện, cải hóa trong chiều tiến bộ. Và cứ sửa như thế mãi suốt cuộc đời thầy giáo.
    Văn, tư, tu, tuy là ba ngôi[xv], tuy là tam thân[xvi], nhưng thật là một, thống nhất, bổ túc lẫn nhau, đồng hành, bất khả phân. Cũng tương tự trải nghiệm, thực nghiệm, trực nghiệm tuy ba nhưng mà là một đồng hành và hợp nhất.
  • Không ‘Văn': Không biết nghe, không đọc, không học, không tiếp cận những tư tưởng minh triết xưa và nay, tức là sống trên cái vốn liếng đã có mà không chịu làm làm cho nó giàu mạnh hơn; tức là biến cái sẵn có thành một tháp ngà và bằng lòng tự giam mình trong đó. Giòng đời luôn chảy, luôn đổi thay, mặc giòng đời. Thế thì làm sao nghe được lớp học, nghe được những học sinh cá biệt của mình, nghe để hiểu, thấy, cảm nhận, suy đoán, và thực nghiệm những biện pháp mà mình nghĩ là tối ưu. Đó là chưa kể thỉnh thoảng còn phải tiếp phụ huynh, phải nghe và cảm thông những lo âu của họ về những điều cụ thể liên quan đến con họ mà là trọng tâm của công việc hàng ngày của ta..
    Nghe là vấn đề sinh tử của nghề dạy: nghe lớp học, nghe những học sinh cá biệt, nghe phụ huynh, nghe đồng nghiệp, nghe ngôn ngữ, tập tục địa phương,...Lắng nghe được tha nhân là cả một nghệ thuật. Người thầy không thiền tọa, cũng không thiền hành, để tịnh tâm, để tìm bản ngã, hay để cho ‘tiểu ngã hòa nhập trong đại ngã'. Cũng không tìm ‘thoát vòng tay vọng ngã' để giác ngộ hay hội nhập ‘chân tâm' và ‘thoát khỏi sinh tử luân hồi. Người thầy không có những may mắn đó của các Sư, các Cha được xã hội dưỡng nuôi để ‘chuyên tu' để thành ‘Chư Tôn Đức' hoặc thành Cha thiên hạ, để được thỉnh, giáng lâm, thí pháp hay ban pháp, để cuối đời về nước của chư Phật, hay của Thiên Chúa..
    Người thầy trọn vẹn dấn thân trong cuộc sống phù du, bấp bênh, đầy bất trắc nầy.Với người thầy, ngũ uẩn-- sắc, thọ, tưởng, hành, thức-không phải là ‘giai không', mà là thật sống; quen thuộc với bảng đen, phấn trắng, với nùi lau bảng, quen thuộc với những tâm hồn trẻ luôn đổi mới, dễ thương, ngỗ nghịch, khó dạy, quen với cái hư giả lúc có, lúc không, một cuộc sống nổi trôi theo giòng chảy học đường.
  • Thiếu vắng suy tư, người thầy có thể chỉ là cái máy thu-và-phát-thanh, hoặc là cái thùng trống; ồn ào, rổn rảng mà không thực chất. Nghe mà không nghĩ suy là nhẹ dạ. Học mà không hỏi, không suy tư, không luận bàn, không đem ra chứng nghiệm, là cái học của loài két.
    Thầy không là cái máy, không là thùng rỗng, cũng không là két. Và nếu chẳng may, phải nhượng bước với Satan, thầy có trăm cách để không làm cái việc nhồi sọ, nhằm biến học trò mình thành những thứ ấy.
  • Không tu.
    Truyện kể
    [xvii]:
    ‘Xưa, thời Giáo Tông của Giáo Hội Đỏ, có một Thượng Thủ--và cũng là một nhà tư tưởng lớn của Giáo Hội, khám phá ra một sự thật, ‘chân thật bất hư'-chắc như bắp rang, ‘sông có cạn, đá có mòn, nhưng cái chân lý nầy' của Ngài, không bao giờ thay đổi. Do đó, Hội Thánh trao một giải thưởng lớn, chưa từng có cho đến giờ, cho ai giải thích được sự thật, ‘bất khả tư nghì' nầy. Đó là:
    ‘Tại sao, một cục đá bỏ vào một thau nước đầy thì nước tràn, mà một con cá, dầu rất nhỏ, thả vào một thau nước đầy, thì nước không tràn.'
    Thế rồi, năm châu bốn biển, nhiều luận án của các vị tiến sĩ, thạc sĩ, hàn lâm sĩ,.., gởi về,.. Một hội đồng viện sĩ được triệu tập, để nghiên cứu và đánh giá.
    Trong những luận án gởi đến, luận án nào cũng vài trăm trang. Nhưng có một, chỉ có một, rất đơn giản, gồm hai câu, của một cậu bé: ‘Con có lấy một thau nước đầy, có thả một cục đá vào đó, thì đúng như vậy, nước trong thau trào ra. Và cũng in hệt những điều kiện trên, cũng thau nước đầy, con thả vào một con cá lòng tong nhỏ xíu, và con lập đi lập lại như vậy rất nhiều lần, như lạ thay, nước vẫn tràn ra.'
    Từ ấy, trong kinh thánh của Giáo Hội, về câu chuyện trên, có chú thêm một câu: "Triệu triệu người đều xác quyết rằng đúng, huống chi, họ đều là tiến sĩ, thạc sĩ, học sĩ, hàn lâm sĩ, ...thì tất yếu phải đúng thôi. Thế nhưng, qui luật tổng quát nào cũng có những trường hợp ngoại lệ. Đó là trường hợp xảy ra cho cậu bé con nầy.'

    Tu là thực chứng. Chứng cứ cho mọi lý thuyết, lý luận, suy đoán. Thiếu vắng tu, con người trôi lăn trong ảo tưởng, hoặc trong một chuỗi logic suy từ những tiên đề sai, và có một lòng tin sắc đá mà vô căn cứ.

  • 3.6. Lớp học

  • Trong cái nhìn vĩ mô, trong làng giáo có ba loại thầy:
    Loại 1: Loại thiên phú, có máu thầy cô giáo trong huyết quản . Đó là loại ‘thượng đạo bất đạo', không nói đạo, không giảng đạo, cũng có thể không cần học đạo, nhưng thái độ, cử chỉ, lời nói, giọng nói, ánh mắt, cách nhìn khi tiếp cận học sinh, phụ huynh, đồng nghiệp, thanh tra, hiệu trưởng,.., tất tất đều thích hợp. Sách đạo: chỉ đọc qua một lần, liền thấu hiểu và ‘trực ngộ' những giới hạn và khả năng mở rộng, đúng sai hai ngã, mà không cảm thấy một khó khăn nào. Đây là hạng suất sắc. Trời sanh ra là đã vậy.
    Loại 2: Loại làm thầy bất đắc dĩ. Những người trốn quân dịch thời VN Cộng Hòa, những người tạm nương nghề làm thầy để tiến thân, thí dụ để thành luật sư, chánh khách,..Nghĩ là tạm, nhưng lắm khi nhìn lại, cũng một thập niên. Xưa có câu: ‘trước bỏ thời niên thiếu, sau bỏ tuổi già, còn lại ở giữa là ba thập niên.' [xviii] Nói là tạm nương, nhưng thoáng một cái là đã trên dưới một thập niên; có người nhìn lại, thì đã non nửa cái thời sinh động nhất của mình.
    Hoặc như tôi, đứng ngoài nhìn vào, nghĩ rằng dạy học có được cái nhàn. Nói là nhàn, nhưng nghề nào mà không phải đổ mồ hôi? Thuở tạo thiên lập địa, Chúa đã phán bảo con người: ‘Phải đổ mồ hôi trán mới có miếng ăn'[xix]
    Với loại nầy, người xưa dạy:
    ‘Cuộc đời như bóng câu qua cửa sổ, quỹ thời gian sống giới hạn và mỗi ngày mỗi vơi. Quí vô cùng.'
    và cũng dạy: ‘Nhàn cư vi bất thiện.' Theo đó, nếu có duyên học chữ ‘Nhàn' của hai Cụ Nguyễn Công Trứ hay Nguyễn Bĩnh Khiêm, thì phải cặn kẻ nghĩ suy, chứng nghiệm, không nóng vội (như tôi) ôm lấy lười biếng mà gọi là nhàn.
    Loại 3: Tốt nghiệp các trường Sư Phạm. Họ được huấn luyện nhiều niên khóa. Họ học và dấn thân làm thầy. Rồi nghề dạy nghề. Với nhiệt tâm, công sức, họ mở rộng tầm nhìn, tôi luyện văn-tư-tu, không tự mãn, khám phá nghề nghiệp, để luôn cải thiện ‘tay nghề'.
    Đông đảo nhất là loại 3 nầy. Đó là những con người cần học, cần đọc, cần trao đổi kinh nghiệm với đồng nghiệp, cần vấn hỏi môi trường, cần đưa cái học vào thực nghiệm trong lớp học.

    Nếu thấy mình trong loại một, thì phải xét lại. Ông thầy, thường quen ‘thí pháp' hay ‘ban pháp', luôn nói đúng, nghĩ đúng, vì nội dung cái dạy là cổ điển, có những giá trị bền vững, nên có thể nghĩ rằng mình được ... ‘thiên phú', rồi chết trong ngục tù tự mãn, chết trước khi chết, thì thật tội nghiệp

    Lớp học cũng có ba loại học trò:
    Loại 1: Không cần thầy
    ; rất ít, mỗi lớp có năm ba trò: Suất sắc, thông minh nhờ thiên phú, và thêm có phụ huynh theo dõi, hướng dẫn, hoặc có thầy dạy kèm.
    Loại 2: Cũng không đông. Không cần học, không muốn học, không thèm học, và theo đó cũng không cần thầy. Thầy là duyên cho lắm phiền toái của họ. Ngỗ nghịch, chống lại quyền bính và trật tự học đường, họ xem lớp học là nhà tù, mà sân chơi là môi trường phát triển. Họ cũng thông minh, nhưng không thích ngồi im, thụ động. Mỗi lớp thường có một vài em.
    Loại 3: Đông đảo phần còn lại của lớp học, đã có nề nếp, muốn học và cần sự hướng dẫn, chăm sóc của người thầy.
    Có người bảo: ‘Loại 1: không thầy, chúng cũng giỏi. Loại 2: Đầu tư bao nhiêu công sức vào cái nhóm tí ti nhỏ xíu ấy, là hoài công, vô ích mà lại làm chúng khổ sở. Trọng tâm công việc của người thầy nằm ở loại 3, loại cần thầy.'
    Đó là cái nhìn rất thực tiễn, có vẻ khách quan, và ‘khoa-học' về sự vụ làm thầy. Cũng vì đó mà nó vô tư đến độ vô tình. Nghĩ rằng cái duyên thầy trò chỉ trong một niên-khóa; cắt bỏ các ngày cuối tuần và ngày lễ, thì còn lại khoảng 190 ngày/năm, và mỗi tuần trên dưới 20 giờ ở Tiểu học, và vài giờ ở Trung học, thôi thì để sống yên vui cho cả làng, hãy để cho đứa trẻ khó dạy-loại 2-an ổn trong cái góc của nó. Nó không cần học. Đừng làm khó nó, đừng làm khổ mình.
    Thế nhưng, ta quên một tiên đề tối thượng trong Đạo làm thầy:
    ‘Đứa trẻ-- ngỗ nghịch nhất, mất dạy nhất-- là đứa trẻ cần được giáo dục nhất.' Nó cần cha, cần mẹ, cần thầy, cần học đường nhất.
    Nhưng lắm khi nó thiếu cha hoặc mẹ, hoặc cả cha mẹ. Hơn ai hết, nó cần tình người, cần thầy.

3.7  . Quan hệ thầy trò.

Trong Đạo Phật ngày nay, Sư Sãi là chư tôn đức, Thầy tụng cũng thuộc hàng chư tôn đức. Được thỉnh mời, giá lâm và ban pháp. Nếu được hỏi, thì lấy kinh, lấy lời Phật mà trám miệng thế gian.

Với Ky-Tô-Giáo, từ Cộng Đồng Vatican II, có những đổi thay căn để trong lễ nghi phục vụ. Nói riêng trong thánh lễ, các linh mục không còn xây lưng về phía tín hữu. Điều nầy như nhắc nhở: giáo hội phục vụ con người, không như xưa con người hy sinh cho giáo hội.  Nhưng chung chung các cha, các thầy vẫn còn trên cao ‘thí pháp'.

Thái độ chung: người trên ban bố cho kẻ dưới.

Đạo Xã Nghĩa, sanh sau, đẻ muộn, nên người CÁN BỘ phải làm ‘đầy tớ của nhân dân'.  Đầy tớ thông thường là để sai vặt, có biết gì đâu mà dạy với dỗ. Thầy giáo lại là CÁN BỘ TUYÊN HUẤN,  đạo làm thầy vì vậy mà ít nhiều bị hạ cấp. Nói chung trong thực tế, cán bộ không là nghề hạ cấp. Họ được trang bị kinh Mác-xít Lê-nin- nít, kinh misa của họ, và biện chứng pháp duy vật thực dụng, và như ở VN, họ có non 3 triệu người sẵn sàng hồ hởi, hoan nghênh, nhất trí với họ. Do đó, họ quên mình là đầy tớ, và xử sự như hàng giáo phẩm của những thế kỷ trước.

Về điều nầy, Đạo làm thầy khác các tôn giáo vừa nêu.

Dạy là cho , bởi , vì . là đứa học trò của người thầy giáo.

Nhà nước lấy thuế xây trường ốc, trang bị bàn ghế, phòng thí nghiệm, sân chơi, thuê chuyên viên nghiên cứu nhu cầu, lập chương trình, thuê người và huấn luyện cho thích hợp từng lứa tuổi, tất tất là cho , bởi có , vì cần hội nhập êm thắm vào xã hội người lớn. 
Cho nên, thầy là phụ mà nó là chánh. Tất cả phải là cho nó.

Thế nhưng, còn non dại, mà tôi-thầy giáo- thì sành đời. Tôi từng trải hơn , ít nhiều có qua trường học và được trường đời tôi luyện. Tôi có trách nhiệm giáo dục , qui định trong những văn bản cụ thể. Ngoài ra còn có những qui định bất thành văn trong phong tục tập quán. Nói trách nhiệm, phải nghĩ đến quyền hạn, cái quyền giới hạn do trách nhiệm. Quyền của ông thầy-trong lớp học-chính yếu là quyền bính. Hàng giáo phẩm ngày nay mà ai cũng kính nể, dạ thưa, thỉnh mời, và răm rắp nghe dạy ‘nương tựa, phục tùng, và vâng lời'[xx]  là do quyền bính, mà không do quyền lực.
Thầy giáo không có quyền lực.

Thực tế, trong những giới hạn pháp lý, tôi hoàn toàn tự do, tôi biết nhiều và có ý thức mà thì non dại. Trách nhiệm của là lo học và tôn trọng trật tự nhà trường, còn tôi thì hoàn toàn trách nhiệm không chỉ về sự học vấn của mà cả về sự an ninh của trong lãnh vực học đường. Nếu xảy ra một tai nạn cho , thì tôi bị lôi thôi, và gặp phải lắm phiền toái.

Nói chung, không có một trách nhiệm gì đối với tôi, không buộc phải thương tôi, nghe tôi, quí tôi,.. Còn tôi, tôi buộc phải tạo một môi trường mà thương, nghe, quí-thương nhau, nghe nhau, quí nhau-thuận tiện cho sự học hỏi. Học hỏi với nhau, trao đổi với nhau. Vì cái trách nhiệm một chiều đó, vì thầy từng trải, trò non dại, nên xảy ra lạm dụng: đó là những lúc thầy mất trí.
Mất trí vì tôi quên rằng tôi được thuê để đóng vai phụ, vì tôi còn nghĩ rằng ‘không thầy đố mấy làm nên', vì với đám trẻ nít giao cho tôi, tôi có thể -- như một giáo phẩm-từ trên,  ‘thí pháp', ‘ban pháp', ‘gieo ánh sáng' cho đám con chiên lạc đạo.
Một vai phụ mà lướt vai chánh là một vai phụ tồi tệ.  Đã là phụ thì phải làm nổi vai chánh.

Huống chi, cái tối đa của tôi là một ông giáo biết việc. Còn với , tương lai chưa định, mọi khả năng đều ở trong tầm tay của nó.

3.8.Giáo Dục. 

Định đề tiên quyết: Mỗi thầy giáo, cô giáo, ở bất cứ bộ môn nào-Văn, Triết, Sử, Địa, Toán, Lý, Hóa, Vạn Vật, Thể Dục, Thể Thao, Hội Họa, ....-đều   là một nhà giáo dục.

Giáo dục  không có nghĩa là nhồi sọ, cũng không đóng khung con người, hay nhốt tâm thức con người vào ngục tù của một lý tưởng, dù rằng lý tưởng ấy có vĩ đại như thế nào đi nữa, dù rằng có triệu triệu người, người người như một, đồng loạt ‘hồ hởi', vỗ tay, ‘hoan nghênh', ‘nhất trí'. Tôi còn nhớ một câu bất hủ của một một vị đàn anh và bậc thầy[xxi] của tôi: "Triệu triệu con số không mà cộng lại vẫn bằng không."

Giáo dục là giúp trẻ thành người. Trong một chừng mực nào đó, giáo dục nhằm trang bị cho đứa trẻ  những hành trang mà người lớn cho là cần thiết để vào đời: đời sống xã hội, văn hóa, khoa học kỹ thuật, kinh tế kinh doanh, công nghiệp, nông nghiệp, v. v. của môi trường sống.

Nói riêng, ở bậc tiểu học phổ thông thì đọc, viết, tính toán, vệ sinh và khoa học thường thức là căn bản,  ở Trung Học Đệ nhất cấp chánh yếu củng cố việc tổ chức học tập,  xử dụng chuyển ngữ-bước đầu tập mô tả, thuật chuyện, sau tập phân tích một bài văn hay thơ, nhận thức và lý luận-- bắt đầu một sinh ngữ, bắt đầu khai tâm quan sát và lý luận ở mọi bộ môn. Trung Học Đệ Nhị Cấp  nhằm chuẩn bị vào Đại Học. Ở các nước nghèo thì phải nghĩ đến số đông đảo học sinh phải bỏ học-chỉ vì nghèo, hoặc cha mẹ không thấy lợi ích xa của giáo dục học đường-chương trình phải có khả năng giúp những học sinh nầy chóng trở thành những phần tử sản xuất hữu hiệu, thí dụ có đủ hành trang để nhanh chóng học được một nghề. Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh.
Hệ luận đương nhiên là; làm thầy là mượn kiến thức làm duyên để tôi luyện tính siêng năng, cần mẫn, kiên nhẫn, chịu khó trong việc đầu tư công sức và thời gian trong những vấn đề cụ thể, trong tầm sức, không quá khó để phải chán nản, không quá dễ để xem thường mà vô tâm, làm duyên để tôi luyện khả năng suy tư, phân tích, tổng hợp, diễn tả trên những vấn đề, và cũng là duyên may cho gặp gỡ, cùng chung làm việc, trao đổi, giao lưu, có tương đồng, có dị biệt, có thuận, có nghịch để tạo cho nhau một thói quen team work.

3.9.Tôn Sư Trọng Đạo.

TL_TonSuTrongDao_1.jpg

Học nghề làm thầy có thể ở sách vở, ở các trường sư phạm, ở các khóa hội thảo, với đồng nghiệp, với phụ huynh, ở những đổi trao trên Internet, nhưng chính yếu vẫn là trong sự tiếp cận với học trò của mình, ở lớp học, ở sân chơi, ở văn phòng hay khi nhàn bộ, và những âm vang sau đó, khi mình với mình trên đường về hoặc bên đèn sửa hay soạn bài.

Tuy nhiên, không học dạy ở đâu bằng học ở ánh mắt, gương mặt, câu hỏi, giọng nói, thái độ, cử chỉ, và đủ trò-vụng về, phản kháng, thông minh, bén nhạy, láu lỉnh, quậy phá, câu giờ,..- của người học trò mà đã làm cho mình cảm thấy khó chịu, bối rối, hoang mang, bất an, tự tin và bằng lòng.  Không học ở đâu bằng học ở những người học trò của mình. Họ thực sự là những ông thầy cho mình nhiều kinh nghiệm nhất, thực tiễn và sâu đậm nhất.
Như vậy, nếu "tôn sư trọng đạo", là cái đạo của người học trò, thì tôi, trong cái học làm thầy giáo, tôi cũng phải biết "tôn sư trọng đạo":  kính, nể, trọng cái nhân cách đang hình thành trong những người thầy thật sự-mà là học trò của tôi.  Đó là tôn sư
Còn ‘trọng đạo'? -học trò của tôi và cũng là người thầy thật sự giúp tôi biết hiểu, thực hành và lớn mạnh trong nghề làm thầy-không có cái đạo nào để cụ thể truyền lại cho tôi.

Vậy, trong cụm từ ‘trọng đạo', chữ ‘đạo' chỉ có thể hiểu trong cái nghĩa là ‘đạo làm thầy',  tóm lược trong những ‘nghi lễ phụng sự', trong việc lấy kiến thức làm phương tiện, trong phương châm nhân bản, trong thực tiễn văn-tư- tu,  trong cái nhìn học trò là chính mà thầy là phụ, học và dạy thực chất là sống, và sau cùng là tôi, thầy giáo, phải biết, hiểu, hành trì ‘tôn sư trọng đạo', Tôn sư: tôn trọng cái nhân cách đang thành của người học. Trọng Đạo: Trân trọng, quí trọng cái đạo làm thầy.

Kết Luận: Một thoáng riêng tư                            

TL_OpenBook.jpg

Ở cái tuổi 85, trước mặt là cực lạc quốc hoặc ngục A-tỳ, không một ai muốn về nhưng buộc phải về. Nhìn lại, đã ‘mất dạy' trên hai thập niên. Muốn ghi lại những trăn trở trong cái nghề làm thầy, nhưng bỗng thèm muốn nó là một cái đạo-‘đạo mà không là đạo', không phải để ‘vọng cầu một cái gì ‘thường hằng', phi thời gian, mà nhằm tự nhắc: cái khả năng mất mình trong đạo lý, một triết thuyết, một  tổ chức. Đắc đạo không bằng không đắc đạo.  Mong được chia xớt với các bạn đồng nghiệp và phụ huynh, và được góp ý. Mong lắm thay.

Ghi chú: Tôi chân thành cám ơn:

1.       Nhà văn và giáo sư Trần Bang Thạch đã chịu khó đọc, góp ý, sửa chữa để bài đến độc giả trong hình thức trang trọng và dễ đọc tối đa

2.      Giáo sư Đổ Chiêu Đức đã giúp tôi về phần Hán Việt.

Houston, TX Tháng 7, 30, 2015



[i] Thiều Chửu. Hán Việt Từ Điển. In lần thứ hai. trang 677.

[ii] Trang tử. Nam Hoa Kinh.

[iii] Lê Khắc Thanh Hoài. Internet.

[iv] Cựu Ước. Sáng thế Ký.

[v] Theo Wikipedia, Lycurge là  nhân vật huyền thoại của Sparte thế kỷ 9 hoặc 8 trước Chúa giáng sinh.

[vi] Hồ Chí Minh. Hồ Thị Thùy Dung. Giữ gìn và phát huy truyền thống tôn sư trọng đạo trong giai đoạn hiện nay. Internet: Ngày đăng: T4, 04/12/2013 - 15:28

[vii] Tính đảng, hiểu biết, gắn bó với xã nghĩa.

[viii] Thí dụ thầy dạy toán thì phải chuyên về toán,...

[ix] Lão Tử. Đạo Đức Kinh. chương 38. Mở đầu quyển hạ. Thượng đức bất đức, thị dĩ hữu đức; hạ đức bất thất đức, thị dĩ vô đức. Người có đức cao thì [thuận theo tự nhiên] không có ý cầu đức, cho nên có đức; người có đức thấp thì có ý cầu đức, cho nên không có đức. Nguyễn Hiến Lê. Nguồn Internet,

[x] Thí dụ: Kinh Kim Cang.

[xi] Thiều Chửu. Hán Việt Từ Điển. Tái bản lần thứ hai.

[xii] Anh học Văn, tôi dạy Toán cùng trong trường, nên quen gọi tôi là thầy.

[xiii] Đổ Chiêu Đức.       NGHIỆM 驗 : là loại chữ Hài Thanh thuộc bộ MÃ 馬 bên trái chỉ Ý, và chữ THIÊM 僉 bên phải chỉ ÂM, nên NGHIỆM nghĩa gốc vốn là TÊN của một loại NGỰA quí chạy thật nhanh. Có 3 nghĩa thông dụng hiện nay của chữ NGHIỆM là :
    1. NGHIỆM là XEM XÉT, là KIỂM TRA, như : XÉT NGHIỆM, Nghiệm Thi ( Xem xét xem tử thi chết vì lí do gì ). Nghiệm Thu ( Xem xét kiểm tra để chấp nhận )...
    2. NGHIỆM là HIỆU QUẢ, là Có Hiệu Quả, như Ứng Nghiệm, Linh Nghiệm, Hiệu Nghiệm,...
    3. NGHIỆM là CHỨNG NGHIỆM, là Bằng Cớ, là Từng Trải, là Kinh Nghiệm.

        Cho nên...
       NGHIỆM : có nghĩa chung là : Sự Hiểu Biết có Chứng Cứ, Từng Trải hoặc Thông qua quá trình Xét Nghiệm hẵn hoi, chó không phải sự Hiểu Biết Khơi Khơi !
       Vì vậy, ta có thể hiểu :

     * TRẢI NGHIỆM : là từ viết gộp lại của 2 từ TỪNG TRẢI và KINH NGHIỆM, có nghĩa : Những Hiểu Biết Kinh Nghiệm do quá trình Từng Trải mà có được. TRẢI NGHIỆM là Cái Kết Quả có Quá Trình !

     * THỰC NGHIỆM : Chữ THƯC 實: là chữ Hội Ý, gồm Bộ MIÊN 宀 là Cái Nóc Nhà ở trên và chữ QUÁN 贯 là Tài Vật, Đồ Đạc bên dưới. Ý chỉ : Đồ Vật đầy cả Nhà, nên THỰC có nghĩa là GIÀU CÓ, Nghĩa phát sinh là ĐẦY ĐẶN, là CÓ THẬT, trái với chữ HƯ 虛 là trống lỏng không có gì ! Từ đó, THỰC có nghĩa là THẬT như THỰC TẾ, THỰC THỂ, THỰC TIỄN... Nên,
      THỰC NGHIỆM : là Sự Hiểu Biết,Kinh Nghiệm  có được thông qua Thực tế có thật do mắt thấy tai nghe hoặc do Quá trình làm việc  hẵn hoi.

      Còn...
    * TRỰC NGHIỆM : TRỰC 直 : là chữ Hội Ý, gồm chữ THẬP 十 là số Mười ở trên, bên dưới là chữ MỤC 目 là con Mắt ở dưới. Ý chỉ Mười con Mắt cùng đổ dồn về một hướng, nên có nghĩa là THẲNG, như Trực Tiếp, Trực Diện, Trực Giác... Nên,
      TRỰC NGHIỆM : là Cái Kinh Nghiệm, Hiểu biết đến một cách Trực Tiếp thông qua những kiến thức, kinh nghiệm CÓ SẴN từ trước.
      Vì thế...
        TRỰC NGHIỆM chỉ dựa vào quá trình hiểu biết chủ quan rồi CẢM NHẬN ra sự việc, thiếu cơ sở vững chắc như THỰC NGHIỆM và TRẢI NGHIỆM !

[xiv] Minh Đức Triều Tâm Ảnh: Những Hiểu Lầm Về Đạo Phật.

 "Tu là sửa: Nếu tu là sửa thì mình đã từ "cái ta này" biến thành "cái ta khác". Nếu tu là không sửa thì cứ để nguyên trạng tham sân si như vậy hay sao? Xin thưa, sửa hay không sửa đều trật. Đạo Phật quan trọng ở Cái Thấy! Có Cái Thấy mới nói đến giác ngộ và giải thoát. Không có Cái Thấy này thì tu kiểu gì cũng trệch hướng hoặc rơi vào phước báu nhân thiên.'

[xv] Vay mượn ngôn từ và ý niệm Ky-Tô-Giáo: Ba Ngôi-Đức Chúa Cha-Đức Chúa Con và Đức Chúa Thánh Thần, tuy ba nhưng mà là một, bất khả phân..

[xvi] Vay mượn ngôn từ và ý niệm Phật Giáo: Tam thân là PhápThân, Hóa Thân, Báo Thân. tuy ba nhưng mà là một, bất khả phân.

[xvii] Phỏng theo một  truyện trong quyển ‘Le Livre unique de français, par D. Lafferanderie.'

[xviii] ‘Tiền trừ niên thiếu, hậu trừ lão, duy hữu trung gian tam thập niên.' Câu tôi học thuở nhò.

[xix] Genesis 3:19. By the sweat of your brow you will eat your food until you return to the ground.

[xx] HT Thích Thiện Hoa. Phật Học Phổ Thông.  Sự Quy Y.

[xxi] Giáo sư Bác sĩ Trần Quang Đệ, Nguyên Viện Trưởng Viện Đại Học Sài gòn.

TÔI LÀ AI?

                                                                                                                                                                                                                                                             Nguyễn Văn Trường

 

1.    Một nét của tôn giáo ngày nay.

 

Trong đời sống hằng ngày, cái gì đã qua, ta không để nó qua, mà trái lại thường cố giữ, ôm chặt, ôm cứng, có khi lại kể lể, lê thê, dài giòng...văn tự.  Chuyện vui mấy rồi cũng trở thành nhàm chán, huống chi là chuyện khổ. Càng khổ, càng cực nhọc khó khăn, càng ôm lấy trong ký ức.  Cho nên tâm thức càng ngày càng thêm đầy, thêm nặng, khổ chồng thêm khổ.

Các sư sãi, muốn lập giáo, lại dọa : ‘Đời là khổ, hãy theo ta- xây chùa, lập giáo.' Nghe theo sư, chúng ta, cùng chung nhau dựng lên một hàng giáo phẩm. Họ sẽ chỉ cho ta con đường thoát khổ, thoát khỏi sinh tử luân hồi, họ bảo đó là ‘con đường mà khi xưa Đức Phật theo đó đã chứng ngộ Niết Bàn.'
Sư sãi, vô tình hay hữu ý, tạo nơi chúng sinh một tâm lý khổ, muốn thoát khổ, tìm an lạc.

Trong lễ qui y, người tín đồ được dạy: thay tên đổi họ, và nguyện rằng: từ nay luôn ‘nương tựa, vâng lời, và phục tùng'[i] tam bảo. 
Tam bảo là Phật, Pháp, Tăng. 

Phật thuộc quá khứ, biết qua truyền thuyết thì quá nhiều so với cái biết lịch sử.

Pháp là ngôn từ, văn học: truyền khẩu; kết tập lần thứ nhất, lần thứ nhì,..., tam sao thất bổn, rồi chuyển từ Phạn, Pali sang chữ Hán, và Việt hoặc chuyển từ  Hán sang Việt, rồi thêm công trình các Tổ, và....  luận bànNgôn từ, chữ nghĩa lại đổi thay theo thời gian và không gian, mỗi sư hiểu một cách, mỗi người một cách, khác nhau, tùy nơi, tùy thời, tùy bối cảnh. Từ Đức Phật đến các tăng lữ ngày nay--khoảng 2500 năm, một khoảng giới hạn thời gian, thế nhưng vô cùng xa : ngôn từ, chữ nghĩa truyền đi từ thời nầy sang thời khác, từ nền văn hóa nầy sang nền văn hóa khác, đổi thay từ hình thức đến nội dung. 
Cho nên, ‘Theravada chưa hẳn đã thật là nguyên thủy, mà Đại Thừa chưa hẳn đã xa Đức Phật hơn Nguyên Thủy.' Thế mà, hầu hết tín hữu trọn vẹn tin Tăng, lấy lời Tăng làm lời vàng thước ngọc.
Mặt khác, người tín hữu, đã mang một tâm lý ‘khổ-và-khổ-chồng-thêm-khổ', gặp được ‘minh sư'; ‘minh sư' xác quyết ‘sinh, lão, bệnh, tử : khổ ; cầu bất đắc : khổ, ..v.v', rồi bảo người tín hữu nguyện từ nay ‘nương tựa, vâng lời, phục tùng' tam bảo, mà thật sự là Tăng, và nghĩ cho cùng, Tăng là ‘minh sư', ‘bổn sư' của mình.

 

Tóm lại, lòng mình đã đầy vì tích lũy kiến thức, kinh nghiệm, và quen thuộc tích lũy. Học và luyện. Huấn luyện kỹ xảo, tài khéo, trí tuệ, tính tình, tâm linh, để mình luôn tài giỏi hơn, kiên nhẫn hơn, sáng suốt hơn, và...  thành đạt ngày càng cao hơn. Và như vậy, có lúc mình trở thành như cái máy, mà không hay biết. Đến khi được  sư dạy: ‘Đây là kinh, mà kinh là lời của Phật, bất khả tư nghì-không thể nghĩ bàn.' Thế rồi, đông đảo chúng ta cả-tin theo sư.  Nương tựa, vâng lời, và phục tùng.' Vậy  là giao hồn mình cho sư. Dễ ợt!

Mình trở thành như cái máy, lặp đi lặp lại chỉ một vài động tác-tìm tòi ở sách vở, ở danh nhân,.. rồi cả tin, tích lũy, tích lũy,....để rồi tự trang bị một tâm lý sẵn sàng: "nương tựa, vâng lời, và phục tùng" nhà chùa. Thế là giao hồn mình cho sư.

Mặc áo tràng hay áo đen, tay lần chuỗi hột,  chưa hẳn là tu. Nói hay, nói giỏi, thông minh trong ngôn từ, trong xử thế, không hẳn có lòng thành tu học, cũng không hẳn có khả năng tự độ và  cứu độ cho người khác. Vả lại là người, chưa là Phật, cái ánh sáng của sư sãi cũng giới hạn, dù rằng có nhiều người trong họ thuộc hạng thánh hiền.

Mặc khác, trong thời đại kinh tế thị trường ngày nay, đi tu có khi là một nghề nghiệp : Đại Đức, Thượng Tọa, Hòa Thượng,  Cha sở , Đức Ông, Đức Cha, Đức Hồng Y,.. với những hào quang, danh vọng, huy hoàng mà các tước vị --làm Thầy hay làm Cha thiên hạ--đem đến cho họ.
Trong số họ, hẳn có những người chân chất, sòng phẳng với khách hàng, nhưng bọn gian thương thì lúc nào cũng lẫn lộn, vẫn đông, thật khó lường. Trong bối cảnh đó, còn lắm người tín hữu lại lười biếng, không chịu học, không chịu suy nghĩ về nội dung kinh kệ, lễ nghi cúng kiến, phương cách tu tập, tổ chức và hướng đi của hàng giáo phẩm.  Có người cứ nghĩ lấy tiền mua tiên cũng được, rồi đóng góp cúng dường cho sư, gọi như vậy là tu phước, nghĩ rằng làm như vậy là đầu tư cho kiếp sau. Hồi xưa thì mua bán‘bằng xá tội vong nhân-indulgences[ii].' Giờ thì cúng sao, cầu an, chiêu hồn, xin xăm, ấn tống, đại nhạc hội xây chùa, cất nhà nguyện, trai đường,....hoặc đăng báo‘bạch y thần chú, lấy ảnh của một cô nào đó làm ảnh của Bồ Tát Quan Thế Âm, hay lời nguyện cám ơn Cha TBN với ảnh của Ngài,..  Có hơn một sư trụ trì gọi đó là phương tiện để lôi cuốn phật tử đến chùa, tạo điều kiện cho họ nghe giảng pháp. Vậy thì mọi phương tiện đều tốt để đến mục tiêu tối hậu là....???
Một bên thì ẩn tàng nhiều kẻ bất lương, một bên thì lắm người biếng nhác, tin ở lời hay tiếng đẹp, nạp hồn mình cho Satan mà nghĩ rằng đi theo Chúa, hoặc ỷ lại nơi Thầy, nơi Cha, không chịu khó tìm hiểu-hiểu Kinh, hiểu tổ chức, hiểu thầy, cha, và nhất là hiểu chính bản thân trong quan hệ với môi trường hay ngay trong nội tâm.

Cho nên, trong việc tu tâm, dưỡng tánh, hoặc tu Đạo Phật hay Đạo Chúa, các kinh sách, thánh nhân, đều dạy: ‘Hãy trở về với chính mình'

Trong Phật Học Phổ Thông, Bài thứ 4, về Quy Y Tam Bảo, Hòa Thượng Thích Thiện Hoa có viết về Lý Quy-Y Tam bảo như sau :
‘Lý là bên trong. Lý quy-y Tam-bảo nghĩa là quy-y Tam-bảo trong tâm chúng ta.
1- Tự Quy-Y Phật: Tự quy-y Phật là mình tự trở về với Phật tánh sáng suốt của tâm mình,
2- Tự Quy-Y Pháp: nghĩa là vâng theo pháp tánh của mình. Trong tâm ta có đủ tất cả các Pháp: Từ-bi, Trí-tuệ, Bình đẳng, Sáng-suốt, Nhẫn-nhục, Tinh-tấn... chúng ta cần phát huy những đức tánh ấy và hành động theo chúng, tuân theo chúng.. 
3- Tự Quy-Y Tăng: nghĩa là vâng theo Thầy trong tâm mình, Thầy trong tâm mình là đức tánh hòa hợp thanh tịnh của mình..'.
 

Về phía Ky-Tô-Giáo :
‘Nước của Chúa là ở ngay trong trong bạn'[iii] là tựa đề của một quyển sách của đại văn hào Nga Leo Tolstoy.
Trong một kỳ đi du lịch Châu Âu, chúng tôi có dịp viếng một nhà thờ cổ--hình như ở Ý-Ông bạn tôi, Bác Sĩ Nguyễn Văn Vĩnh có chép lại một bài ngắn khắc trên cẩm thạch, tựa đề là ‘Hành trình đích thực của con người...'
Đó  là :
‘Nơi mà tất cả các công trình tu-đức đều hướng tới, có thể được diễn-tả bằng một danh-từ:  Trái Tim..
Kho tàng của người Ki-Tô-hữu ở đâu, nếu không phải là ở trong Tâm?
Ở trong mỗi người, có một nơi, thâm sâu hơn cả bản thân mình, nơi bạn không thể vào được, nếu không được phép bản thể đang ở trong đó, nơi mà bạn phải cố gắng lâu dài, dưới ơn soi của một ánh sáng tinh-tuyền, sau khi đã từ bỏ bản thân mình. Chính ở đó Thượng-Đế đã đặt tia sáng huyền-diệu mà bạn đã mang trong người bạn, là hình ảnh của Thượng-Đế, là nguồn nước hằng sống nuôi dưỡng đời sống vĩnh-cửu. (John 4,14).
Thượng-Đế đã tạo dựng TráiTim của bạn lớn đủ để chứa đựng Ngài. Trái Tim bạn chứa đựng Đấng mà cả vũ trụ không chứa đựng nỗi. Vì thế, Trái Tim con người lớn hơn cả vũ-trụ. TÂM con người lớn hơn cả vũ-trụ. TÂM con người là nơi Đấng Tạo-Hóa ngự-trị, và, với Ngài, chứa đựng cả vũ-trụ càn-khôn[iv]..........'

Nói chung, với Phật giáo và Ky tô giáo, tu là trở về với chính mình, với cái Tâm của mình


Vậy, mình là ai ? Tâm mình là cái gì ?


2.TÔI LÀ AI ?


Với câu hỏi "TÔI là cái gì?"-WHAT IS ‘MYSELF'? - Bà Tâm Minh[v] đáp :

I am my feelings
Feelings come and go
Like clouds in windy sky
My mind is a TV[vi]
With thousand of shapes
I am what I choose to be
Calm and compassionate
Collected and happy[vii]

Phải chăng Bà muốn nói:
Tôi là cái ‘hỷ, nộ, ái, ố, ai, lạc, dục' ấy. Chúng  đến rồi đi, như mây, như gió.  Tâm tôi như màng ảnh truyền hình, triệu triệu hình ảnh và sắc thái. Tôi là cái mà tôi chọn. Tĩnh lặng và từ bi.  Thanh thản và hạnh phúc.

Bà như  muốn nhấn mạnh trên sự đổi thay liên tục của tâm thức: như mây, như gió. Không ai giữ mây đừng tụ, đừng tan, đừng bay, không ai buộc được gió phải ngưng thổi, hay thổi chậm, thổi mau, về  hướng nầy, hướng khác,...Nhưng tôi, con người, tôi có khả năng chọn lựa. Thí dụ: 1/ hoặc, tôi chọn làm con rối chạy theo những đổi thay nhanh và vô cùng ấy.  Điên đảo, quay cuồng, không còn biết mình là ai. Một tâm thức vong thân. 2/ hoặc tôi để -những tâm thức ấy-tự đến rồi tự đi. Chọn để ‘tự lai tự khứ': chọn không trú ẩn ở một nơi, một ý tưởng, một nguyên lý, một dogma nào, hay chọn an bài trong một số nguyên tắc, hay chi chi khác,..

Tôi là cái mà tôi chọn.

Và Bà chọn: Tĩnh lặng.


Tĩnh lặngTĩnh đối nghĩa với động. Tĩnh ngầm có nghĩa là ‘im lặng, yên ổn'[viii] Lặng là chữ nôm, ở đây như để nhấn mạnh nghĩa cho ‘tĩnh'.  Nói riêng: tự đến, tự đi, tôi không bận tâm. là sự việc, là cảm xúc, là tư tưởng, là giá trị, là ký ức,..., tất tất  tôi đều cảm nhận được, biết được, ý thức rõ ràng.
Vui?
Tôi không ôm lấy, muốn nó ở mãi với tôi.  Nhờ vậy, mà không nuối tiếc; hoặc giả thấy mình mất mát.
Buồn? Hận?
Tôi không ghi tâm, khắc cốt, không dưỡng nuôi để ‘biến hận thù thành sức mạnh,' không giữ nó mãi trong lòng.
Buông. Xả: Lòng được nhẹ.

Đó là cái nghĩa mà tôi thường hiểu, khi học Phật.

Tuy nhiên, trong giới hạn khả năng ngôn ngữ, những điều nhắn gởi sau đây đáng cho ta ghi nhận:

‘Tĩnh lặng không có nghĩa là ngồi yên.' Ngồi yên mà tâm lăng xăng lo nghĩ, thì không là tĩnh lặng.
‘Tĩnh lặng không nghĩa là không cảm.' Vô cảm như cây, gỗ, đá. Con người không là gỗ đá..
‘Tĩnh lặng không có nghĩa là không làm gì cả.' ‘Tĩnh lặng không là: sống nhờ ăn bám xã hội.'
‘Tĩnh lặng không có nghĩa là bất cần,' mà cũng là ‘tỉnh thức'-tỉnh như người ra khỏi cơn mê, ‘tỉnh' viết với dấu hỏi -và ý thức được thực chất những gì đang xảy ra cho mình và môi trường chung quanh.
Tĩnh lặng không có nghĩa là tốt...' Tĩnh lặng ở ngoài phạm vi giá trị, tốt xấu, đúng sai,..

Tĩnh lặng không có nghĩa gì khác hơn là... tĩnh lặng.

‘Bạn có thể ngồi yên và tĩnh lặng, hay đang chạy mà tĩnh lặng.
Bạn thấy tất cả mọi sự và vẫn tĩnh lặng.
Bạn cảm được mọi sự và vẫn tĩnh lặng.
Bạn có thể làm mọi sự và vẫn tĩnh lặng.
Bạn vượt lên trên cả tốt và xấu trong phán xét.
Bạn vượt lên trên cả thiện và ác trong định giá
Bạn vẫn làm các việc thiện và tránh việc ác, nhưng không chấp vào thiện ác đúng sai.'

 Đây không phải là lý luận. Tĩnh lặng là ‘trải nghiệm, thực nghiệm, và trực nghiệm
.'[ix]

Tĩnh lặng là duyên lành  cho từ bi:  từ bi ba-la-mật, từ bi của nhà Phật. Tiếng Anh, từ bi còn là ‘Com-passionate': ‘Com' hàm ý: ‘cùng với nhau'; ‘passion' là ‘cuộc thương khó'[x] , cái khó ẩn tàng,  ví với những cảm xúc của Chúa Giuse từ bữa tiệc cuối cùng đến lúc lên thập giá. Tình thương thật, mà là tình thương khó.

Không có một tình thương nào là tình thương dễ--nhẹ dạ, chơi qua rồi bỏ, chạy theo thú vui của bản năng. Chơi qua rồi bỏ không có nghĩa là ‘tự lai tự khứ'-tự nó đến rồi tự nó đi, lòng ta không dính mắc- mà là biểu hiện sự nô lệ ở bản năng.

Hồi nhỏ, tôi thích thú, và giờ vẫn còn nhớ, mấy câu thơ sau đây:

‘Yêu, là chết ở trong lòng một íticon_popup_comment,
Vì mấy khi yêu mà chắc được yêu?
Cho rất nhiều, song nhận chẳng bao nhiêuicon_popup_comment:
Người ta phụ, hoặc thờ ơ, chẳng biết.'


Giờ đây, thì tôi nghĩ: đó là tình yêu ‘cân, đo, đong, đếm,' ‘cho, nhận', trong đó có cái tôi -tính-toán-thiệt-hơn. Cái tôi-an trú-trên-những-điều-kiện-nầy khác, hãy tạm gọi nơi an trú nầy là vọng-ngã. Ngay cả cái tình cân-đo-đong-đếm đơn giản thế mà cũng có cái khó của nó.
Thương yêu là một tình cảm trong sáng. Nhưng vừa phát khởi thì ngay đó, vọng ngã chặn trên đường. Rồi tính toán thiệt hơn. Ba-la-mật có nghĩa: vọng ngã ‘tự lai, tự khứ', tâm không vướng trong ấy, không vì đó mà dao động.Gọi như vậy là ‘tĩnh'-dấu ngã-mà cũng là ‘tỉnh'-dấu hỏi-tỉnh thức, sực tỉnh như sau cơn mê; mê vì mình đã chụp vọng tưởng của mình trên tự thân và trên đối tượng thương yêu.
Cho nên nói Balamật là nói không bị vọng ngã chi phối, để thấy hiểu, cảm thông đối tượng, và cũng thấy hiểu chính mình, trong cái thật thà nhất, trung thực nhất mà có được.

Có lẽ nhờ vậy mà Bà Tâm Minh thấy thanh thản, bình tâm, an lạc, hạnh phúc.

Cũng cần phải ghi thêm một lần nữa:

Đây không phải là lý luận. Tĩnh lặng, thanh thản, bình tâm, an lạc, hạnh phúc nầy là một phút giây, một thời điểm  thuộc một quá trình thực chứng:"trải nghiệm, thực nghiệm, và trực nghiệm.'[xi]

3.TRẢi NGHIỆM, THỰC NGHIỆM, TRỰC NGHIỆM

Những trích dẫn về nghĩa của ‘tĩnh lặng' trên đây, có giúp tôi hiểu ít nhiều về những từ ngữ nầy. Tôi cũng hiểu cái biết của mình bao giờ cũng giới hạn, cho nên, tôi có xin Ông Thầy Đồ của tôi[xii] soi sáng thêm cho tôi.

  • Nghiệm, dùng trên đây và trong suốt bài nầy, có cả ba nghĩa-kiểm tra xét nghiệm, hiệu nghiệm, chứng nghiệm-trong lời giảng của ông thầy đồ của chúng tôi, nhưng chính yếu là trong cái nghĩa thứ ba: Nghiệm là chứng nghiệm.
  • Trải nghiệm hàm ý một quá trình từng trải qua chứng nghiệm. Trong cái nhìn vĩ mô, có hai loại ‘từng trải':
    Thứ nhất: Chuyện kể rằng hồi xưa, thời ‘liều chỏng', có một thí sinh cần mẫn, mỗi đêm treo tóc lên trần nhà[xiii]-để phòng xa ngủ gật, và để học bài. Một hôm, ông liên tục đọc ‘hàn thử[xiv] là nóng lạnh', và đến khuya,vì quá mệt và buồn ngủ thì ‘hàn thử là nóng lạnh' trở thành: ‘Hoàng tử nóng lạnh'. Chuyện tiếu lâm, nhằm minh họa cái ‘từng trải'  học thuộc lòng của người xưa.
    Đó cũng là cách học của các em học nghề, lặp đi lặp lại những động tác nhất định, cho thuần thục, mà không cần phải nghĩ suy. 
    Đó cũng là anh hề Charlie Chaplin trong phim The Modern Times[xv], hai tay vặn óc, trong giây chuyền lắp ráp công nghệ, để rồi vẫn tiếp tục những động tác ấy một vài phút sau tiếng còi cho phép nghỉ ngơi.
    Những thí dụ nầy minh họa cho thói quen lặp đi lặp lại thường xuyên, một cách tự nhiên, tự động, không ý thức, mà lắm khi rất tinh xảo của chúng ta. Đó là những lời chào hỏi hằng ngày khi gặp nhau, tự động, theo lệ thường. Đó cũng là những kết luận trong khuôn nếp của thành kiến,...Những thói quen thường ngày ấy, cần thiết cho cuộc sống, cần thiết cho việc làm teamwork, đòi hỏi một sự ‘từng trải', và có thể biến con người thành con rối, múa men, xử thế, theo những qui định, do cấu trúc của việc làm, của cơ quan, của cộng đồng hay nói chung là môi trường sống.
    Thứ hai:
    Thực chất của  trải nghiệm, là một loạt thử nghiệm tính nhạy cảm của con người, trong đó, ngũ uẩn[xvi]-sắc, thọ, tưởng , hành, thức-phải trực diện với thử thách trước mặt, được sử dụng và phát triển cực đa, để tiếp cận, thấy biết, thấu hiểu, để không chỉ lặp lại đơn thuần một số động tác thô thiển, mà còn đòi hỏi nhiều trí tuệ, suy tư, sáng tạo, để sử dụng hữu hiệu những kinh nghiệm, mà không kẹt, không bị lún sâu hay mù quáng trong thành kiến, trong thói quen.
    Tóm lại, trải nghiệm hàm ý cả hai loại nêu trên: luyện tập, học hỏi, thói quen, trí tuệ và công sức đầu tư.

 

  • Thực nghiệm hàm ý là thật, như trong thực tế, thực tiễn. Nói cách khác, thực nghiệm là thực chứng; không chỉ  do hệ quả của lý luận trừu tượng, cũng không do ảo tưởng mà có.

    Truyện kể[xvii]:

    ‘Xưa, thời Giáo Tông của Giáo Hội Đỏ, có một Thượng Thủ--và cũng là một nhà tư tưởng lớn của Giáo Hội, khám phá ra một sự thật, ‘chân thật bất hư'-chắc như bắp rang, ‘sông có cạn, đá có mòn, nhưng cái chân lý nầy' của Ngài, không bao giờ thay đổi.  Do đó, Hội Thánh trao một giải thưởng thưởng lớn, chưa từng có cho đến giờ, cho ai giải thích được sự thật, ‘bất khả tư nghì' nầy. Đó là:
    ‘Tại sao, một cục đá bỏ vào một thau nước đầy thì nước tràn, mà một con cá, dầu rất nhỏ, thả vào một thau nước đầy, thì nước không tràn.'
    Thế rồi, năm châu bốn biển, nhiều luận án của các vị tiến sĩ, thạc sĩ, hàn lâm sĩ,.., gởi về,.. Một hội đồng viện sĩ được triệu tập, để nghiên cứu và đánh giá.
    Trong những luận án gởi đến, luận án nào cũng vài trăm trang. Nhưng có một, rất  đơn giản, gồm chỉ hai câu, của một cậu bé: ‘Con có lấy một thau nước đầy, có thả một cục đá vào đó, thì đúng như vậy, nước trong thau trào ra. Và cùng in hệt  những điều kiện trên, cũng thau nước đầy, con thả vào một con cá lòng tong nhỏ xíu, và con lập đi lập lại như vậy rất nhiều lần, nhưng lạ thay, nước vẫn tràn ra.'
    Từ ấy, con người-ngoài hội thánh- đòi hỏi bằng cớ, thực nghiệm, thực chứng.

  • Trực nghiệm, trong bài nầy, ngoài cái ý trực-tiếp tiếp-cận-không qua trung gian--còn hàm ý là: có do trực giác-intuition, insight- mà nhận thức.  Trong trường hợp nầy, , trực nghiệm cần được bổ túc bằng thực nghiệm. Điều nầy làm tôi nhớ lại một trong những bài thơ ít oi mà tôi đọc được: bài Tống Biệt[xviii] của Tản Đà.

    "Giới thiệu bài thơ này, thi sĩ Bùi Giáng có lời bình:

Lá rơi - Hình ảnh của lìa tan, của ly biệt...Người đi. Khách phàm trần đã lên đây, đem lên đây tình yêu của hạ giới, gây bàng hoàng cho lòng xanh tiên nữ, để giờ đây chia biệt, đem tình về hạ giới, cho lòng xanh tiên nữ lại bâng khuâng...Lời tiễn đưa vang nhè nhẹ giữa Đào Nguyên trăng sáng rộng vô ngần. Như hồn xuân đêm yểu điệu. Như ngậm ngùi tình vương vấn thiên thai. Như gió lùa thổi vào tâm hiu hắt...

Sực tỉnh rồi...còn đâu nữa mộng lòng xuân. Nụ hồng giữa vườn xuân không hé phơi lần nữa. Đá mòn. Rêu nhạt. Nước chảy-Huê trôi. Cái hạc bay lên vút tận trời...đem đi mộng cũ của lòng ta...Tình của người lặng đi giữa bốn bề câm nín. Lạnh mang mang vây ám mãi nghìn năm. Đường lối cũ, nơi đầu non cửa động. Trăng chơi vơi còn sáng mãi, hững hờ. Mộng Thiên Thai võ vàng, đã mòn mỏi...

Bài thơ quả là có mang ý nghĩa tượng trưng đó. Tống biệt? Vĩnh biệt Thiên Thai là vĩnh biệt hồn thơ của tuổi mộng-Tuổi mộng không ở mãi với hồn thơ, để thắm mãi giữa đời...[xix].

 

Trích dẫn lời đánh giá trên đây của một thi nhân, tôi không mạo hiểm đi vào  nghệ thuật thơ văn. Tôi chỉ muốn là mượn một ý của Ông Bùi Giáng, để nói về một trực nghiệm của  tôi.

 

            Truyện kể:
Có một lần tôi lạc chốn Thiên Thai:
Huế, giữa hai giờ dạy học, một buổi sáng mát trời, tôi rảo bước trong sân trường. thì bỗng nhiên, nàng hiện lên, thong thả đạp xe ngang, áo nữ sinh tha thước, vành nón lá nghiêng nghiêng. Hồn nhiên, trong sáng, ngây thơ; ngoài thế tục.Thế là, thêm một họ Nguyễn lạc Thiên Thai. Duyên lành, tình đẹp, một ‘năm tiên cảnh'.
Duyên khởi, cái ban đầu ấy là trực giác, trực nhận, thẳng vào đối tượng, không nghĩ suy, không đắn đo, không tính toán thiệt hơn. Cái trực giác ấy cần thiết cho hứng khởi của thi nhân, cần thiết để buông bỏ các thói quen, để buông mình xuống vực thẳm thơ văn-hay thăng hoa, vượt khỏi cái thông tục trần ai.
Cái duyên khởi, trực giác, trực nhận là một bước ... nhập Thiên Thai, là duyên cho thi nhân gặp Nàng Thơ, là tình cho Nguyễn tôi tương ngộ với người trong mộng.
Nhưng rồi, cái thói quen đong-đo-toan-tính-thiệt-hơn, từ từ trở lại với tôi: vui tôi muốn vui hơn, vui mãi, ..Tôi sanh lòng chiếm đoạt, tính chuyện trăm năm. Thế là chúng tôi rơi về trần tục. Thiên Thai không có chỗ cho phàm nhân.
Trong trực nghiệm, tôi muốn nhấn mạnh cái chi tiết trực giác-duyên ban đầu mà đẩy con người vào một cuộc phiêu lưu ‘vô-định', đầy hiểm nguy nhưng lắm khi cũng là hiểm nguy kỳ diệu và  lý thú. Những giòng thơ bất hủ--Tống Biệt- của Tản Đà, và duyên tình của chúng tôi!

 

Giờ thì ta có thể xác quyết:

Tôi
là một quá trình sống-trải nghiệm, thực nghiệm, trực nghiệm-và cũng là một quá trình  ý thức những đổi thay trong tâm thức, ý thức ở mỗi thời điểm về  môi trường và sự tương giao mình-môi trường. Đó cũng là một quá trình tiến hóa, từ trạng thái vô tri, vô thức đến tri thức- biết và ý thức- ý thức về tha nhân, về thiên nhiên, về cuộc sống chung quanh tôi, ý thức về những diễn biến nội tại trong chính tự thân.

 

Hoặc:

 

Cái tiến trình nêu trên đây biểu hiện cụ thể Tôi.  Và như vậy, Tôi hiện hữu, tôi có một nhân cách, một tính tình, một bản sắc đặc thù, không giống bất cứ ai.

 

@@@

 

           

4.    Phần Kết. Tôi là cái mà tôi chọn.


Xác quyết nầy ẩn tàng chấp nhận những tiên đề sau đây:

 

  • Tiên đề 1: Tôi có nhiều đường lựa chọn. Tổng quát hơn, con người có nhiều đường nhiều thứ để lựa chọn.

Lần duy nhất lạc Đào Nguyên, đối tượng duy nhất, thì làm gì được lựa với chọn; duyên may sực đến, thời giờ đâu để đắn đo suy nghĩ thiệt hơn, phải nắm bắt ngẫu nhiên, thả người vào phiêu lưu vô định.
Ngoài ra, không có đối tượng thì có cái gì để chọn?

 

Muốn có chọn lựa phải có nhiều đối tượng. Ít nhất là hai.

Vào một tiệm ăn bao bụng-buffet ở Mỹ, trả khoáng, ăn no bụng mới thôi, thì tôi có nhiều món ăn tùy hỷ. Sự lựa chọn thật dễ.
Nhưng cũng có những trường hợp ở ngã ba đường, như Thúy Kiều, một bên là cha mình, một bên là người yêu. Chọn bên nầy, mất bên kia.  Cho nên:

‘Ôi Kim Lang hỡi Kim Lang,
Ôi thôi, thiếp đã phụ chàng từ đây.'

 

là tiếng kêu thống thiết, tuyệt vọng của nàng Kiều khi đã chọn ‘bán mình để chuộc cha.'

Những năm tháng cận ngày 30 tháng tư 1975, hầu hết người Miền Nam Việt Nam đều phải chọn giữa hai con đường: đi hay ở.  Đi là xứ lạ quê người, dị biệt ngôn ngữ, dị biệt nếp sống, phong tục, tập quán, nói chung là khác biệt văn hóa, ... phiêu lưu,..với hai bàn tay trắng.  Đi thì có thể thoát thân, lập lại cuộc đời, nhưng còn mẹ cha, anh chị bỏ lại đàng sau,... Ở lại, thì chế độ mới-mà chẳng ai biết gì, ngoại trừ một số sách báo, ... với những dữ liệu thật dễ sợ.

Đi hay ở, đường nào cũng tối om. Đường nào, cũng phải mang thập giá. Theo đó, cần phải thêm:

 

  • Tiên đề 2: Tôi có phương tiện hoặc bản lãnh hay khả năng để tính toán thiệt hơn, để ước tính thập giá mà tôi phải mang, những hệ quả xấu nhất mà tôi phải chịu. Tổng quát hơn, con người có năng lực chọn lựa. Thí dụ: phải hay trái, đúng hay sai, .... cái thích hợp, hay không thích hợp cho mình hay cho ai khác.


Nếu không có những khả năng nầy thì việc đi bên nầy bên khác, là việc may rủi, ngẫu nhiên, phú cho Trời, cho số mạng.

 

  • Cũng phải ghi nhận rằng khả năng của một cá thể--của riêng tôi-thì giới hạn, ánh sáng và tầm nhìn của tôi tùy thuộc ở cái thấy, biết và hiểu của tôi, theo đó rất hạn hẹp. Ở thế tục, không có sự hoàn hảo, rốt ráo, không thể nghĩ bàn.
    Cho nên, nhận lấy thập giá của sự chọn lựa, một phần là do trách nhiệm tự thân-trong giới hạn thấy, biết, hiểu của tôi; còn phần mù của tôi do Chúa định.

 

@@@@

 

Với câu hỏi "Tôi là cái gì?", Bà Tâm Minh gợi nhớ: một quá trình tìm tòi học hỏi, thực nghiệm, thực chứng của tôi, manh nha thuở tôi còn ở ghế các trường Trung Học, trong các cuộc cãi vã nhau về chủ nghĩa hiện sinh, về sự vong thân, về nghệ thuật-vì nhân sinh hay vì nghệ thuật, giữa anh chị tôi, hay giữa bạn bè tôi trong bàn ăn nội trú. Bốn thập niên qua, tôi có đi tìm đạo, học Đạo Phật, học hỏi ở nhiều thầy.
Tôi được may mắn:
Chùa nào cũng mở rộng cửa, quý thầy mở rộng vòng tay. Tôi có nhiều đường chọn lựa: Chùa, thầy, phương pháp tu. Tôi có một thời gian tập thiền, để... an tịnh trong lòng. 
Muốn an, tức lòng bất an. Cố gắng an tâm bằng cách nầy cách khác, có khi là đè ép tâm thái, hoặc tạo một tự kỷ ám thị, một an tịnh giả tạo, mà bên dưới thì sôi sục.
Thế rồi, cho đến giờ, tôi quanh quẩn trước cổng chùa, quanh quý thầy, còn đắn đo, chưa bước vào trong, quy y, cầu nguyện, rước lễ, xin một pháp danh, .., có một minh sư hướng dẫn.

Nhìn lại, tôi có những lý do nhất định:

 

Lý do nông cạn:

  • Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, hình thành từ 1963, có vẻ như muốn đi vào chính trường, tranh dành quyền lực, cố tạo một kiến trúc ít nhiều theo hình ảnh của Giáo Hội La mã, thời xưa.
  • Giáo Hội bị phân hóa. Nhà chùa trong cái bát nháo của thế gian, chia thành năm phe bảy phái, và trong một giới hạn nào đó, trở thành những cơ sở kinh doanh. Ở trong nước, chùa chiền là nơi cho du khách thăm viếng. Việc ‘phật sự' có nơi, gói lại là tụng kinh, cầu siêu, cầu an, cầu hồn, cúng sao hạn, xin xăm, đại nhạc hội xây chùa, hội trường,..., tạo điều kiện để lôi kéo du khách, tín hữu...
  • Mọi phương tiện đều tốt để tụ tập người đến chùa, tạo duyên cho quý thầy ban pháp.

Lý do bên trong:

 

  • Lý quy y là quy y tam bảo trong tâm của chúng ta.
  • Tu học không chỉ là lý luận. Bên cái lý-logic, rational- có cái phi lý, vô lý-illogic, irrational-mà cái phần phi lý, vô lý của con người thì vô cùng lớn và đa dạng hơn cái phần hữu lý. Vì rằng cái phần phi lý, vô lý ấy thuộc lãnh vực tình tự con người, và cũng phát xuất từ những khác biệt, mâu thuẫn, xung đột, trong tương giao giữa người với người.
  • Tu học là một tiến trình chứng nghiệm. Nó vô ngôn. Không diễn tả được bằng lời, bất khả nghĩ bàn.

    Tôi vô tình đã chọn cuộc sống của tôi là một quá trình tu học. Trong quá trình nầy, có lần tôi muốn giải thoát ra khỏi những qui định của xã hội, vì tôi có cảm giác mất mình trong những vai trò-làm con, làm cha, làm một ông giáo,làm một công dân, làm người trong những trách nhiệm và quyền hạn ít nhiều rõ rệt. Cũng có một thời tôi có cảm giác ngày, tháng dài như thiên thu, và cuộc đời như mang thập giá trên vai, tôi muốn tìm sự an bình tâm thái, tôi mưốn trốn chạy cuộc đời, tìm an bình thân tâm trong đạo: muốn giải thoát ra khỏi cái tôi qui định của xã hội, tôi lại phải chun vào cái khung triết thuyết, giới luật và lễ nghi của Phật gia, nghiêm chỉnh hơn và theo đó gắt gao hơn. Rời cái khuôn nầy để vào một cái khuôn khác, chật hẹp hơn. Và tôi đã từ chối điều nầy.

 

Giờ đây, còn vài năm nữa, tôi lại hỏi tôi thêm một lần nữa: Vậy tôi là ai? là cái gì?

Xin thưa:

Tôi là cái tiến trình tu học ấy, mãi đến giờ vẫn chưa xong. May mà nó chưa xong, nên tôi còn tìm, còn học, còn trải nghiệm, thực nghiệm, trực nghiệm. Cuộc đời nhờ vậy mà còn rộng mở với tôi. Làm sao có thể gói một tiến trình trên 80 năm, và chưa chấm dứt vào một vài trang giấy.

Thế nên, nếu buộc phải có một lời đáp, thì đó là:

Tôi là tôi. chấm hết.

 

Houston, TX ngày 24 tháng 4, 2015

Tôi chân thành cám ơn:

  • Bác sĩ Trịnh Hồng Vân, đã tạo duyên cho tôi viết bài nầy,
  • Bà Tâm Minh. Bài ‘What's myself'là nền cho nội dung của bài.
  • Ông Đồ Đổ Chiêu Đức đã khai thông cho tôi phần Hán Việt.

 

 






[i] Thích Thiện Hoa. Phật Học Phổ Thông. Bài 4. Quy Y Tam Bảo. Sự Quy Y.

[ii] Công Giáo La Mã: Trong thời Trung cổ, nhà thờ thường bán những indulgences, và giáo huấn về indulgences thường bị bóp méo. Các cuộc chống đối của Martin Luther về việc bán indulgences khởi đầu cho sự hình thành Hội Thánh Tinh Lành.

[iii] The Kingdom of God is within you' by Leo Tolstoy

[iv] Nguyên văn tiếng Pháp: ‘Le vrai pélerinage de l'homme,

Un  mot resume le lieu où converge toute aventure de sainteté: LE COEUR.

Où serait le trésor du chrétien sinon au fond de son coeur?

Au dedans de toi, il est un lieu, plus intime à toi que toi, où tu ne saurait entrer sans la permission de celui qui l'habite dèjà, mais don't tu ne peux trouver le chemin qu'au prix d'un très long effort, qu'avec la lumière d'une grande pureté, qu'au terme d'un total depoillement.

C'est là où Dieu a mis l'étincelle du divin que tu portes en toi, l'image de son visage qui ta fait à sa ressemblance, la source de l'eau vive qui peut jaillir en toi en Vie Eternelle (Jean 4, 14).

Dieu a fait ton coeur assez grand pour Le conternir. Ton coeur contenant celui que l'univers ne contient pas, est donc plus grand que l'univers.  Au coeur de toi reside le Createur du monde, et, avec lui, le monde!'.........Bản dịch của Bác sĩ Nguyễn Văn Vĩnh.

 

[v] Giáo sư Lý Hóa và  huynh trưởng Phật Giáo.

[vi] television

[vii] Còn một đoạn. Nhưng cái hiểu biết của tôi chưa cho phép tôi liên kết với nội dung bài nầy. Đó là:
I am my breath
breathing out, I am fresh
Breathing in, I know
Breathing is the anchor
of my mind-the boat
with my body-the land.

[viii] Đào Duy Anh. Hán Việt Từ Điển Giản Yếu.  Nhà Xuất Bản Văn Hóa Thông Tin. 2005

[ix] Trần Đình Hoành www.dotchuoinon.com. Nguốn Internet

[x] Luca VI

[xi] Trần Đình Hoành www.dotchuoinon.com. Nguốn Internet. Tĩnh lặng là gì? Trích nguyên văn:
Tĩnh lặng không có nghĩa là ngồi yên.
Tĩnh lặng không nghĩa là không cảm.
Tĩnh lặng không có nghĩa là không làm gì cả.
Tinh lặng không có nghĩa là bất cần.
Tĩnh lặng không có nghĩa là tốt...

Tĩnh lặng không có nghĩa gì khác hơn là... tĩnh lặng.

Bạn có thể ngồi yên và tĩnh lặng, hay đang chạy mà tĩnh lặng.
Bạn thấy tất cả mọi sự và vẫn tĩnh lặng.
Bạn cảm được mọi sự và vẫn tĩnh lặng.
Bạn có thể làm mọi sự và vẫn tĩnh lặng.
Bạn vượt lên trên cả tốt và xấu trong phán xét.
Bạn vượt lên trên cả thiện và ác trong định giá
Bạn vẫn làm các việc thiện và tránh việc ác, nhưng không chấp vào thiện ác đúng sai.

Đây không phải là lý luận. Tĩnh lặng là trải nghiệm, thực nghiệm, và trực nghiệm.

Tĩnh lặng rất tĩnh lặng nhưng lại sức mạnh vô cùng-làm cho trái tim của bạn nhẹ như lông hồng nhưng lại vững như núi, nhẹ như gió thoảng nhưng mạnh như bão tố.

Tĩnh lặng không có công thức, không có hình dáng.

Nhìn thì như là không, nhưng khi chuyển thì lại vô cùng.

Các bạn đừng hỏi-làm thế này có phải là tĩnh lặng không? suy tư thế nầy có phải là tĩnh lặng không?

Hành động nào cũng có thể là tĩnh lặng, mà cũng có thể là không. Như là giọt nước nào cũng giống nhau, nhưng có thể có những nhiệt độ khác nhau.

Cách để có được tĩnh lặng là thực hành tĩnh lặng. Ngồi quán tâm mình, và khi tâm mình tĩnh lặng mình biết tâm mình tĩnh lặng.

Tĩnh lặng không phải là không suy nghĩ. Tâm có thể suy tư về một điều gì đó, quán một điều gì đó, nhưng vẫn tĩnh lặng.

Chúng ta tập tĩnh lặng bằng thiền, cầu nguyện, ứng xử khiêm tốn, thành thật và yêu người vô điều kiện.

Và ta biết ta tĩnh lặng đã đến đâu bằng cách quán sát tâm ta thường xuyên.

Đừng làm một hành động và hỏi "Làm như thế là mình đã tĩnh lặng chưa?"

Hãy để tâm hoàn toàn tĩnh lặng-không giận, không ghét, không sợ, không giành giật, không lý luận bào chữa-rồi hỏi "Tâm mình tĩnh lặng chưa?"

[xii] Anh Đổ Chiêu Đức, bạn đồng môn của  tôi, và cũng là ông thầy Hán Việt của tôi. Anh email cho tôi:

"NGHIỆM : là loại chữ Hài Thanh thuộc bộ MÃ bên trái chỉ Ý, và chữ THIÊM bên phải chỉ ÂM, nên NGHIỆM nghĩa gốc vốn là TÊN của một loại NGỰA quí chạy thật nhanh. Có 3 nghĩa thông dụng hiện nay của chữ NGHIỆM là :
    1. NGHIỆM là XEM XÉT, là KIỂM TRA, như : XÉT NGHIỆM, Nghiệm Thi ( Xem xét xem tử thi chết vì lý do gì ). Nghiệm Thu ( Xem xét kiểm tra để chấp nhận )...
    2. NGHIỆM là HIỆU QUẢ, là Có Hiệu Quả, như Ứng Nghiệm, Linh Nghiệm, Hiệu Nghiệm,...
    3. NGHIỆM là CHỨNG NGHIỆM, là Bằng Cớ, là Từng Trải, là Kinh Nghiệm.

        Cho nên...
       NGHIỆM : có nghĩa chung là : Sự Hiểu Biết có Chứng Cứ, Từng Trải hoặc Thông qua quá trình Xét Nghiệm hẳn hoi, chớ không phải sự Hiểu Biết Khơi Khơi !


       Vì vậy, ta có thể hiểu :


     * TRẢI NGHIỆM : là từ viết gộp lại của hai từ TỪNG TRẢI và KINH NGHIỆM, có nghĩa : Những Hiểu Biết Kinh Nghiệm do quá trình Từng Trải mà có được. TRẢI NGHIỆM là Cái Kết Quả có Quá Trình !


     * THỰC NGHIỆM : Chữ THỰC
: là chữ Hội Ý, gồm Bộ MIÊN là Cái Nóc Nhà ở trên và chữ QUÁN là Tài Vật, Đồ Đạc bên dưới. Ý chỉ : Đồ Vật đầy cả Nhà, nên THỰC có nghĩa là GIÀU CÓ, Nghĩa phát sinh là ĐẦY ĐẶN, là CÓ THẬT, trái với chữ HƯ là trống lổng không có gì ! Từ đó, THỰC có nghĩa là THẬT như THỰC TẾ, THỰC THỂ, THỰC TIỄN... Nên,
      THỰC NGHIỆM : là Sự Hiểu Biết,Kinh Nghiệm  có được thông qua Thực tế có thật do mắt thấy tai nghe hoặc do Quá trình làm việc  hẳn hoi.

      Còn...
    * TRỰC NGHIỆM : TRỰC
: là chữ Hội Ý, gồm chữ THẬP là số Mười ở trên, bên dưới là chữ MỤC là con Mắt ở dưới. Ý chỉ Mười con Mắt cùng đổ dồn về một hướng, nên có nghĩa là THẲNG, như Trực Tiếp, Trực Diện, Trực Giác... Nên,
      TRỰC NGHIỆM : là Cái Kinh Nghiệm, Hiểu biết đến một cách Trực Tiếp thông qua những kiến thức, kinh nghiệm CÓ SẴN từ trước.
      Vì thế...
        TRỰC NGHIỆM chỉ dựa vào quá trình hiểu biết chủ quan rồi CẢM NHẬN ra sự việc, thiếu cơ sở vững chắc như THỰC NGHIỆM và TRẢI NGHIỆM !"

 

[xiii] Thời bấy giờ ở Việt Nam, nam, nữ đều búi tóc.

[xiv] Hàn-Hán Việt là lạnh, Thử--Hán Việt là nóng.

[xv] Xin xem: The Modern times, Charlie Chaplin. You Tube. Internet

[xvi] Ngũ uẩn (zh. wǔyùn 五蘊, sa. pañca-skandha, pi. pañca-khandha, bo. phung po lnga ཕུང་པོ་ལྔ་), cũng gọi là Ngũ ấm (五陰), là năm (pañca) nhóm (skandha) tượng trưng cho năm yếu tố tạo thành con người, toàn bộ thân tâm. Ngoài ngũ uẩn đó ra không có gì gọi là cái "ta".
Ngũ uẩn là:
1.     Sắc (zh. 色; sa., pi. rūpa), chỉ thân và sáu giác quan (hay còn gọi là lục căn, bao gồm mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý), do Tứ đại chủng (sa., pi. mahābhūta) tạo thành, đó là bốn yếu tố đất, nước, gió, lửa. Sắc tạo nên các giác quan và đối tượng của chúng.
2.  Thụ (zh. 受, sa., pi. vedanā), tức là toàn bộ các cảm giác, không phân biệt chúng là dễ chịu, khó chịu hay trung tính.
3.  Tưởng (zh. 想, sa. sajñā, pi. saññā), là nhận biết các tri giác như âm thanh, màu sắc, mùi vị..., kể cả nhận biết ý thức đang hiện diện.
4.  Hành (zh. 行, sa. saskāra, pi. sakhāra), là những hoạt động tâm lí sau khi có tưởng, ví dụ chú ý, đánh giá, vui thích, ghét bỏ, quyết tâm, tỉnh giác. Hành là đối tượng đã tạo nên nghiệp thiện ác...
5. Thức (zh. 識, sa. vijñāna, pi. viññāa), bao gồm sáu dạng ý thức liên hệ tới sáu giác quan: Ý thức của mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Thức phụ thuộc vào sáu căn tiếp xúc với sáu trần để hình thành nên sáu thức. Nếu không có thức người ta sẽ không phân biệt được màu sắc hay âm thanh v.v
Ngũ uẩn cũng được gọi là năm ràng buộc vì chỉ có Phật hay A-la-hán mới không bị dính mắc nơi chúng. Đặc tính chung của chúng là Vô thường, Vô ngãKhổ. Bát-nhã-ba-la-mật-đa tâm kinh nhấn mạnh đến tính Không của ngũ uẩn. Nguồn: Wikipedia.

[xvii] Theo ký ức, phỏng theo một truyện trong quyển ‘Le Livre unique de français, par D. Lafferanderie.'

[xviii] Wikipedia. Tống biệt

Lá đào rơi rắc lối thiên thai,

Suối tiễn oanh đưa luống ngậm ngùi!

Nửa năm tiên cảnh,

Một bước trần ai,

Ước cũ duyên thừa có thế thôi!

Đá mòn, rêu nhạt,

Nước chảy, huê trôi,

Cái hạc bay lên vút tận trời!

Trời đất từ đây xa cách mãi.

Cửa động,

Đầu non,

Đường lối cũ,

Ngàn năm thơ thẩn bóng trăng chơi.

 

[xix] Wikipedia. Tống Biệt. Đánh Giá.

____________________________________________________________________________________________________________________________ 

Tâm Vô Trụ

Chân và Vọng

Nguyễn văn Trường

 

Chân

 

◊Truyn

 

Truyện rằng:

‘Tanzan và Ekido trong lúc di hành, gặp một cô gái đẹp, đang lúng túng vì không thể qua ngả tư đoạn đường lầy lội. Lập tức Tanzan bảo "Đi này cô bé." Rồi Tanzan bế cô gái lên và đưa qua quãng đường lầy. 

Ekido từ đó không buồn nói một tiếng nào cho đến khi cả hai dừng lại trong một ngôi đền. Rồi như không còn chịu được nữa, Ekido lên tiếng nói với Tanzan "Chúng ta là những nhà sư, không được phép gần đàn bà, làm như thế là phạm giới và bị người đời dị nghị ." Tanzan mỉm cười đáp "Tôi đã bỏ nàng ở chỗ đó rồi, anh còn mang nàng theo đây sao?"[1]

Đó là một câu chuyện thiền, cổ điển, để minh họa "tâm vô trụ".  Tanzan không trụ ở giới luật, không ngại dư luận người đời, không sợ sự quyến rủ duyên dáng của người đẹp, và sau khi giúp người đẹp qua con đường lầy lội, không còn giữ một hình ảnh nào của nàng trong tâm, cũng không nghĩ tốt nghĩ xấu về việc giúp đỡ người đang gặp khó khăn.  Trái lại Ekido thì dính mắc ở giới luật, e ngại sự dị nghị của người đời, và những ý nghĩ nầy đã ở trong Ekido suốt cuộc hành trình sau khi người đẹp đã qua đoạn đường lầy lội.

Tâm ca Tanzan là tâm vô tr.  Tâm ca Ekido còn tr gii lut, còn e ngi d ngh ca người đi.

 

◊Danh xưng và con đường tu hc

Trụ là một từ Hán-Việt.
Trong ‘Thành, Trụ, Hoại, Không' của nhà Phật, thì  ‘Thành' là thời kỳ từ sanh đến trưởng thành, con người hay sự việc luôn biến đổi, hình thành, lớn mạnh trong mọi mặt.  ‘Trụ' là thời kỳ đã trưởng thành, sung mãn cực đa, nên có một bên ngoài không biến đổi. ‘Hoại' là thời kỳ hoại diệt, biền đổi tiêu cực, từ có đến không.  Sau đó là Không.  Cái may, cái rủi của người đời, hay bất cứ cái chi đều phải qua các giai đoạn ‘thành, trụ, hoại, không'.

Đó cũng là nghĩa, hiểu một cách đơn sơ,  trong các cụm từ: ‘trụ trì Phật Bảo'[2], ‘trụ trì Pháp bảo'[3].  Chữ ‘Trụ' nầy , từ Hán Việt,  gồm bộ nhơn-đứng bên trái-và chữ ‘chủ', bên mặt. ‘Chủ'[4]-Hán Việt- có nghĩa trong các danh từ đôi: chủ-nghĩa, chủ-thuyết, chủ-hòa, chủ-ý, chủ-nô, chủ -điền, chủ hộ, chủ-lực, chủ-tịch, chủ-tướng, v.v.... ‘Chủ' như nhấn mạnh trên cái nghĩa là chủ yếu:
Trong cái may sung mãn tn cùng của thời-kỳ-thành-trụ, con người có thể cảm nhận như đã thành đạt, rồi buông trôi trong thích thú, bằng lòng và hưởng thụ. Người thì ‘chồng quan sang, vợ hầu đẹp, thần tiên chi nhất thế'; người thì ‘công thành danh toại, phỉ chí nam nhi, bia truyền tạc để',..Thậm chí có người trở thành ngông, hô hào ‘nghiên đồng đổ nước, thay trời làm mưa'[5]
Trong cái ri kéo dài cùng tt, thì  có người ôm mãi hận đời, ‘trụ' ở đó, ‘nuôi hận thù thành sức mạnh', để, khi quyền lực đến tay, kêu gọi: "Giết! Giết nữa! Bàn tay không ngơi nghỉ, Cho ruộng đồng lúa tốt, thuế mau xong, Cho Đảng bền lâu, Cùng rập bước chung lòng, Thờ Mao Chủ tịch, thờ Xít-ta-lin bất diệt!"[6]

Cả hai thái độ hay chủ trương  nầy đều không tốt.

Đó cũng còn  là nghĩa trong câu: "Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm- 應無所住而生其心-- cn phi không có ch tr, thì cái tâm y mi xut hin"[7]. Cụm từ ‘sở trụ' có thể làm cho ta nghĩ:   một nơi chốn, một cơ sở, một cây gậy, một vật gì đó, một thang giá trị,  để nương tựa, trú ẩn. Cũng có người nghĩ rằng, ‘ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm' có nghĩa là nên vô s tr đ cái tâm kỳ diu phát sinh'[8].


Vô trụ là không trụ,  không dừng lại ở sự thành đạt nhất thời, cũng không ôm mãi hận ngàn thu.  Dừng lại là chấp nhận không tiến triển. Cái gì không còn phát triển là đi vào thời-kỳ-hoại; nói rộng ra là ‘chết trước khi chết'. Ôm hận thì nặng lòng, làm tâm thức tối tăm, có mắt nhưng như mù, cho nên mới thốt lên những câu thơ tanh mùi máu như trên đây. 

Nói chung, tâm vô tr là tâm không ‘tr', không dính mc thành bi, thói quen, tp tc, gii lut, đnh  kiến, nhng giá tr, cũng không dính mc mt tâm thc-vui, bun, hn ghen, sân hn-nht thi. Tâm mà không dính mc bt c cái gì là ‘tâm vô tr'
Tuy nhiên, tâm vô tr không là tâm trơ, không xúc cm, không tình, không ý, không biết phi trái, không biết chánh tà. Hành tâm vô trụ không là nhằm để ‘tr thành như g đá, vô cm, vô tình'. Hành gi--người thc hành tâm vô tr--cm nhn c tht tình (h, n, ái, , ai, lc, dc) và cũng bình thường như mi người trong nhãn nhĩ, t, thit, thân, ý. Nhưng không tr, không gi li, không dính mc, không ct mình vào nhng cm xúc, ý tình hay giá tr hay bt c cái chi xy ra trong tâm thc.
Tâm vô trụ càng không là: nhân danh vô tr mà buông th trong dc vng, ‘nếm mùi đi cho đ th mà chơi'.

Vô trụ cũng là vô sở trụ: không có một nơi chốn, một lý tưởng, một thang giá trị, một con đường tu học cứng ngắt phải theo hay mt cái chi ghi khc trong tâm-không có ch trong tâm, để ‘trụ', ỷ lại, hay nương tựa vào đó mà phê phán hay hành xử.  


Minh họa ‘tâm vô trụ', thật khó tìm được hình ảnh nào rõ hơn bốn câu thơ của Tô Đông Pha:

‘Phong lai sơ trúc, phong kh nhi trúc bt lưu thanh,
Nh
n quá hàn đàm, nhn kh nhi đàm vô lưu nh.

Th c quân t s lai nhi tâm th hin

S kh nhi tâm tùy không'


‘Gió qua lay trúc, gió đi rồi trúc không giữ âm thanh
Nhạn lướt mặt hồ, nhạn đi rồi hồ không lưu hình ảnh

Người quân tử cũng vậy, việc xảy ra tâm mới tiếp xử 
Việc qua rồi, tâm lại thảnh thơi'[9]

Như gió đưa khóm trúc, như chim nhạn bay qua mặt hồ trong-lặng, ‘người quân-tử, tức là hành giả, khi sự việc tới thì tâm đón nhận, không chờ đợi, không mong muốn trước; sự việc đi thì tâm lại rảnh rang, trống không. ‘Sự lai nhi tâm thỉ hiện', tức là chỉ khi sự việc đến thì mới để tâm nhìn nhận, với tất cả tâm ý. ‘Sự khứ nhi tâm tùy không', tức là sự việc đi qua rồi thì cái tâm ta theo đó mà trở thành vắng không.'[10]

‘T lai, t kh[11]' là cách nói tóm gọn ý trong bốn câu thơ của Tô Đông Pha. T đến ri t đi, không đ li mt du n nào trong tâm. Hình ảnh của chim nhạn tự in trên mặt hồ rồi tự biến mất. Gió đến, cây khua, gió ngừng âm thanh lặng.


Nói khác đi là tâm tr tức là tâm còn giữ một số dấu ấn. Nếu tâm còn giữ lại một dấu ấn, nhà thiền  gọi đó là niệm. Tâm vô niệm là tâm không vướng mắc một niệm nào.
Nói cách khác, tâm vô niệm là tâm vô trụ.

Nim, các hình ảnh còn thấy được trên mặt hồ khi nhạn đã bay qua, hay dư âm xào xạt còn nghe được sau khi gió đã ngừng mà cành trúc chưa ngừng dao động. Nim làm cho mt h m đi hay không gian còn n ào, tâm vì đó mà  không nhn thc được nhng sc thái khác, những âm thanh khác trong thc cht ca chúng.  Vì vậy mà nói: niệm nhiễm tâm.  Tâm vô niệm theo đó cũng là tâm vô nhiễm.

‘Vô nhim' là không bị các niệm-dư âm, dư ảnh, ..của một kinh nghiệm nhất thời-làm ô nhiễm.  Nhờ không giữ lại, ta không bị dẫn, không bị điên đảo trong cái rừng luôn khua động của các niệm, mà, trong cái nhìn vĩ mô, Phật gia gọi là bát phong[12]. Không bị điên đảo, không bị qui định, không bị điều khiển, nên cũng gọi là tâm thanh tnh, thanh tịnh như ‘mặt hồ tĩnh lặng'.  

Cũng gọi là tâm gii thoát, giải thoát ra khỏi dấu ấn của quá khứ, ra khỏi những qui định của môi trường. Quá khứ có thể trở lại, nhưng rồi cũng tự đến, tự đi. 

Thông thường, người tu Phật nhằm được giải thoát ra khỏi cái chu kỳ ‘thành, trụ, hoại, không' hay ‘sanh, tử, luân hồi'.  Đó là con đường Tứ Diệu Đế: Khổ, Tập, Diệt, Đạo.
Hoặc giải thoát ra khỏi vô minh.  Vô minh là dốt. Cái biết ca con người hoc gii hn, hoc chưa đến nơi đến chn, chưa rt ráo, cho nên gi là vô minh. Vô minh là nguồn, làm duyên sinh sản mọi điên đảo, khổ đau cho con người. Giải thoát khỏi vô minh là con đường ‘Thập Nhị Nhân Duyên'[13].

Mỗi một danh xưng ghi một phương cách, một hướng tu học, nhằm đạt một thành quả, một quả vị. Ngoài tâm vô trụ, vô niệm, vô nhiểm, vô sở trụ, giải thoát, còn nhiều tên khác nữa. Tâm hin tin, tâm nht tướng, tâm phi tư tưởng, tâm phi thi gian[14].

Thế nhưng, nói chung, mọi phương tiện, phương cách, con đường đều hướng về một cứu cánh duy nhất:  Tâm vô tr,  ‘Pht tri kiến', ‘chân tâm', hay ‘Pht tánh', hay ‘tâm chân như'.  Nhng tên gi đó,  theo nhà Pht, là cùng nghĩa.  Quá trình tu có th tóm lược là ‘Khai, Th, Ng, Nhp Pht Tri Kiến', m, thy, gp, và là mt vi chân tâm. Và trong gii hn nhng bài ging, lun, mà chúng tôi được hc, hay đc, thì ‘chân tâm' là cái tâm ‘chân tht bt hư'-không hư gi, hng tn, trong sáng, tuyt đi thanh tnh.

◊Hin hu, Có, Không, Tâm vô trụ, chân tâm, chân tật bấ hư?


Hỏi: Chân tâm ấy hiện hữu, có thật hay không?

Đáp: Có. Có tht.

 

Vì theo Ngài Thần Tú, một vị Tổ thiền,  thì:
‘Thân th B Đ Th, Tâm như Minh Cnh Đài, Thi thi cn pht thc,Vt s nhá trn ai.' [15]
Có nghĩa là: 
‘Thân là ci b đ, Tâm như đài gương sáng, Luôn luôn phi lau chùi, Ch đ dính bi bm.'[16]

Tướng của tâm như gương sáng, luôn phải chùi lau. Có nhiều danh xưng, ắt có nhiều tướng khác nhau, sao lại gọi là nhất tướng?

Nhưng cũng đáp là Không-vô tướng.

Vì theo Tổ Huệ Năng, Ngài dạy:
‘B Đ bn vô th, Minh cnh dic phi đài, Bn lai vô nht vt, Hà x nhá trn ai ?' [17]
Có nghĩa là:
B chng phi cây, Gương sáng chng nơi đài ; Xưa nay không mt vt;Bi trn bám nơi đâu'[18]

Ngài Thần Tú nói có. Ngài Huệ Năng nói không.  Vậy tướng của tâm có thể là ba: Có, Không, và có thể là vừa Có vừa Không? Vô tâm mà diệu hữu?

 

Hai vị tổ sư thiền, cả hai, cùng một thầy và đều có khả năng lãnh y bát của thầy, thế mà, Tổ nầy nói Đông, Tổ kia nói Tây.

Tôi thật sự : Mù.  Mù thì phải hỏi? tôi đã hỏi Internet.  Đến giờ nầy, vẫn chưa thông.  Viết lên đây để mong được học.
Tuy nhiên, phải ghi rằng: hai lời đáp là hai nét cơ bản cho hai trường phái:

Tiệm tu: Tâm như đài gương sáng, Luôn luôn phi lau chùi. Ngày ngày phải tu tập.

Đốn ngộ: ‘B chng phi cây. Xưa nay không mt vt. Trực ngộ chân tâm.
Và theo đó, có một trường phài thứ ba, chủ trương:
Tiệm tu và đốn ngộ: Phải tu luyện hằng ngày mới có cơ duyên trực ngộ chân tâm?

Tóm lại, Tu Phật nhằm giáo ngộ chân tâm.
Chân tâm bị nhiễm, bị bụi trần che lấp. Tiệm tu là hằng ngày phải lau chùi.  Vứt bỏ bức màng vô minh-mà Phật gia còn gọi là ‘vọng'-thì trực ngộ chân tâm.
Đạo Phật là Đạo giác ngộ.

@@

Vng

 

♦Tâm vng: hng  biến-hư gi-gi hp?

Theo Phật gia, 
Đi nghch vi chân tâm-hằng tồn, bất biến, thanh tịnh, mà ai ai cũng có, bình đẳng- là cái tâm hư gi. Hư là không thc như trong ‘hư danh, hư ngôn'[19]. Gi cũng là không thc, như trong ‘giả mạo'[20].  Cũng còn gọi là tâm gi hp: Đ duyên thì thành, hết duyên thì mt, như mây khói, có đó ri mt đó.  Cái tâm y đi thay tng thi đim mt. Phật gia  còn gọi nó là tâm vng.  Vọng nói: trông xa; như trong chiêm vọng (trông mong), danh vọng, uy vọng (mà người thường mong ước), hoặc như trong ‘hy vọng, thất vọng, tuyệt vọng'[21]. Không nên nhm ln tâm vng vi hư tâm là cái tâm ‘không tự cho là đủ, còn cần phải học hỏi thêm'[22]
Nếu chân tâm hng tn, tuyt đi trong sáng và tinh khiết thì tâm vng là hư gi, gi hp, trong cái nghĩa:  đi thay tng thi đim mt.

Vng nói phù du, o nh, có đó ri mt đó.

Nhà Pht còn gi tâm vng là vng ngã, vì người đời thường đồng nhất mình với nó, nghĩ rằng nó là chính mình.

Đã nói chân tâm, phải xét vọng ngã.  Cái nầy soi sáng cái kia.

Phần sau đây dành cho vọng ngã.

Chân thuộc tiên thiên, con người ngay khi sinh ra đã sẵn có. Đó là Trời, Chúa ban cho mọi người.

Vng thuộc hu thiên. Nếu đời người là cuộc hành trình từ sinh đến tử, thì vọng ngã hình thành trong quá trình nầy. Vng ngã, trong mt gii hn nào đó, là thành qu ca s dưỡng nuôi, ca giáo dc, ca kinh nghim bn thân.

Con người luôn phải thích nghi với môi trường: trong bụng mẹ, trong gia đình, ở học đường, ngoài xã hội, từ lúc còn là thai nhi, cho đến chết. Học ăn nói, đi đứng-ăn coi nồi ngồi coi hướng, tiên học lễ hậu học văn-sống theo gia phong, gia đạo; vào trường, học để luyện mình trở nên một thành viên hữu ích của cộng đồng; vào đời, học qua giao lưu với tha nhân, qua những kinh nghiệm chung sống, và như thế mãi, ta tích lũy-kiến thức, giá trị, kinh nghiệm, thói quen, ..để có một nếp sống-và tôi luyện tài khéo và tính tình.  Theo đó, ta xây dựng cho chính mình mt nhân cách, nhân phm, có danh, có phn. ‘Phải có danh gì với núi sông.' ‘Không thành danh cũng thành nhân.' ‘Vi nhân nan, vi nhân nan, làm người, khó! Làm người, khó!' Là những câu mà ta thường nghe nhắc nhở.
Hệ quả là ta có một cái ‘tôi', một cái ‘ta', một hình ảnh về mình, mà ta gán cho một nhản hiệu là tư cách, nhân cách, hay danh phn ca mình, mà t ca  Pht gia là: vng ngã.

Là người ai cũng có vọng ngã. Như đã nói, vọng ngã là hậu thiên, ta tự xây dựng lấy.

Luân hồi lục đạo- súc sanh, ngạ quỷ, atula, người, trời?  Nghĩ cho cùng, đó là nhng tâm thái-trng thái tâm linh- ca con người, t cái sng bn năng-như thú vt-đến s thăng hoa cao đ ca vng ngã. Trong cuộc hành trình từ sinh đến tử, trên thế gian, không mấy ai tránh khỏi luân hồi trong cái nghĩa nầy, và luân hồi luôn tái diễn.
Con người vì đó mà đảo điên, quay cuồng trong hỉ-nộ-ái-ố-ai-lạc-dục, trong kh lc. Khóc rồi cười, cười rồi khóc. Pht gia cho rng cái ngun ca mi điên đo, ca mi kh đau, là vng ngã: Vng ngã là ti đ. Vng ngã che lp chân tâm. Ta mù vì tâm vng, chng nhn được chân tâm ngay trong ta, và vì thế, ta kh.


R. Tagore nhận thức trong ‘Thơ Dâng':

‘Tên tôi là mt nhà tù,

Tôi đã t nht mình vào đó và  tôi đang than đang khóc.

Ngày qua ngày, tôi đã dày công tô đp bc tường chung quanh.

Ngày qua ngày, nhà tù vươn ti tri xanh; trong bóng ti ca nó, tôi không còn thy tôi đâu na.'[23]

 

♦Giác Ng

‘Phật' hàm ý :  giác ngộ hoàn toàn[24], viên giác.

Giác ngộ đầu tiên của hành giả là : ngc  tù vng ngã-con người không thấy bất cứ cái chi ngoài nhà tù nầy.
‘Ngày qua ngày, nhà tù vươn tới trời xanh; trong bóng tối của nó, tôi không còn thấy tôi đâu nữa'.  Tiếng kêu của Tagore cũng là tiếng gào thét của những con người giác ngộ-không phải là không nắm bắt được chân tâm-mà là thấy mình đã mt mình-vong thân-trong vọng ngã. Con người cảm nhận khổ sở trong cái nhà tù nhỏ hẹp nầy của mình. 

Rất nhiều người chỉ có định kiến, thành kiến, biên kiến, và tin chắc rằng vọng ngã là trụ  đồng kiên cố biện minh cho cái ‘tôi' vĩ-đại của mình, để không thấy những gì khác.  Bên trong cái ‘tôi' là ánh sáng. Bất cứ ánh sáng ấy ra sao-mờ nhạt, chói mắt, xanh, vàng, trắng, đỏ, khổ hay lạc-tôi bằng lòng nó, vì nó là tôi.  Thế là  tôi tự giam mình trong cái ‘tôi' của tôi.  Sc tình, tôi git mình, ng ra rng, lâu nay tôi mù, tôi dt vì không biết bt c cái gì bên ngoài. Và ngay chính mình, mình không biết mình là ai.

Giác ngộ thứ hai: Thân phn con người là con ri mà xã hi là ông thy tung?
Nói giáo dục là nói có sự tác động bên ngoài và phản ứng bên trong:  có dạy, có học, có tập luyện theo bài bản hay không theo bài bản.

Sống là tương quan với một xã hội cụ thể trong một bối cảnh lịch sử cụ thể. Theo đó phải nói ngôn ng ca xã hi y, theo nhng qui đnh ca xã hi y: qui đnh trong cu trúc ngôn ng, trong nghĩa các t, qui đnh trong nếp sng, phong tc tp quán, lut pháp,...
Đứa bé vừa chào đời phải  nhờ sự chăm sóc của mẹ cha mà sinh tồn. Không có sự chăm sóc nầy đứa bé khó sống sót. Rồi nó được chuyển giao một gia phong, gia đạo, những tập tục, truyền thống dân tộc, nói chung là cả một di sản ngàn đời của tiền nhân mà ít nhiều nó hãnh diện nhận lãnh.  Một chuỗi dài những  tác động qua lại, theo đó, đứa bé tôi luyện thành người hữu dụng.


Tóm lại, ngay t lúc lt lòng m, con người b qui đnh, và như thế sut giòng đi.
Rồi đến một tuổi nào đó, con người như sực tỉnh, tự vấn:  Tôi là ai?  Tôi phải chăng chỉ là sản phẩm của các qui định của xã hội? Tôi phải chăng chỉ là anh kép hay cô đào hát trên sân khấu mà xã hội-gia đình, học đường và môi trường- là ông thầy tuồng, người viết kịch bản?  Vng ngã, cái ‘tôi' vĩ-đi ca tôi, chng qua là mt con ri do trò đi điu khin?


♦Tnh thc!

Tnh thc! Tôi từ chối cái khám đường chật hẹp vọng ngã và khẳng định, tôi phải ra khỏi đó. Ở đó, thiếu sinh khí. Tôi từ chối và khẳng định không là một con rối cho xã hội luôn giựt giây điều khiển. Tôi cảm nhận có một cái tôi-thực-chất, một cái tôi-chân-như, mà tôi đã đánh mất. Tôi đi tìm tôi.

 

Cái vọng ngã ấy, không ý thức nó thì không sao, mà ý thức nó rồi thì cảm thấy nó là tội đồ, là nguyên nhân của vô minh, nguyên nhân cho sự tha hóa, vong thân.  Vong thân vì tôi cm nhn đã mất cái tôi-chân-như, cái tôi-thật-là tôi, mất trong nhà tù vọng ngã. Vọng ngã lại  là những sở đắc, tích lũy suốt giòng đời, cho đến giờ nầy.
Nói là nhà tù, vì khi sực tỉnh, thấy rằng mình đã bị cột, nhốt trong nó. Càng muốn tháo gỡ, càng muốn ra, càng bị thắt chặt.
‘Không thành danh, cũng thành nhơn.'
‘Phải có danh gì với núi sông.'
Nhng câu tc ng hc đu đi, gin đơn, như câu thiu ngh võ, thế mà có hiu qu chết người, vì nó có th giam người trong mt cái danh phù du, hão huyn, hay ch trong mt cái tên gi.

Cái tôi-chân-như là gì? Nó là một thực thể rõ ràng, phân biệt với cái tôi-vọng-ngã hằng biến? Hay vọng ngã là biểu hiện bên ngoài của cái-tôi-chân-như bất-biến-hằng-tồn ở đâu đó bên trong? Hoặc cái tôi-chân-như chỉ là kết quả của một lý luận, hệ quả logic của con người? Vọng ngã là phù phiếm, hư giả, sinh tử, tử sinh, giả hợp, phù du, thì có thể là những biểu hiện của một cái gì chân như, hằng tồn bất biến hay không? 
Mi suy tư, mi logic, mi bin gii đu là ngôn t, qui ước, và ch dn đến nhng quan nim, nguyên lý, nguyên tc tru tượng đều  không-tht-có vì ch có trong trí não, trong lun c.
Nếu Pht-Tánh ch là h qu ca mt lý lun, suy t cái vng ngã-mà tôi cm nhn tht-có mi thi đim-thì Pht Tánh ch là mt ý nim tru tượng. Theo đó cũng không tht.

 

♦Ở đây, hình như mi người phi ‘t đt đuc lên mà đi'.

 

  • Tuy nhiên,
    Đông đảo là những người theo lời gọi của ‘thầy'-Đại Đức, Thượng-Tọa, Hòa Thượng, Giáo Chủ: ‘Đời là khổ, hành khổ, hoại khổ, khổ-chồng-lên-khổ, hãy theo ta, ta có con đường tu thoát-khổ? Hoặc như một ông bạn tu hành rất mực của tôi dạy: tu là để tịch diệt sinh tử,...?'
    Trong thực tế, nói khổ phải nói lạc. Cuc sng có kh, có lc. Đi người là mt cuc hành trình đy kh và lc, do có lm vn đ, vô cùng đa dng và phc tp. Tht tình lc dc, có đ c và đó ch là cái nhìn vĩ mô.
    Không kh
    làm gì có lc? Không lc làm gì có kh?

    Cuộc sống là vấn đề, có lo âu, phiền toái, bực dọc, đổ mồ hôi, có khi cả nước mắt, để thích ứng. Mà vấn đề là thử thách. Thử thách khả năng-suy tư, tìm tòi, thử nghiệm, ứng xử, hành động, giải quyết. Thử thách tính tình- siêng năng, cần mẫn, kiên nhẫn, bền lòng, chịu khó, bình tĩnh, năng động mà không dao động... Đó là cái giá phi tr đ trưởng thành, đ có cái vui-lc thú-- cm nhn mình ln mnh.
    Cho nên không nh
    d theo ‘thy', không theo nhng khu hiu, không theo nhng câu thiu, nhất là không theo nhng li l ‘nhân danh'. Nhân danh Kinh, T, hay Pht.
    Cũng không có l
    i gii lười biếng. Không có ba cơm min phí. Mun được mt cái gì có giá tr, có b ích, phi chu khó.
    Chân-tâm, Pht-Tánh? Tôi là ai? Là gì trong cuc đi ny? Cái ý, cái lý ca cuc sng? Đó là vn đ trng đi ca cuc hành trình còn li ca tôi. Nó nm trong tôi, bc thiết vi tôi. Tu là hành trì, trực nghim, thc nghim, kinh nghim. Tôi phải để công, để sức, để thời gian, không ch nghe kinh, tìm hiu, suy tư, lý lun, mà thc cht phi hành, đ nhn thc khong cách gia tri và hành, lý lun và thc sng, vng và chân.

 

Vn đ ca tôi không hn là ca thy-sư, sãi, giáo ch, giáo hi.  Thầy là người, cũng như tôi, có ưu, có khuyết.  Cái biết của thầy, cũng như của tôi, cũng giới hạn. cho nên không có lý do để tôi giao cái việc khó khăn nhất của tôi-tôi là ai? cuộc đời nầy là gỉ?-nhờ thầy giải quyết.

  • Có một số thầy muốn lập giáo, xây dựng giáo hội, giáo phẩm, để ban pháp, và đem pháp đến mọi người, mọi trình độ, cho nên phải tạo duyên cho mọi người đến chùa. Thế nên, chùa phải to, phải rộng, phải ‘hoành tráng', và như các chùa Tàu, có xin xăm, có cúng sao, có cầu hồn, và chùa ngày nay, có cả đại nhạc hội gây quỷ.
  • Có thể vì thế nên trong nghi thức quy y, ‘thy' bo người tín hu phi nguyn: "nương ta, vâng li, phc tùng tam bo"[25] Pht, Pháp, Tăng.
    - Phật thì xa ở thời gian.
    - Pháp thì là cái rừng ngôn từ. Ngôn từ do qui định của con người, như mọi vấn đề thuộc con người, nó hằng biến trong nội dung và cả cấu trúc hình thức. Huống chi, kinh kệ là truyền khẩu, rồi kiết tập-lần 1, lấn 2, lần 3-rồi đến các tổ giảng theo các tổ, rồi phiên dịch từ Phạn, Pali,...Tam sao thất bổn.
    - Còn lại là Tăng, mà đại diện là hàng giáo phẩm VN mi hình thành t 1963, và cn phi cng cn đnh quyn bính. Thế nhưng, vừa hình thành chưa được một thập niên thì đã tranh chấp nội bộ--tranh chấp ảnh hưởng hay quyền lực-giáo hội chia ra từng mảnh. Giờ lại có thêm tăng quốc doanh.
  • Xây dựng giáo hội, giáo phẩm, giáo quyền, tổ chức thần quyền-theocraty-là việc của các ngài Tăng Thống, Tổng Thư Ký, chủ tịch, tổng vụ trưởng, vụ trưởng, vụ phó chuyên ngành-nội vụ, ngoại vụ, tài chánh, nghi lễ, cư sĩ, tăng sự,...--không ‘mắc mớ' đến việc tu hành hay thân phận làm người mà chúng ta vấn hỏi. Không nên can dự vào. Chú tâm của hàng giáo phẩm là trật tự, đẳng cấp, quyền bính, quyền lực,.., cho nên họ cũng không hiểu, không biết gì nhiều về những vấn nạn của chúng ta.
  • Xổ số, lô tô, đại nhạc hội, tiệc tùng gây quĩ, bán đấu giá tượng Phật, ký sổ cúng dường hàng tháng, mượn vốn không lời,... dâng sớ cầu an, cầu hồn, ... giới thiệu ca sĩ, vận động xin tiền, xây chùa, xây thêm phòng họp, trai đường,..cũng không can gì đến chúng ta.

♦Hãy tr v vi nhng vn đ ca chúng ta

Đó là:

  • Tìm lại chính mình.  Tìm cái tôi mà mình cảm nhận đã mất trong những qui định xã hội. Hoặc muốn rõ ý nghĩa hay cho một ý nghĩa cho cuộc hành trình trăm năm nầy của mình.
  • Hoặc chỉ làm nhẹ những ràng buộc của môi trường, đang đè nặng cuộc sống hằng ngày.
  • Hoặc đơn giản hơn nữa chỉ là một sự  là tỉnh thức. Ý thức ở mỗi thời điểm về mình, về tha nhân, về những tương quan phức tạp-mình-và-môi trường- trong quá trình đổi thay của cuộc sống. Tự tin mà không cao ngạo, nghe giảng, nghe kinh mà tìm hiểu và kiểm nghiệm trong thực tiển hằng ngày.  Tin ở tam bảo mà không ỷ lại, không mất mình trong tam bảo hay vì tam bảo. Tam bảo, mà dạy cầu hồn, cầu phước, cầu an, cầu siêu thoát, là tam ma. Nói khất thực-xin ăn-mà thật sự là xin tiền- là nói dối.
  • Tỉnh thức cũng là trực nhận vọng ngã. Trực nhận là sống ý thức ở mỗi thời điểm. Một thời điểm, không đo lường được.  Cho nên, không thể diễn tả cái xảy ra ở một thời điểm bằng lời. Nó vô ngôn, nhưng tht s hin hu thi đim mà nó xy ra. Nhìn li, ta có thể diễn tả nó bằng lời, để ghi lại. Nhưng nó là nó, li không nói hết được, và không lúc nào là trung thc vi nó. Li ch nói được nhng ký c v nó, mt hình nh ít nhiu thô sơ ca nó, mà không là nó. Cho nên có câu: ‘Lời không nói hết ý, ý không nói hết tình.' Huống chi là những sự việc gồm cả tình lẫn ý, và những thứ khác nữa.
  • Sự việc xảy ra ở một thời điểm là tht có, tht s hin hu, nhưng nht thi, có đó ri mt đó. Nó phù du, qua nhanh như chp, ta không nắm bắt nó được, không giữ nó bất biến dù trong một thời  khoảng ngắn, vô cùng bé; nó không thuộc bất cứ ai, nó vừa hiện, liền biến mất. Nó vô ngôn, không diễn tả được bằng những qui ước của loài người.  Cái-thật-nhất-thời nầy là tuyệt đối thật: tuyệt đối trong cái nghĩa là nó tự hiện-hiện hữu, tự biến-tự hủy diệt ngay sau đó; nó t-lai-t-kh.
    Vì ta không nắm bắt nó được, ổn định nó được trong một thời-khoảng dầu rất ngắn, ta gọi nó là phù du, là giả hợp, là hư giả, là vọng.
    Thật sự, bản chất của nó-vọng ngã-là tht, nht thi tht có, nht thi hin hu.  Còn tâm-chân-như trong gii hn hiu biết và lý lun, thì:  bên ngoài là kết qu ca mt lý lun, ít nhiu logic, vì vng mà nói chân, vng ngun ca kh đau thì chân là nơi an nhiên t ti, vng là phù du thay đi, thì chân là hng tn vĩnh cu.
    V
    ng chân đi kháng, thì nếu vng là phù du, thì chân cũng phù du.
    T
    nh thc là luôn vn hi v vng và chân.
  • Nhưng Pht gia s bo: " Chân đây là chân tht tuyt đi, ‘chân tht bt hư'. Kinh sách ghi chép như vy.  Và Pht là Đc Giác Ng, giác ng s huyn diu ca chân tâm.
    S
    ư dy: "Ai tu ny hưởng. Hãy theo ta, ta dy cho con đường gii thoát."
    Tín h
    u theo sư.  K không tin thì bo sư ly kinh k lp ming người. Đường Tăng-nhân vt chánh trong Tây Du Ký-khi tìm được chân kinh, thì thy là kinh vô t, không có mt ch?

    Kết Lun:

 

Thêm mt ln na, xin lp li:
Không có l
i gii lười biếng, Không có free lunch.
‘Hãy t
đt đuc lên mà đi.'[26]


M
i người chúng ta ch có mt cuc đi đ sng, trên dưới trăm năm.  Rt gii hn, phi biết trân trng. Đó là mt cuc hành trình t sinh đến t. Càng đi, càng khám phá. Khám phá là giác ng. Giác ng:  tht-gi, đúng-sai, đp-xu, giàu-nghèo, kh-lc,..., cái tính đi-đãi, tương đi -nghit ngã hay may mn- ca cuc đi. Mt s giác ng tm thi, đúng đó ri li sai đó, mt s giác ng bt toàn, nh vy mà con người tiếp tc cuc hành trình, luôn m rng tm nhìn, luôn hướng thin-cái thin nht thi tuyt đi, nhưng tương đi trong cuc hành trình. Mt s tương đi nht thi, xy ra ‘cùng khp' và thường xuyên như có v vô tn và không b gián đon.


Đức Giáo Hoàng Benedict XVI và Francis I, gọi đó là sự độc tài chuyên chế của chủ nghĩa tương đối-the dictatorship or tyranny of the relativism.
Vậy thì Chúa ở đâu? Chân-như ở đâu? Sự thật tuyệt đối, vĩnh hằng ở đâu?
‘Hãy tự đốt đuốc lên mà đi.'

‘Trong quy y, ngoài s
quy y còn lý quy y.  ‘Lý quy y là tr vế vi chính mình.'[27] Sư chùa. Pht tâm.

‘Nước của Đức Chúa Trời là ở ngay trong bạn-the realm of God is within you." là tựa của một quyển sách của Lev Tolstoy. Nó gợi ý: đừng tìm Nước của Chúa-sự thật tuyệt đối--ở ngoài, mà phải nhìn lại bên trong chúng ta. Cái ở ngoài-tiếp cận, tương giao với ngoại nhân-là sự thật tương đối. Chân-như ở bên trong, thực chất là nội tại, toàn vẹn bất khả phân?  

T
nh thc là đốt ngọn đuốc bên trong. Ánh sáng đến đâu, thấy đến đó.  Không có phép lạ. Phép lạ do Chúa, do Trời, do những ngẫu nhiên ngoài dự đoán, tính toán của con người.
Phép lạ không là bùa chú, không do các pháp sư, cậu trạng, bà bóng, thầy bùa, thầy chùa, sư sãi.
Nhất thiết không tòng phạm với giới buôn thần bán thánh.

Người tu không để  dính mắc ở trụ hay vô trụ.

Tu là tỉnh thức. Tỉnh thức để buông xả?

 

Và lời sau cùng để suy nghiệm là lời của Đức Đạt Lai Lạt Ma:

"Khi trong tay anh nắm chặt một vật gì mà không buông xuống, thì anh chỉ có mỗi thứ ấy, nếu anh chịu buông xuống, thì anh mới có cơ hội chọn lựa những thứ khác. Nếu một người luôn khư khư với quan niệm của mình, không chịu buông xuống thì trí huệ chỉ có thể đạt đến ở một mức độ nào đó mà thôi."[28]

 

Houston, June 30, 20014

Ghi chú:  Chúng tôi chân thành cám ơn bác sĩ Nguyễn văn Vĩnh, giáo sư Vương Thúy Nga, giáo sư và nhà văn Trần Bang Thạch và ông đồ Đỗ Chiêu Đức đã chịu khó đọc và góp ý. Nhờ vậy, chúng tôi có những hiệu chính thích ứng.

 



[1] Internet

[2] Phật tuy tịch rồi, còn tượng Ngài lưu lại, cũng như Phậtở đời mãi, thế là ‘trụ trì Phật Bảo.  Thiều Chữu.  Hán Việt Từ Điển. Tái Bản Lần thứ hai. trang 20

[3] Pháp tuy tịch rồi, nhưng kinh sách còn lưu truyền lại,  thế là ‘trụ.trì Pháp Bảo', Thiều Chữu.  Hán Việt Từ Điển. Tái Bản Lần thứ hai. Trang 20

[4] Thiều Chữu.  Hán Việt Từ Điển. Tái Bản Lần thứ hai. Trang 6

[5] Thơ Tố Hữu. Nguồn Internet

[6] Thơ Tố Hữu. Nguồn Internet.

[7] Duy Lực Thiền. Posted on 09/07/2013. Internet.

[8] Nhi Chỉ Nhược.  Giải thoát tức thì. Tâm Vô Trụ. Nguồn : Internet.

[9] Nguyễn Duy Nhiên, Ấm một Bình Minh. Sinh Thức 55-1.
Phật học Online.  Trái Tim của Bụt.

[10] Phật học Online.  Trái Tim của Bụt

[11] Từ mượn của một bức tranh Thiền của giáo sư Nguyễn Đức Hiển.

[12] "thịnh và suy, hủy và dự, xưng và cơ, khổ và lạc". Tức là bát phong có bốn cặp: Một là hưng thịnh, lợi lộc và suy sụp, điêu tàn. Hai là hủy báng, gièm pha và danh dự, tiếng thơm. Ba là xưng dương, tán tụng và cơ bài, chỉ trích. Bốn là phiền não, khổ đau và an lạc, hạnh phúc.' Nguồn: Cư Trần Lạc Đạo, Bát Phong. Phật Học Ngày Nay.  Internet

[13] Nhân là nguyên nhân, chỉ cho những sự vật chính đó là nhân, trực tiếp sanh ra một vật khác, như hạt lúa lam nhân sanh ra cây lúa. Duyên là trợ duyên, chỉ cho những vật gì có tánh cách trợ giúp trực tiếp hay gián tiếp cho vật khác được thành. Như phân, nước, ánh sáng, nhân công...là trợ duyên giúp cho hạt lúa được thành cây lúa. Vậy nhân duyên là chỉ cho các vật làm nhân cho nó mà cũng vừa là trợ duyên cho tất cả vật chung quanh nó. 
Chữ "Nhân duyên" lại có nghĩa thứ hai: Các vật đều là "nhân", các "nhân" đó "duyên" với nhau mà thành ra các vật khác. Như vôi, gạch, ngói, gỗ v.v...là nhân, các nhân này duyên nhau (nương giúp) mà thành ra cái nhà. Vì các pháp trùng điệp nhiều lớp làm duyên cho nhau, mà thành ra vật thế này hay thế khác, nên trong kinh chép: "Chư pháp trùng trùng duyên khởi".  Thập nhị nhân duyên gồm có:  1. Vô minh, 2. Hành, 3. Thức, 4. Danh sắc, 5. Lục nhập, 6. Xúc, 7. thọ, 8. Ái, 9. thủ, 10. Hữu, 11. Sanh, 12. Lão tủ. 
Tạnh Thư Phật Học. Thích Thiện Hoa. Phật Học Phổ Thông. Internet.

 

[14] Nhi Bất Nhực, Tâm Vô Trụ. Giải Tức Thì.  Nguồn: Internet/

[15] Pháp Bữu Đàn Kinh. Internet

[16] Pháp Bữu Đàn Kinh. Internet

[17] Pháp Bữu Đàn Kinh. Internet

[18] Pháp Bữu Đàn Kinh. Internet

[19] Đào Duy Anh: Hán Việt Từ Điển

[20] Thiều Chữ: Hán Việt Từ Điển.  Lạc Thiện: Hoa Việt Thông Dụng Từ Điển.

[21] Thiều Chữu. Hán Việt Từ Điển

[22] Thiều Chữu, Hán Việt Từ Điển. Lạc Thiện:  Hoa Việt Thông Dụng Từ Điển. Đào Duy Anh:  Hán Việt Từ Điển.

[23] Nguyên Nguyên Huỳnh Hồn Cẩm. Nguồn Thiền. Nhà Xuất Bản Văn Học Thông Tin. trang 34.

[24] Thiều Chửu. Hán Việt Tự Điển. Lạc Thiện. Hoa Việt Thông Dụng Tự Điển.  Đào Duy Anh. Hán Việt Từ Điển.

[25] HT Thích Thiện Hoa. Phật Học Phổ Thông.  Sự Quy Y.

[26] Lời của Đức Phật.

[27] HT Thích Thiện Hoa. Như Trên.

[28] Nguồn. Internet

_________________________________________________________________________________________________ 

DUYÊN MAY

Bài nói chuyện của GS. Nguyễn văn Trường trong buổi hội thường niên

HAHCSVYK Huế hải ngoại, 26 tháng 7, 2014

 

Thưa giáo sư Khoa Trưởng,

Thưa quý Vị,

Quý Bạn,

Và quý Anh Chị,

 

Tôi là Nguyễn văn Trường, một người bạn đến với quý anh chị...không là giáo sư tiến sĩ, phó tiến sĩ, không là bác sĩ, không là cựu tổng trưởng, bộ trưởng, phần vì tôi không được có những tước vị, và những học hàm đó, phần khác, mấy cái danh vị nếu có được từ một thuở xa xưa , bây giờ nhắc lại, nghe sao cũng có chút vị đắng. Cho nên, nếu tôi được giới thiệu như một thành phần của tập thể những người có gốc Huế, đi ra từ Viện Đại hoc Huế, có dây mơ rễ má với Huế, có vợ Huế, có bạn Huế, biết ăn cơm Huế, dầu không phải là Huế chay, Huế mặn, tôi cũng sẽ sung sướng hơn nhiều. Và tôi xin gởi đến quý vị lời chào trong cái niềm vui đó.

 

Chúng tôi,  một số anh em ở Houston,  có dự tính về  miền đông thăm bè bạn. Tuổi cao, cơ hội  đi càng ít, nên nhân biết anh em cựu sinh viên y khoa Huế họp mặt, chúng tôi về. Anh Lê đình Thương, thấy  chúng tôi ghi danh, có liên lạc với tôi, và đề nghị giành cho tôi ít phút trò chuyện với môi trường  cũ,  trong không khí của những ngày còn trai trẻ. Tôi suy nghĩ về đề nghị của anh trong nhiều ngày, càng nghĩ càng thấy như mình có được cho cái duyên, cái duyên gặp lại nhau, duyên tương ngộ cùng bạn xưa, người cũ, duyên được thêm bạn mới. Tôi suy nghĩ mãi, hai chữ duyên may cứ ám ảnh tôi, để cuối cùng trở thành  cái đề tài tôi soạn để nói chuyện với các anh chị, với quý vị tối nay. Xin cảm ơn anh Thương, các anh chị trong ban điều hành, và cảm ơn quý vị hiện diện.

 

Trong đời sống, tôi được nhiều  duyên may. Gọi là duyên may, là cơ duyên,...gọi là vận số, gọi là cơ hội, chi chi đó cũng được. Duyên may là một yếu tố tương hợp, tương giao. Tôi người gốc miền Nam, Nam kỳ lục tỉnh chính gốc, tầm nhìn có khi không xa quá đồng bằng sông Cửu, bước chân đi không quá Bến Nghé, Thị Nghè,... Vậy mà tôi đã được đi học tận bên Pháp. Số là vào năm 1950, khi  học chưa hết chương trình première thì học đường  Sài gòn xẩy  biến cố trò Ơn, trò lên đường, xuống đường, nay biểu tình, mai bãi khóa, xáo trộn đến cùng cực, trường lớp đóng cửa. Vậy là tôi được gia đình gởi cho qua Pháp học tiếp. Mấy năm sau, vừa học, vừa làm, vừa đi dạy thêm kiếm sống, vừa chơi, tôi cũng xong được học trình cử nhân, thêm cái DES về toán. Nhưng càng ở lâu, tôi càng có cái ý muốn trở về quê cũ. Tôi muốn về lại nhà, vì tôi không muốn vĩnh viễn mất đi con người Việt nam trong tôi, và tôi biết chỉ ở lại thêm một vài năm, tôi sẽ không còn cơ hội trở về.  Tôi cũng nhớ mẹ, nhớ cha, nhớ  xóm làng. Năm 1957, tôi viết một lá đơn gởi bộ giáo dục, xin cho cơ hội trở về phục vụ. Không lâu sau, tôi được một lá thư dài của cha Luận, khuyến khích tôi  về làm việc với cha, với Viện Đại học tân lập ở Huế, với nhiều hứa hẹn về quyền lợi, và những điều kiện làm việc tốt. Tôi không biết chi về Huế, nhưng  ngày đó còn trẻ, điếc không sợ súng, không đắn đo cân nhắc nhiều, tôi về, rồi đi Huế. Khi quyết định về Huế, thật lòng mà nói, tôi đã không nghĩ đến quyền lợi, mà chỉ nghĩ đến cơ hội, cơ hội san sẽ và phục vụ. Người buồn nhất cho quyết định của tôi là mẹ tôi, vì mẹ tôi cứ nghĩ đi Huế là đi ngoại quốc, là đi xa lắm, như đã bỏ lại mẹ mà đi như mấy năm vừa qua.

 

Cận hè 1957, tôi đến Huế nhận việc. Tôi là một người trẻ đầu tiên, không gốc rễ, từ một nơi xa, đến một xứ xa,  để nhận một cái việc chưa rõ là việc chi, với một chức vụ mơ hồ và nhỏ nhất, thấp nhất trong nấc thang đại học: giảng nghiệm viên. Ngày đó đại học Huế hầu  chỉ mới có cái tên, và cái nghị định thành lập, chưa có trường ốc, chưa có lớp học, chưa có sinh viên, chưa có giáo trình, chưa có một đội ngũ giáo sư cơ hữu. Tất cả cái có của Huế chỉ là trong trí não, trong dự tính, có nghĩa là chưa có chi hết. Tôi được cấp cho một phòng trên lầu Thư Viện,  khá khang trang, ăn cơm tháng,  ngày ngày đi bộ đến chỗ làm, loe que mấy mống nửa thầy, nửa thợ, ngơ ngơ ngác ngác, không biết bắt đầu từ nơi mô.

 

Rồi lần hồi, từ cái trạng huống sơ khai khập khểnh đó, hình thành một cơ sở, từ cái mông lung, hình thành một nền giáo dục, một tiến trình, một cơ sở  văn hóa cho một thành phố,  giữa cái được gọi là kinh đô văn vật. Sau tôi, thêm một số người trẻ trở về, hoặc tìm đến, cũng không nhiều-chỉ năm bảy người, Lê Văn, Lê Tuyên, Nguyễn văn Trung, Trần Nhật Tân, Trần văn Bé,... Trở về, cùng đến trong một ý niệm, một quyết tâm, một ước muốn  được truyền đạt từ cha viện trưởng đến từng cá nhân người cộng sự:  giúp cho những người dân Huế, những con người trẻ nghèo, thua thiệt, mà chịu khó, chịu cực,  hiếu học, một duyên may, một cơ hội học hỏi,  thăng tiến. Từ cái tâm niệm đó, mà Viện đại học Huế  thành hình với cái bản sắc sơ khởi, để từ đó, mau chóng phát triển, trở thành một định chế có căn bản và đẳng cấp, có quy cũ, nề nếp, có cái hồn, có tư tưởng, có ngôn ngữ, có tập tục, lễ nghi.

 

Sự phát triển của đại học Huế những năm sau đó chắc không cần phải nhắc lại. Viện đại học Huế đã khắc phục được khó khăn, những khó khăn nhiều khi tưởng không thể vượt qua, để trở thành một đại học thứ hai của miền Nam với hầu hết mọi phân khoa. Chỉ một điều đặc biệt mà tôi muốn nói tới, là từ ngày khởi lập cho đến nhiều năm về sau, đại học Huế vẫn chưa thể hoàn bị  một đội ngũ giáo sư cơ bản, với những điều kiên về bằng cấp, học vụ, công trình nghiên cứu,... thỏa đáng. Tại sao vậy? Thật khó nói! Tại vì cái vị thế địa lý non bất cao, thủy bất thâm, tại lòng người, hay tại những hờn ghen của đất trời ? Tại vì Huế nghèo, và chặt lòng quá, Huế không cho ai một cơ hội? Hay bởi không đủ quyến dụ, thiếu điều kiện thăng tiến!!!  Cái thực tế đó càng cho thấy sự hiện diện của chúng tôi, ban giảng huấn thường trực với những người trẻ tuy có thiếu  tầm cở, nhưng mang cùng tâm huyết, mang tính san sẻ, hòa đồng, ...hợp cùng những người sinh viên trẻ thành một khối tương tri, tương ngộ,  hòa nhập, thích ứng. Và cái tinh thần đó là căn bản trong tiến trình trưởng thành đặc thù của Viện đại hoc Huế từ khởi đầu, cho đến về sau, hay ít nhất cho đến sáu năm sau, lúc tôi rời Huế: Đó là một môi trường  giáo dục không nặng tính áp đặt, mà nặng tính san sẻ, chuyển hóa. Giữa chúng tôi, vượt trên nguyên tắc thầy trò, quân sư phụ, là một thực tế tương quan cọng sinh, nương nhau, giúp nhau trong một nỗ lực đồng tiến. Vì dạy là học, là đào sâu vào những điều thủ đắc, để hiểu thêm về những  điều đã biết, khơi rộng hơn, và truyền bá đến người khác. Khi khả năng chuyển đạt càng mạnh, tác dụng truyền bá càng hữu hiệu, cái dạy và cái học mang tính lưỡng lợi. Và như vậy, cái dạy và cái học cùng mang một nghĩa như nhau. Đó là cái đặc thù bất biến của giáo dục, là cái lợi thế của những cơ sở giáo dục mà chưa có những cái khung cứng ngắc đóng hộp cá thể  vào trong định kiến, định chế. Cái đặc thù này thường chỉ có thể tìm thấy, bắt gặp trong những môi trường giáo dục mới, cởi mở, chưa bị gò bó bởi truyền thống, gạt bỏ ra ngoài những cố chấp, những ý niệm và vị thế tự cho là tuyệt đối.

 

Trong tinh thần đó, tôi đã ở lại làm việc với đại học Huế trong suốt sáu năm, để được chứng kiến sự trưởng thành, và những thành  quả của nỗ lực. Tôi đã được thấy, được tham dự, trong một thời gian ngắn ngủi, bao lớp sinh viên tốt nghiệp  các trường khoa học, sư phạm, luật khoa, văn khoa,...các viện hán học, mỹ thuật, âm nhạc, ...từ đó đi ra, nhập vào giòng đời với bao niềm hảnh tiến, tự tin, và thành đạt.

 

Trường đại học y khoa Huế cũng đã thành hình, và trưởng thành trong bối cảnh chung đó. Đã không có một đại học y khoa nào được thai nghén và tượng hình trong một thời gian kỹ lục, và trong một hoàn cảnh khó khăn như vậy. Chỉ không đầy hai năm, một ý nghĩ, một dự tính không tưởng đã trở thành hiện thực, trở thành một thực tế. Tôi không biết nhiều về những diễn biến chi tiết của từng giai đoạn, nhưng trên đại thể tôi vẫn nghĩ từ những quyết tâm của một ông tổng thống nặng lòng với Huế, của một ông viện trưởng biết khai thác thời cơ, óc thực tế của bác sĩ Lê khắc Quyến, cơ hội đã được nắm bắt, phối hợp thiên thời, địa lợi, nhân hòa, trong một giai đoạn chính trị ổn cố nhất của miền Nam. Sự quyết tâm đối diện với nhu cầu, với thực tế, và trên hết là  ý thức công bằng, chia xẽ đã thắng vượt trở ngạiÝ thức công bằng đó phát sinh từ sự đồng đều trong cơ hội, trong duyên may cho mọi người.

 

 Thời giờ, và bối cảnh của một bài nói chuyện không cho phép  tôi dông dài đi vào chi tiết của những điều đáng tự hào, những khó khăn, những niềm vui, những giọt nước mắt, những đau thương trong đời sống của ngôi trường đó. Các bạn biết và nhớ rõ hơn tôi. Các bạn và những vị đã sống chết với trường y khoa Huế bây giờ đang đã và đang ngẩng mặt nhìn lên, hãnh diện và tự hào về những đóng góp, về những khởi đầu, về nơi chốn từ đó đi ra. Tôi cũng không dám nói đến những thành quả, những đóng góp của tập thể những bác sĩ y khoa Huế đã  cho cộng đồng  quê nhà, và hải ngoại cùng những hội nhập vào cộng đồng y khoa quốc tế, dầu có biết bao nhiêu điều hay, điều tốt tôi muốn nói tới, từ từng cá nhân tôi được biết, cho đến quý vị giáo sư, khoa trưởng tôi thường được nghe nhắc nhở.

 

Bây giờ, về già, tôi vẫn thường nghĩ đến hai chữ duyên may, thành bại qua hai chữ số phần, cơ hội. Cho nên tôi vẫn thấy quyết định về làm việc ở Huế của tôi là đúng. Đó là chưa nói đến những ân sủng đã đến với tôi như một dự phần trong quyết định.Ước chi trong cuộc đời có được những cơ hội san sẽ, cho nhau một chút duyên may. Với một chút duyên may đó, bao nhiêu người đã vươn lên, và cuộc sống đã tốt hơn, đã đẹp hơn biết bao.

 

Sau 1963, Huế nói chung, và đại học Huế nói riêng chìm ngập trong đấu tranh, trong thù hận, ngột ngạt. Trong một dịp về Sài gòn công tác vào khoảng cuối hè 1963, đang lang thang trên đường Phan Thanh Giản, tình cờ tôi gặp người bạn cũ, giáo sư Trần văn Tấn. Ảnh rủ tôi ghé thăm giáo sư Phạm Hoàng Hộ, ngày đó mới được bổ nhiệm làm tổng trưởng giáo dục. Ông Hộ đã giữ tôi lại làm việc trong bộ, để rồi từ đó tôi đi vào hệ thống cấp quyền trung ương. Lại cũng là một tình cờ, một duyên may. Và như vậy, tôi đã bỏ lại đàng sau một thành phố của tôi, một phần đời của tôi, quê hương của Mẹ những đứa con của chúng tôi, những bạn bè, những người học trò thân quý. Bây giờ, gần sáu mươi năm sau, Huế vẫn là của tôi, bên tôi, một phần đời của tôi. Bên tôi, như người vợ giòng họ Hồ đắc của tôi. Bên tôi, như những người học trò cũ của tôi, như dòng sông Hương, như núi Ngự đã ấp ủ tôi, chia xẽ buồn vui.

 

Cũng trong phòng hội hôm nay, tôi có một người đàn anh, một người bạn cũ, giáo sư  Lê Thanh Minh Châu, nguyên Viện trưởng Viện Đại học Huế, và phu nhân, Giáo sư Tăng Thị Thành Trai, vị khoa trưởng Luật khoa đầu tiên của Huế. Giáo sư Châu đã dính liền với đời sống của Đại học Huế từ buổi đầu, năm 1957, cho đến ngày cuối của đại học trong chế độ miền Nam. Có giáo sư Châu ở đây, mà không nói đến những thành quả do giáo sư đã đem lại cho Viện Đại học Huế là một sự thiếu sót lớn. Vì giáo sư Châu là biểu tượng của sự ổn định, sự phát triển và tồn tại của Viện ĐH Huế, nhất là trong những năm 1970-1975. Sau 1975, tại hải ngoại, giáo sư Châu là  Chủ tịch hội đồng khoa lưu vong, cùng các giáo sư Nguyễn văn Hai, Đinh Văn Tùng, bác sĩ Bùi minh Đức, làm việc bên cạnh tổ chức AMA lo cho các bác sĩ Huế hội nhập vào sinh hoạt của cộng đồng y tế Mỹ. Cũng hiện diện tối nay, trong không gian này, chúng tôi biết có bà Đinh Văn Tùng. Chúng tôi xin các bạn giành một phút tri ân cho những người thân của chúng ta.

Tôi xin cảm ơn quý Vị và các Bạn.

NVT 

________________________________________________________________________________________________________________________ 

ThuCa_GSNVT_Portrait.jpgTHÂN PHẬN CON NGƯỜI

●Nguyễn Văn Trường

◙.MỞ ĐẦU: Felix Culpa

1.  Câu chuyện Trái Cấm.
1.1. ‘Rắn là loài xảo quyệt nhất trong mọi giống vật ngoài đồng, mà Ðức Chúa là Thiên Chúa đã TẠO ra. Nó nói với người đàn bà: "Có thật Thiên Chúa bảo: các ngươi không được ăn hết mọi trái cây trong vườn không?” Người đàn bà nói với con rắn: "Trái của các cây trong vườn, thì chúng tôi ăn được, trừ trái trên cái cây ở giữa vườn, Thiên Chúa đã bảo: các ngươi không được ăn, không được động tới, kẻo phải chết."  Rắn nói với người đàn bà: "Chẳng chết chóc gì đâu!  Nhưng Thiên Chúa biết ngày nào ông bà ăn trái cây đó, mắt ông bà sẽ mở ra, và ông bà sẽ như những vị thần biết điều thiện, điều ác."  Người đàn bà NGHĨ RẰNG trái cây đó ăn thì ngon, trông thì đẹp mắt, và đáng quý, vì làm cho mình được tinh khôn. Bà liền hái trái cây mà ăn, rồi đưa cho cả chồng đang ở đó với mình CÙNG ăn.[1]

Thế rồi, tổ tông loài người—Adam và Eva—bị phạt. Chúa phán với Adam: “Ngươi sẽ phải cực nhọc mọi ngày trong đời ngươi, mới kiếm được miếng ăn từ đất mà ra. Ngươi sẽ phải đổ mồ hôi trán mới có bánh ăn, cho đến khi trở về với đất, vì từ đất, ngươi đã được lấy ra. Ngươi là bụi đất, và sẽ trở về với bụi đất.’[2]


1.2. Trái cấm—the forbidden fruit— cũng có tên là trái tri thức—fruit of knowledge, còn có tên là - trái cho sự biết thiện và ác—fruit of knowledge of good and evil.

a/  Nói là trái của tri thức, trái của sự biết thiện và ác, vì ăn nó xong, Adam và Eva biết thịện, biết ác, thị phi hai ngã. Nói là trái tri thức cũng vì ăn nó xong, Adam và Eva biết xấu hổ: ý thức về mình—nói riêng, bản năng và dục tính, về môi trường chung quanh, về cái khác mình. Nói rộng hơn là biết nhiều ‘mặt đối lập’ của một sự việc: Phải quấy, đúng sai, giả chân, tốt xấu, hay dỡ, được thua, thành bại, mạnh yếu, nhanh chậm, vui buồn, bạn thù, tôi và môi trường….Một cách tổng quát hơn, Đông Phương gọi là âm dương.

b/  Nói là trái cấm, vì Chúa cấm không được ăn..

2. Có người gọi cái tội tổ tông là Félix Culpa—Phước Tội.  Tội nhưng cũng là phước.
2.1. Tội: Vì làm trái lời của Chúa.  Và bị răn phạt:
-Bị đuổi xuống trần .
-Eva: đau đớn khi thai nghén, cực nhọc lúc sinh con.
-Adam: Phải đổ mồ hôi trán mới có bánh ăn.  Chết sẽ trở về với cát bụi.
Cũng là tội vì Adam và Eve đánh mất sự trong trắng, bắt đầu xa rời Chúa.

Tội lỗi không chỉ trong nghĩa đen—không vâng lời Chúa—tội lỗi còn có thể hiểu là con người mang Satan hay Ma Vương ngay trong tự thân. 
Lòng con người có hướng thiện, muốn điều lành, hướng lòng mình về Thiên Chúa, nhưng Satan đã ở sẵn, nằm sâu trong tiềm thức, trong dục tính, dục tình.  Tuân tử
[3] khẳng định: ‘Nhơn chi tính ác’. Con người vốn ác. Plautus[4] cũng có nói:’Homo homini lupus’—con người là sói với con người.
Tuy ý thức thiện ác, nhưng con người  cũng theo sự thúc dục của bản năng và dục tính mà hành sự. Theo đó thường bước qua những giới hạn của tình lý mà gây nên tội.

Nói chung Thánh và Satan, Phật và Ma Vương  cùng hiện hữu trong tâm thức con người. Có lẽ vì vậy mà người Mỹ cũng gọi Holy Spirit là Ghost Spirit.

2.2  Và cũng là Phước:
- Phước là vì nhờ đó mà có loài người. Có chúng ta hôm nay.
- Cũng là phước vì chúng ta biết thiện ác.  Và trong giới hạn nầy,
con người trở thành như Chúa[5].

- Khi biết bên nặng bên nhẹ, bên thiện bên ác,  thì ắt có lựa chọn.  Muốn chọn bên nào cũng được. Vậy phước còn là có tự do lựa chọn. Mở đầu cho khái niệm tự do cho con người.
- Cũng là phước vì ‘nhàn cư vi bất thiện’—nhàn rỗi không tốt cho con người.  ‘Tay làm hàm nhai là phải.’ Không có cái gì là miễn phí. Nói theo người Mỹ: ‘There is no such things as a free lunch.’
- Phước nhất là: Trong con người có Ngôi Thứ Ba—Chúa Thánh Thần.  Hay nói theo nhà Phật, mỗi người đếu có Phật Tính. Điều nầy mở ra cho con người con đường trí huệ.

◙.THÂN PHẬN CON NGƯỜI

Thân phận như định mệnh, trời sinh ra thì phải thế. Cho nên, tôi nhờ câu chuyện ‘ăn phải trái biết thiện biết ác’ mà dẫn nhập vào đề. Là con người--thì ắt phải biết thiện biết ác. Đảo lại bất cứ sinh vật nào mà biết thiện biết ác LÀ CON NGƯỜI. Như vậy có thể nói biết thiện biết ác là một  điều kiện cần và đủ để làm người.  Cũng vì vậy mà gọi đó là một quan điểm về thân phận.

Trong ba pần đầu chúng ta bàn về thiện ác, phần thứ tư dành cho quan điểm về thân phận.

Một.

Thế nào là thiện, thế nào là ác?  Xưa, ở VN ta thì “Thương cho roi, cho vọt, ghét cho ngọt cho bùi”.  Ở Pháp và Mỹ cũng tương tự. “Qui aime bien châtie bien”.  “Spare the rod, spoil the child”. Xưa như vậy—cho roi vọt— là thiện, là xây dựng đứa con, dạy dỗ cho nó thành người.  Nhưng nay mà còn cho con roi vọt, thì ở Mỹ nầy, và có thể ở Pháp, cha mẹ sẽ gặp những phiền toái nhất định với chánh quyền.  Riêng ở Mỹ, chắc chắn cơ quan CPS , nếu biết, sẽ can thiệp ngay, và người cha hay mẹ, mà cho con roi vọt, phải gặp nhiều rắc rối, phiền phức, có khi còn phải ra tòa.
Vậy có nên chăng kết luận rằng không có cái thiện của muôn nơi muôn thuở.  Và tương tự, không có cái ác của muôn nơi muôn thuở. 

Không có thiện tuyệt đối, không có ác tuyệt đối?

Hoặc là: Thiện ác tùy qui định của một xã hội cụ thể, của một nền văn hóa cụ thể, và vào một thời khoảng cụ thể?
Theo đó, cái thiện hay ác ở VN, vào một thời điểm nào đó, không là thiện hay ác ở Indonesia cùng thời điểm hay ở một thời điểm khác.  Hay nói theo Pascal: ‘Sự thật bên nầy dãy Pyrénées là sai ở phía bên kia
[6].’  Hiểu rằng: Sự thật là thiện, cái sai là ác.

Trong một nền văn hóa có những nền văn hóa con, và nền văn hóa cháu, chắt mà chịu ảnh hưởng của nền văn hóa nầy.   Thí dụ: Các bác sĩ—hay kỹ sư, hay thợ mộc, thợ máy,..—có một nếp sống, ngôn ngữ và những giá trị riêng của họ, và nếu họ ở VN, thì họ tạo nên một nền văn hóa con của nền văn hóa VN.  Gia phong, gia đạo là những nền văn hóa con của nền văn hóa môi trường sống.  Và như vậy, mỗi cá nhân đều có một nền văn hóa riêng, một thang giá trị riêng, dù rằng chịu ảnh hưởng gia phong, chịu ảnh hưởng môi trường sống.

Theo đó, thiện là cái gì thuận cho cá nhân mình, và ác là cái gì nghịch ý của mình, có phải vậy không?

Tóm lại, câu hỏi một có ba phần:

1-1.         Không có thiện không có ác tuyệt đối, ở muôn nơi muôn thuờ?

1-2.         Thiện ác được qui định bởi thang giá trị của môi trường sống ở một thởi điểm hay thời khoảng lịch sử nhất định?

1-3.         Thiện chủ quan? Cái gì thuận cho mình là thiện? Cái gì nghịch với mình là ác?

Hai

Sư dạy: ‘Mọi người đều có Phật Tánh.’ Sư cũng nói: ‘Phật cũng có dạy: ‘Phật cao bao nhiêu thì Ma Vương cũng cao bấy nhiêu.’  Tôi không mấy khi tin ở Sư, vì rằng tôi chưa sẵn sàng để được ban pháp. Tuy nhiên, về điều nầy thì tôi tin.  Nói rõ hơn,  tôi tin rằng Phật thì thiện mà Ma Vương thì ác; tôi cũng tin rằng trong mỗi người đều  có Phật tính, và cũng có Ma tính.
Tôi cảm nhận trong tôi có một thang giá trị để phê phán: thiện ác, đúng sai, phải trái,…  và tôi sống theo thang giá trị đó; tôi luôn muốn mình hành thiện, làm phải, tri hành hợp nhất và đúng.  Đồng thời, tôi cũng bị thất tình lục dục sai khiến, có những thèm muốn tà tâm mà tôi nghĩ rất là người. Lắm khi những thứ ấy ẩn náu trong tận sâu xa,  trong tiềm thức mà tôi không hay biết, và tôi chỉ nhận ra sau khi đã làm điều đáng tiếc. Lòng muốn biết thiện, làm thiện là ông thiện trong tôi.  Những thúc đẩy do tà tâm là ông ác trong tôi. Thiện cũng là tôi mà ác cũng là tôi.
Mặt khác, có những cái tôi biết, có những việc tôi mù.  Cái biết của tôi soi sáng cho tôi: đó là Ông Thiện.  Cái không biết của tôi, phần mù của tôi:  đó là Ông Ác.
Câu hỏi thứ hai gồm 4 phần:

2.1. Trong mỗi người có một từng trên, biết thiện ác, và ai ai cũng có một tâm lý hướng thiện: đó là Ông Thiện.   Cũng có một từng dưới, sâu trong tiềm thức những đòi hỏi rất là người mà không biết thiện ác là gì, như quỷ đói, đòi con người phải đáp ứng thỏa đáng cho kỳ được.  Có phải vậy chăng?
2.2.  Cái biết của con người thì giới hạn, cái không biết của con người thì vô cùng.  Nếu cái biết của mình là Ông Thiện. Cái không biết của mình là Ông Ác, thì ra: trong cái nhìn nầy, Ma vương trong con người cao hơn Phật?
Trong cái nhìn ‘biết và không biết,’ một ông bạn tôi, trong một buổi thuyết trình, cách đây khoảng hai thập niên, có nhận xét: ‘cái biết của con người mỗi ngày một rộng, luôn mở rộng giới hạn của nó và theo đó đẩy lùi huyền học.  Ví như ánh sáng đến đâu thì bóng tối phải nhường bước.
Có thật như vậy không?  Nếu thật, thì mong được quí vị cho một thí dụ minh họa nhận thức nầy.  Nếu được trong lãnh vực y khoa hay thần học thì quá tốt?
2.3.  Còn có những nét gì khác nữa trong con người mà ta có thể sánh với Phật và Ma?
2.4.   Nếu thật có cái gốc Ma trong con người, và nếu con người không ngừng tiến bộ thì đời người—hay loài người—là một chuỗi dài trừ diệt ma chướng.  Hay nói theo Nhà Thờ, sanh ra đã có tội, và cuộc đời là một chuỗi rửa tội, diệt quần ma? Hay nói theo nhà Chùa thì cuộc đời là một chuỗi dài giác ngộ--ngộ rằng mình sai, ngộ rằng mình đang mê ngủ--rồi tỉnh thức, sửa sai, và như thế mãi,..đúng-sai, sai-đúng,..?

Ba

Có người bảo:  thiện ác là hai mặt của một đồng tiền. Nói cách khác: số 0 và số 1 của hệ thống nhị phân trong toán học.

Phải ít nhất là hai—khác biệt—mới kết hợp được với nhau mà sinh ra vô cùng. 
Chỉ sáu hào tiền, mà sinh được 64 quẻ Dịch.
Từ 0,1 sắp vào 8 chỗ, người Mỹ gọi là byte, chấp những bytes với nhau, theo những qui định cụ thể--một thứ văn phạm—ta có ngôn ngữ của các máy tính điện tử; thí dụ: Pascal, Fortran, Cobal, C, C++, Java,…
Nói khác hơn nữa ‘0, 1’là âm dương.
Âm dương tương khắc mới sinh ra vô cùng.
Thiết nghĩ, người đàn ông—tượng trưng cho dương tính—dù có giõi như Phù Đổng Thiên Vương, hay Tề Thiên Đại Thánh cũng không sanh con đẻ cháu được.  Cũng tương tự một phụ nữ--tượng trưng cho âm tính—dù có tài như bà Nữ Oa đội đá vá trời, mà không có người đàn ông thì cũng không sanh sản được. Phải đủ âm dương, mới sanh một rồi hai, nhiều và vô số. Cho nên xưa có câu: Lưỡng Nghi sinh Tứ tượng, Tứ tượng sinh Bát Quái,…

Câu hỏi duy nhất:

Có nên tổng quát hóa các khái niệm thiện ác, đúng sai, phải trái, phước tội, mê ngộ, giả chân, phàm thánh,…,  gồm tất cả vào hai chữ ‘âm dương?’ 

Bốn

Âm dương tương khắc, tương sinh. Cái nầy dứt khoác đối nghịch với cái kia, nhưng cái nầy cũng xác định cái kia. Cái nầy là nhân và cái kia là quả, của nhau. Không có cái nầy thì làm gì có cái kia.
Âm dương cũng tương tác và là nguồn cho sự không ngừng biến đổi của những chuỗi dài sinh tử, tử sinh, còn mất, mất còn. 
Âm dương nói thiện ác, phải trái, đúng sai, hay dỡ, trên dưới, sang hèn, xấu tốt, phước tội, …, nói chung là hai mặt đối lập của mọi sự việc. Trong âm có dương, trong dương có âm—như trong lá cờ của Nam Hàn.
Vậy
4.1. Trong thiện có ác, trong ác có thiện?

Âm có cái lý, sự, và cái thật của nó. Dương có cái lý, sự, và cái thật của nó.  Nói cách khác hai bên thiện ác, đối kháng nhau, nhưng bên nào cũng có cái lý và cái thật của nó.

Nếu được như vậy thì dưới đây là quan điểm thân phận làm người mà tôi muốn trình làng:

4.1. Thân phận con người là Âm-Dương.    Nó nằm trong ý, nghĩa và tình của hai chữ Âm Dương trong những bối cảnh sống cụ thể của mỗi người.
Cho phép tôi lấy một hình ảnh để minh họa điều nầy:
Con người không khác người đi dây trong gánh xiếc, lúc nghiêng bên nây—âm , lúc nghiêng bên kia—dương. Chỉ có khác, là người đi dây được tập  luyện nhuần nhuyển, lập đi lập lại một thao tác cả ngàn lần có thể đứng lại, đi tới, đi lui, hay cả nhảy múa trên dây, và có những biện pháp an toàn bảo vệ khi rủi ro bị té ngã. Còn với con người,  cái dây là đường đời, bên dưới là vực thẳm, và chẳng bao giớ có dịp gặp lại một tình huống in hệt để thao tác, tập luyện; và trong bất cứ tình huống nào cũng phải bước tới; nếu mất thăng bằng, rơi xuống, thì kết thúc cuộc đời. Mưa nặng giọt, giông bão, tuyết lạnh, cũng phải bước tới. Mỗi phút, mỗi giây, là một tình huống mới.  Đó là thân phận.
Thân phận của con  người vì thế mà động. Động là  không tĩnh. Động là năng động. Đời người là đổi thay, con người là đổi thay.  Luôn tiến về phía trước. Phía trước là cái mới.  Cái mới là cái chưa biết, có lắm chuyện bất ngờ, bất cập, không tiên đoán được. 
Vậy có thể nói thân phận con người là một thân phận phiêu lưu, bất ổn, hiểm nguy rình rập, xảy ra không biết bất cứ lúc nào. Điều nầy tạo cho con người một tâm trạng bất ổn.  Thế nên con người luôn thèm muốn một sự ổn định bền vững, một tịnh độ vĩnh hằng, một thiên đàng vĩnh cữu,… Đó là một tâm trạng mâu thuẫn với thân phận, và có thể là nguyên nhân của khổ đau.
Sống, luôn là thay đồi, trở thành một cái gì đó.  Chết, đối nghịch với sống, là một cái gì đó không đổi thay, bất di dịch, vĩnh hằng, vĩnh cữu. Như vậy, nước tịnh độ, thiên đàng, niết bàn, cái thèm muốn nhất của con người, để an ổn, phải chăng là cõi chết?


4.2. Cũng phải ghi rằng: ‘Người đi dây có luyện tập, thì con người –tuy không được tập luuyện  như người đi dây—nhưng cũng được dạy để chung sống với  đời. Có thể đó là những nguyên lý thực tiển như ‘chồng quan sang, vợ hầu đẹp, thần tiên chi nhất thế,’  hay chung chung như: để ‘có danh gì với núi sông’, hoặc ‘không thành danh cũng thành nhân,’ Từ lọt lòng mẹ cho đến trưởng thành, con người được dạy dỗ mọi thứ: ăn uống, cầm đũa, muỗng, nĩa, dao, ‘ăn coi nồi ngồi coi hướng,’ rồi vào trường thì ‘tiên học lễ, hậu học văn’, ‘gọi dạ, bảo vâng’, ‘nhân, nghĩa, lễ, trí, tín,’ ‘cách vật, trí tri, cùng lý, chính tâm, tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ,’….Nói chung gia đình, học đường luôn uốn nắn con người theo những qui định ít nhiều rõ rệt của luật pháp, của phong tục tập quán, của luân thường đạo lý. Ở Việt Nam, thời Cộng Hòa chúng ta, thì Hội đồng Quốc Gia Giáo Dục xác quyết phương châm: Nhân Bản-Dân Tộc-Khai Phóng, cho nền giáo dục quốc gia.  Nhân Bản là nói tính người, tình người, bản chất con người.  Nhưng không phải là con người nói chung ở muôn nơi muôn thuở, mà là con người của dân tộc VN, ở đất nước VN, trong thời khoảng lịch sử trước mặt.  Cho nên, phải nhấn mạnh hai chữ Dân Tộc.  Và có lẽ, các nhà giáo dục VN, thời bấy giờ, ý thức rằng dạy, trong một giới hạn nào đó,  có nghĩa là đóng khung con người trong một thang giá trị, trong một nếp sống văn hóa, thầy ra thầy, trò ra trò, cha ra cha, mẹ ra mẹ, …, trong một ước vọng ít nhiều rõ ràng.  Đã đóng thì phải mở.  Từ đóng bao hàm cái ý là thiếu sinh khí, là kiềm hãm sự phát triền.  Cho nên, phải thêm vào : Khai phóng.  Vì mục đích của giáo dục không là kiềm hãm con người, mà là nhằm để con người phát triển, để cái di sản của tiền nhân luôn được thêm giàu mạnh và phong phú.

Nêu lên những điều nầy, tôi muốn nhấn mạnh sự e ngại rằng: không khéo con người sẽ mất mình trong nền văn hóa mà mình thọ lãnh.

Cho nên, khi đọc:
“Tên tôi là một nhà tù,
Tôi đã tự mình vào đó, và tôi đang khóc.
Ngày qua ngày, tôi đã dày công đắp bức tường chung quanh.
Ngày qua ngày, nhà tù vươn tới trời xanh; trong bóng tối của nó tôi không còn thấy tôi đâu nữa”
[7]
của thi hào Rabindranath Tagore, tôi cảm nhận được phần nào sự bức xúc của ông về thân phận.

Và tôi nghĩ đến câu tự vấn: ‘Tôi là ai?’  ‘Tôi là cái gì trong thế giới nầy?’ của các nhà hiện sinh. Phải chăng tôi chỉ là những vai trò mà xã hội qui định? Tôi không khác những các vai trên sân khấu? Là vai trò người tình, là vợ, là chồng, là cha, là mẹ, là vua , là tôi,…. luôn phải diễn xuất như thật? Vậy thân phận của tôi là thân phận con rối, do một bàn tay vô hình của xã hội giựt dây? Thân phận của tôi—cũng là thân phận con người—là thân phận con thằn lằn, sống với cây xanh thì mang áo màu xanh, sống trong đất thì lấy màu của đất. Nhưng tệ hơn: con thằn lằn: tuy khoác áo, màu của môi trường sống, nó vẫn là thằn lằn, còn tôi, tôi bị qui định trong tận trong tâm sâu xa nhất của tôi bởi những giá trị mà tôi được dạy, do gia phong, do học đường và xã hội ngay từ lúc tôi lọt lòng mẹ. Tôi cảm nhận: tôi đã mất tôi.

Tôi cảm nhận: Con người không khác con tằm. Mình bị qui định –- không để nhả tơ—mà tìm mọi cách để tạo thành một cái kén; mình tự nhốt mình trong ấy, trong một cái ‘tôi’vĩ đại.  Cái ‘tôi’ấy—cái ego ấy—càng lớn, thì tính vị kỷ--egocentrism—của mình càng to.  Đến một mức độ nào đó, mình mất cả sinh khí trong cái kén-tôi-to-lớn của mình. Có người đồng nhất mình với sở hữu mà mình tích tụ suốt giòng đời: cái nhà của tôi, điền đất của tôi, trương mục, stocks của tôi, tư tưởng của tôi, sự nghiệp, công trình của tôi, vợ con tôi,….

Tỉnh thức, tôi muốn trở về với tôi, tôi muốn tìm lại tôi.  Lên chùa  hỏi Sư. Sư dạy: ‘Cái tôi qui định là vọng ngã. Cái tôi thật của mi là chân tâm.  Vọng ngã là hư giả.  Vọng ngã rơi.  Chân tâm hiện tiền.’  Nghe dễ ợt, nhưng đến giờ tôi vẫn chưa gặp được chân tâm.
Hỏi cha linh hướng.  Ngài bảo: ‘Cái tôi ấy là cái tôi giả (false self).  Nếu cái tôi ấy chết đi, thì sẽ thấy Chúa.’
[8]  Trở về với Chúa là trở về với cái Chân Thật Tuyệt Đối.
Bỗng nhiên, tôi giật mình, như bừng tỉnh.  Vô hình chung, tôi, theo thói quen, lại muốn học đạo, học cái cách để tìm lại chính mình, cái cách để không phải vong thân.  Nghĩ lại tôi suýt tự cột mình thêm một lần nữa—chặt chẽ hơn— trong tam qui ngũ giới, và thêm một lần nữa tôi suýt vào lại con đường học để tự đánh mất mình—không trong những qui điều của thế gian—mà trong những giới luật khắc khe hơn của tôn giáo.

Tóm lại, nếu phải nêu lên đây một quan điểm về thân phận, tôi xin thưa:

Thân phận của tôi là nhị nguyên—âm (A) dương (D), đối nghịch nhau, nhưng xác định lẫn nhau, không có cái nầy thì không có cái kia.  Trong thực tiển sống, người ta gọi đó là thiện ác, đúng sai, chân hư, phải trái, trên dưới, giàu nghèo, sang hèn, ổn định và bất ổn…. A và D tương tác cho ra B, thì tức khắc sẽ hiện hữu một đối nghịch C của B.  B và C xác định lẫn nhau như A và D, và như thế mãi…

Con người có thể như con tằm suốt đời nhả tơ, tạo thành cái kén, để tự giam mình trong ấy, mất mình trong ấy.  Và mình chỉ thật sự sống khi ngộ ra rằng mình tự chôn mình trong những sở hữu—tài, sắc, danh, lợi, kiến thức, giá trị, ,..—và tỉnh thức, mượn lời của Phật Gia, mình tự mở cửa nhà giam—vô môn quan--tự giải thoát mình ra những sở đắc của tự thân.
Thân phận con người là một chuỗi vô tận tìm lại mình, ‘thành ý, chính tâm’ mà cốt yếu vẫn là đối với tự thân. Hay như người xưa dạy: phải Vô kỷ? Vô công? Vô danh?

Trong cả hai cái nhìn, có những băn khoăn, cấn cái của nó; chấp nhận phiêu lưu, nguy hiểm, hay là ổn định trong cái kén nhỏ bé của cái tôi?
Thật là: Tội của tôi, mea culpa


Mong được bằng hữu chỉ giáo.
Houston, TX April 22, 2013

Nguyễn Văn Trường



[1] Kinh Thánh Cựu Ước. Sáng Thế Ký. Bản dịch Việt Ngữ của Nhóm Phiên Dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ. Chương 3 1-6 .Internet

[2] Kinh Thánh, như trên, Chương 3  17-19

[3] 313 TCN – 238 TCN

[4] 254–184 BC

[5] "Này con người đã trở thành như một kẻ trong chúng ta, biết điều thiện điều ác.” Trích lời của Chúa. Như trên.

[6]  Vérité en deçà des Pyrénées, erreur au delà 

[7] Nguồn: Internet

[8] Mat 16: 24-26; Marc 8: 34-35; Luc 9: 23-24.

____________________________________________________________________________________________________________

ThuCa_GSNVT_Portrait.jpgSỢ

·      GS..Nguyễn Văn Trường

.

Quanh bài nói chuyện ở Hội Cựu Giáo Chức VN và Thân Hữu Houston, Chú Nhật 07/31/2011

.

Một

Sợ là gì?

1.     Có hai cái sợ:
A:  Chúa Nhựt nầy, mời anh chị đến chơi, nhân  sinh nhật của nhà tôi.
B: Tôi sợ rằng chúng tôi không đến được,....
Cái sợ của B không là sợ mà một lời từ chối nhẹ nhàng

Nhưng,

‘Yêu là chết ở trong lòng một ít
Vì mấy khi yêu mà chắc được yêu .
Cho rất nhiều song nhận chẳng bao nhiêu ;
Người ta phụ, hoặc thờ ơ, chẳng biết ...’

là tình yêu cân-đo-đong-đếm. Còn e ngại, sợ mất mát, được-thua, lời-lỗ.

Cái sợ trong bài nầy là trong cái nghĩa của trường hợp thứ hai. Nhưng sợ là gì?

Theo Wiktionary[i], thì  ‘sợ’ là một động từ có nghĩa là:

1.     ‘hãi’.

2. ‘một trạng thái tâm lý của con người khi lo quá về các mất mát có thể đến cho chủ thể,  tổ chức hoặc các cá thể có liên quan về sự toàn vẹn, sự biến đổi, sự giảm sút về lượng hoặc chất về mọi mặt tinh thần, tình cảm, vật chất, quyền lợi

Định nghĩa 1 nói:

 ‘Sợ’ tức là ‘hãi’.

Vậy,
-    ‘Hãi’ là gì?

-         ‘Hãi’ là ‘kinh’.

-         ‘Kinh’ là ‘sợ’.

Vậy ,

Thay một từ nầy bằng một từ khác,‘sợ’ bằng ‘hãi’, ‘hãi’ bằng ‘kinh’ , rồi ‘kinh’ bằng ‘sợ’,  mà không định nghĩa ‘hãi’ hay ‘kinh’ là gì.  Đó chỉ là một cách chơi chữ, phù phiếm, có thể làm rối, làm loạn, làm phức tạp thêm cái mà vốn là đơn giản dễ hiểu như khái niệm về ‘sợ’.

Còn định nghĩa động từ ‘sợ’ bằng ‘một trạng thái tâm lý…’ thì e rằng tôi thay cái ‘sợ’—dễ, gần, ai cũng hiểu, cảm nhận được—bằng những từ ngữ thông thái, chuyên môn—trạng thái tâm lý, chủ thể, cá thể, ….— ít quen thuộc, trừu tượng, khó hiểu hơn.

Vã lại, định nghĩa là qui định cái nghĩa.  Điều nấy có thể là việc ‘gói nước trong bao giấy’:  Cái sợ là thật.  Thật sống.  Đa dạng vô cùng, sâu sắc vô củng, phạm vi rộng, cường độ sâu, vì là thuộc lãnh vực tâm lý—mỗi cảnh mỗi khác, mỗi người mỗi khác, cùng một người mà mỗi thời điểm mỗi khác. Vừa gói nó vào một bao giấy, thì nó đã thấm thấu vọt ra ngoài.[ii]  Ý tại ngôn ngoại, có văn nào gói được ý đâu.  Sợ không chỉ có ý mà còn là tình,  rộng hơn, sâu sắc hơn nhiểu.

Thôi thì, hãy chấp nhận ‘sợ’ là một từ ngữ ban đầu, từ đó ta xây dựng những từ ngữ khác.
Chúng ta sẽ rõ nghĩa của từ ‘sợ’ qua các thí dụ:

Có người sợ gián, nhện, rắn, lên cao (acrophobia), xuống nước (aquaphobia), không gian khép kín (claustrophobia), bị xã hội ruồng bỏ (social rejection), sợ thất bại, sợ chết…

Riêng tôi, soạn một bài nói chuyện với bạn bè thân thương, không có gì dễ sợ hay đáng sợ. Cũng  không có gì mà khi nghĩ đến phải phát sợ. Chắc chắn là không hú hồn, kinh khiếp. Nhưng thật thà mà nói, tôi có lo sợ, hay đúng hơn, e-sợ. Sợ  rằng không đem lại cho buổi hôị ngộ một không khí vui tươi, sống động. 
Tuổi trẻ ham sống, tuổi già tham sống. Trẻ, sinh lực tràn đầy, lúc nào cũng muốn ôm lấy cuộc đời, tất cả, như để nuốt trọn, một lần một mà thôi, trong chỉ một sát na mà thôi, để nghe thấy hết mọi mùi vị của cuộc sống, vụt chảy khắp châu thân, thấm thấu mọi giác quan, lan tộng và sâu thẩm trong tâm hồn. Cho đã, cho hả. Những lúc ấy, thật không biết sợ.
Thế nhưng, cũng có lúc, họ trầm mặc, lo âu về tương lai, lo ngại cho cái job. Cuộc sống vốn vô thường.  Đổi thay rõ nét, và nhanh chóng, gần như trong mọi lãnh vực; nói riêng trong kinh tế, kinh doanh, kỹ nghệ. Và điều nầy tạo ra một tâm lý bất ổn, bất an, một tâm lý sợ, có lẽ không hãi, không kinh, không khiếp, nhưng có khi cũng ơn ớn, nhất là trong một thoáng nhớ lại lúc phải đôn đáo tìm việc làm.

Già là thu đời. Cũng có thể xem là cuối thu, hoặc thu chuyển sang đông, hoàng hôn của cuộc sống. Quỷ thời gian càng vơi cạn, mỗi thời khắc càng trở nên trân quí. Cho nên, phải nhâm nhi, từng chút, từng chút một. Mùi vị, cay, đắng, ngọt, bùi.  Đủ cả rồi.  Nếu còn chút gắn bó với cuộc đời, đến đây hôm nay, có thể vì là tình bè bạn, tri kỷ, tri âm. Cũng có thể là muốn tìm một cái gì tinh tế, phiêu diêu, nhẹ nhàng, thoát tục.
Thế nhưng lại vấn hỏi vế cái chết.  Chết rồi sẽ về đâu. Cho nên, lắm người công quả, ấn tống (kinh hệ), cúng chùa, cúng sao,.., làm mọi cách để an tâm cho kiếp sau. Hoặc nghĩ đến  thân phận khi vào các trung tâm chờ chết (dying centers). Nghĩ đến mà kinh hoàng.

Nhưng cũng có tuổi già mà còn rất trẻ, và tuổi trẻ đã sớm già.
Và tôi phải thích ứng với mỗi lứa tuổi.

Và tôi không biết tâm trạng hôm nay của bất cứ một thính giả nào. Cho nên: sợ.

Vậy, tuy không sợ hãi, hoảng hốt, kinh sợ, nhưng tôi có lo âu, e-ngại, băn khoăn là không biết sẽ đáp ứmg được sự chờ đợi của thính giả của tôi hôm nay?

Kết để mở đầu

1.     Trên đây là những thí dụ để chúng ta cùng chấp nhận nghĩa của từ ‘sợ’—cũng như những từ liên quan —như là từ ngử ban đầu, cần thiết để xây dựng những từ ngữ khác.

2.     Những thí dụ nầy, ít nhiều nói lên  ‘một trạng thái tâm lý của con người khi lo quá về những khả năng bất ngờ xảy ra có thể đến cho chủ thể--chủ thể nầy có thể là một tổ chức, một tập thể,  hoặc một  cá thể

3.     Phạm vi ‘sợ’ rất rộng: từ  “e dè, lo ngại, hồi hộp”, đến  sợ, hãi, kinh, khiếp, từ băn khoăn, lo âu”, đến  “dễ sợ, đáng sợ, kính sợ, hãi hùng, kinh hoàng, hoảng hốt”, từ  cái sợ trừu tượng, trong tưởng tượng như sợ ma đến “run sợ, sợ tái mặt, sợ té đái, sợ đến chân tay co rúm, sợ đến bất tỉnh, sợ đứng tim”, thật là  cả một phạm vi rộng lớn nói lên sự phong phú của ngôn ngữ sợ,và sự giàu có của mức độ khác nhau của mỗi  thể loại.

Cái trạng thái tâm lý ‘sợ’ nầy có thể rất tự nhiên. Ai ai cũng có sợ, nhiều lần sợ, sợ suốt cuộc đời, bất cứ lúc nào[iii]. Sợ ma quỷ, sợ thần thánh, sợ trời phạt, sợ dơ (thiếu vệ sinh),sợ nghèo, sợ đói, sợ dốt, sợ vợ, sợ trộm cướp, sợ chiến tranh,  sợ đám đông, sợ cô đơn, sợ mất thể diện, sợ thất bại, sợ quả báo, sợ công an,.. thật không sao kể xiết.

Tuy nhiên, trong cái nhìn vĩ mô, chúng ta có thể phân biệt hai loại ‘sợ’:

Loại 1: Cái ‘sợ-bẩm sinh’ hay cái sợ tự nhiên.

Loại 2: Cái ‘sợ-tâm lý’, hình thành theo giòng đời.

.

Hai


‘Sợ-bẩm sinh’?

a/ Tôi xuýt té xuống vực thẩm. Thật hú hồn, may mà tôi bám được nhánh cây gần bên. Con chó vồ tôi, may mà tôi kịp đóng ngay cái cửa. Đó là do phản ứng  sinh tồn, phản ứng nầy  phát xuất từ cái sợ chết, sợ bị thương, sợ tai nạn.

Nhờ biết sợ mà con người có những phản ứng tự nhiên như thế để sống còn, khi gặp phải hoặc cảm nhận gặp phải những nguy hiểm cho bản thân. Nói cách khác ‘sợ’ là bản năng  phòng thủ bảo vệ bản thân.

Theo đó, sợ là cần thiết cho cuộc sống. Nếu không có cái cảm giác sợ đó, thì con người sẽ hoàn toàn thụ đông, không một phản ứng nào để tự bảo vệ trước những đe dọa thật sự trong đời sống.

Cái sợ nầy ai ai cũng có, tiềm tàng  tận sâu trong lòng, không biết tự thuở nào và tự động tạo những phản ứng chớp nhoáng, tức khắc.  Vậy nó có là bẩm-sinh không?


b/ Theo Tuân-tử[iv], tâm lý con người gồm hai phần: Tính và Ngụy.
 Tính là ‘trời sinh ra đã thế, không thể học và cũng không thể làm ra được’, ‘chẳng đợi phải làm gì mà sau mới như vậy.’
[v]  Ngụy là ‘cái ở người, học rồi mới biết, làm rồi mới thành,’ ‘cái sinh ra tự nhiên không được như vậy, tất phải đợi làm gì mà sau mới thành được như vậy.’[vi]
‘Tính thì ai cũng như ai, tính thánh nhân cũng như tính người thường’.
Tính, trong đó có tình, thuộc tiên thỉên. Ngụy thuộc hậu thiên.

Tuân Tử thuộc Nho gia, mà  theo Nho Giáo thì ‘tình’ gồm có: hỷ, nộ, ái, ố, ai, cụ, dục
[vii].
 

Vậy, theo Tuân Tử, ‘sợ’, cũng như ‘mừng, giận, thưong, ghét,‘muốn’, là ‘cái trời sinh ra đã thế’. Thánh nhân và phàm phu cũng sợ như nhau.

Tuy nhiên, cái duyên đưa tôi đến với ‘Tuân tử’—quyển Tuân Tử--không là cái sợ, mà là bốn chữ ‘Nhân chi tính ác’—tính người vốn ác.[viii] Thế thì cái xã hội loài người—bản tính vốn ácđáng sợ lắm.

Cái tính ác, chính yếu là do lòng dục—lòng ham muốn, tình yếu thứ 7—của con người.[ix]

Sợ và dục, trong một giới hạn nào đó, là hai mặt của một sự việc: Dục nói lòng ham muốn. Lợi, danh, tài, sắc. Đã có thì sợ mất. Chưa có, thì sợ muốn mà chẳng được, sợ công sức đầu tư chưa đủ, còn sợ mạng trời không cho.

 Cho nên, riêng cho cái sợ, có nên mượn thầy Tuân để kết luận rằng sợ là bẩm-sinh, tiên thiên, nhưng  cũng có cái hậu học—hóa ngụy—tích tụ suốt giòng đời?
Văn minh loài người là một giòng chảy không ngừng, không dửng ở thầy Tuân, hoặc ở một thời điểm nào. Người thời nay, với sự phổ biến sâu rộng của khoa học và kỹ thuật đã có cả một kho văn chương, triết học, khoa học, rất đa dạng, để mở rộng tầm nhìn. Chỉ cần lên net—thí dụ Google hay Yahoo—tìm Fear hoặc Sợ và chọn lựa.

Ba.

Con người là con sói của loài người ?

Nói ‘tính ác’ của Tuân Tử, thì nghĩ đến câu ‘homo homini lupus’ của Plautus[x]. ‘Con người là con sói của loài người.’ Nói bi thảm hơn là: người ăn thịt người, hoặc con người là kẻ thù dễ sợ nhất của loài người.
Thomas Hobbes
[xi] là một trong đông đảo những người trích dẫn câu nầy của Plautus. Như Tuân Tử, ông muốn cho một hướng đi, một giải pháp ‘bình thiên hạ’, một ‘thiên hạ’ sống trong hòa bình.

Ông không nói tiên thiên, không giảng hậu thiên.
Ông phân biệt con người trong hai trạng thái:

Trạng thái tự nhiên—state of nature— và trang thái xã hội phồn thịnh—commonwealth.

Trong trạng thái tự nhiên, con  ngưởi sống vô chính phủ, và  có nhiều tự do. Nhưng, ‘trong bản chất, con người có ba nguyên nhân để gây nhau: cạnh tranh (competition), đa nghi (diffidence[xii]), danh tiếng (glory).’

‘Cái thứ nhất làm con người xâm chiếm để đạt lợi; cái thứ nhì, vì an ninh, cái thứ ba, vì danh tiếng.’

‘Cái thứ nhất: dùng bạo lực để  chiếm đoạt con người của người khác,  vợ, con, và gia súc; cái thứ nhì: để tự vệ; cái thứ ba: cho những tiểu tiết—một tiếng nói, một cái cười, một ý kiến khác, hay bất cứ một dấu hiệu nào làm xúc phạm, hoặc trực tiếp hoặc phản ảnh qua những người thân, bạn bè, xứ sở, nghề nghiệp, hoặc tên tuổi của họ.’
‘Bởi đó, trong thời gian mà con người sống mà chưa có một quyền lực nào giữ cho nó kính và sợ, thì con người luôn  ở trong tình trạng chiến-tranh’
[xiii], người với người.
‘Đây không phải là đánh nhau trong nghĩa thông thường mà là cái căng thẳng, luôn sẳn sàng dùng bạo lực, để giải quyết những bất đồng, và cứ giữ trạng thái đó cho đến khi chắc chắn rằng sự bất đồng không còn nữa. Trong một tình trạng căng thẳng như vậy, thì không cách gì cần cù làm ăn lâu dài, con người luôn ở trong bất ổn, lo sợ hiểm nguy chết vì bạo lực. Cuộc đời vì vậy mà luôn cô độc, đáng sợ, đáng ghê, nặng nề, ngắn ngủi, và không khác con thú là bao nhiêu.’
Ở trạng thái tự nhiên, con người là con sói đối với loài người.

Ở trạng thái xã hội, mà mỗi người bằng lòng nhường (hay từ bỏ) những tự do của mình, cho một ông vua, cho một nhóm người, để họ có đặt quyền tổ chức để bảo vệ an ninh trật tự xã hội—thì, chừng ấy ‘con người là Thượng Đế (God) của loài người.’

Cái sợ, sợ bất an, lòng muốn có hòa bình,  đẩy con người tổ chức thành bộ tộc, thành quốc gia, mà tộc trưởng, triếu đình, nhà nước hay chính quyền là những pháp nhân được trao quyền—quyền cai trị, quyền lực tối cao. Đó là khởi đầu tư tưởng vế một ‘Khế Ứớc Xã Hội’(Social Contract) mà Hobbes chủ trương thiên hẳn về một chế độ quân chủ toàn trị.

Lịch sử các triều đại cho thấy  đã có những vị minh quân, hiểu được rằng ‘dân vi quí, xã tắc thứ chi, quân vi khinh’.  Cũng đã có những thời thịnh trị, có luật pháp, có luân thường đạo lý, dân chúng an cư lạc nghiệp.

Tư tưởng ‘khế ước xã hội’ trong một giới hạn nào đó, giải thích thỏa đáng cho thực tại một chế độ quân chủ lập hiến, hay viễn ảnh một chế độ dân chủ. Thực hiện điều đó là một bước dài của xã hội loài người.
Cũng phải ghi nhận rằng trong một giới hạn nào đó, con người biết ‘dưỡng nhân chi dục, cấp nhân chi cầu’
[xiv], biết từ nhượng, nhường quyền cho một ông vua hay một tổ chức, và  điều kiện an sinh của con người, ở một số quốc gia, đã trở nên tốt hẳn đi.

Thế nhưng, có hai điều phải nói:

1.     Con người vẫn là con sói của loài người:
Sự hình thành quốc gia đưa đến tinh thần quốc gia dân tộc. Quốc gia dân tộc là không chỉ là một tập thể nhân quần rời rạc, mà là một con-người-tập-thể, có hồn—hồn thiêng, hồn nước, hồn dân tộc. Lợi ích, văn hóa, đạo giáo, thể chế chính trị, kinh tế, xã hội, của các quốc gia thường khác nhau, cho nên giữa các quốc gia thường có mâu thuẩn, đối chọi, xung đột. Và đương nhiên là mạnh hiếp yếu, cá lớn nuốt cá bé. Mỗi quốc gia trở thành con sói đối với những quốc gia khác. Con người cổ võ hòa bình, nhưng chiến tranh liên miên. Thế chiến thứ nhất, rồi thứ hai, rồi chiến tranh Triều Tiên, Việt Nam, Afganistan, Iraq, Libanon, Kosovo,..và gần như khắp nơi trên lục địa Châu Phi.  Chiến tranh tự vệ, phòng ngừa, nội chiến, chiến tranh diệt chũng, chiến tranh lạnh, chiến tranh ý thức hệ, chiến tranh qui ước, chiến tranh chống khủng bố, chiến tranh tôn giáo,.. chiến tranh nguyên tử. Chúa, Ala, Thượng Đế luôn đứng vế phía ‘chúng ta’. Và, cho đến lúc ‘chúng ta’ chưa thất bại, thì ‘chúng ta’  luôn là ‘lương tri của thời đại’. Người lính, người công dân luôn sẳn sàng vũ trang, rút dao, rút kiếm, chỉ súng và sẵn sàng hạ sát người đồng loại để bảo vệ tổ quốc hay nhà nước hay lý tưởng của phe mình. Nói cách khác là con người lúc nào cũng tìm hoặc có được một chính nghĩa để giết người, những người phía bên kia, mà họ chưa hề gặp.
Cũng phải thêm rằng trong thế giới hôm nay, con người không còn những vũ trang đơn sơ; họ có súng ống bắn chính xác, tối tân, họ có vũ khí giết người hàng loạt.  Vừa có chính nghĩa, vừa được vinh danh, vừa được huấn luyện chuyên nghiệp, trong việc giết đống loại, con người bây giờ vẫn là con sói của loài người, và có khi còn dữ dằn tệ hại hơn, vì biết tổ chức, có ‘chính nghĩa’, và có vũ khí tinh vi. Nạn nhân của Hitler, Mussoloni, Togo lên đến hàng triệu, triệu. Và giờ đây Việt Nam đang bối rối vì các tham vọng bành trướng của Tàu Cộng. Đó chỉ là vài trường hợp ‘điển hình’.
Ghi nhận điều nầy, tôi không có ý phê phán, phân tích phải trái để kết luận rằng chúng ta phải làm thế nầy thế khác.
 Tôi muốn nhân đó mà lưu ý rằng:
Cái  con ma sợ của thời trước—về cái ‘tính vốn ác’ của con người hoặc hoặc về sự hổn loạn của cái vô chính phủ mà ‘con người là con sói đối với đồng loại’ của T. Hobbes—cái con ma sợ đó,  không vì ‘dưỡng nhơn chi dục, cấp nhơn chi cầu,’ mà chết hay ngũ đi. Nó chỉ biến dạng, trở thành to lớn hơn, thường xuyên hơn, dễ sợ hơn  vì rằng giờ đây là “sói quốc gia’, sáng ngời chính nghĩa.
Hồi chiến tranh lạnh, chỉ có Mỹ và Nga có bom nguyên tử, bây giờ thì thêm Ấn Độ, Pakistan, Trung Quốc, đó là viễn ảnh một cuộc chiến nguyên tử như một thứ gươm Damoclès treo trên đầu nhân loại.
Lịch sử loài người cho thấy có những nền văn minh sinh ra, phát triển, phồn vinh, rồi tắt, chết: Ancient Egypt, Maya, Mesoponamia,... Một  cuộc chiến nguyên tử giữa những cường quốc cũng có nghĩa là ngày cuối cùng của nền văn minh nhân loại chúng ta.

2.     Cũng phải ghi rằng T. Hobbes chủ truơng một vương quyền chuyên chế. Có thể Ông nghĩ rằng quân chủ chuyên chế vẫn hơn là cái loạn nội chiến; một ông vua chuyên chế vẫn có thể là một minh quân: dân giàu, nước mạnh.  Thế thì, con người có  nên từ bỏ tự do—của trạng thái tự nhiên—để ôm lấy một triều đại chuyên chế

·        Nghĩ cho cùng, dùng cái sợ để trị dân, để ‘bình thiên hạ’, để đạt được và nắm lấy quyền lực chính trị, thời nào cũng có. Nhưng đậm nét là dưới các chế độ độc tài. Nói riêng, quân chủ chuyên chế.
Mọi chế độ độc tài đều dùng cái sợ mà chế ngự con người. Trong The Prince, Machiavelli dặn ‘Ông Hoàng’ là phải làm cho dân sợ, mà không ghét.

Cũng có truyến thuyết nói rằng quyển The Prince là quyển sách đầu giường của Stalin.

·        Độc tài—dictatorship—thì toàn trị--totalitarianism: Chỉ một đảng (hay triều đình), nhà nước và đảng là một, điền thổ, cơ xưởng, mọi tư liệu sản xuất đều thuộc nhà nước (hay nhà vua). Chế độ có thể khoa trương rằng đã giữ được an ninh trât tự trong một hay nhiều thập niên.

Nhưng trong cái an ninh đó, cá thể phải hy sinh cho tập thể. Mà tập thể là một đám con chiên ngoan đạo. Trong thực tế, mỗi người là một mắc xích trong guồng máy của thể chế. Nhân cách vì thế mà không còn nữa.
Con người không còn là người.

·        Tôi nhớ mãi cái ‘thời kỳ quá độ tiến lên xã hội chủ nghĩa mà không qua tư bản chủ nghĩa’ của VN từ 1975 đến 1990.  Thật đáng ghê sợ.

Nói ra thì dài dòng lắm. Chỉ xin tóm tắt thế nầy: Thời kỳ đó hay hơn 30  năm sau ( và còn thêm bao nhiều năm nữa?)  ai cũng sợ guồng máy chánh trị độc tôn, độc tài, độc đảng; một xã hội suy đồi, một nền văn hóa kiểu:

‘Thương cha, thương mẹ, thương chồng,

Thương mình thương một, thương ông thương mười.( Tố Hữu)

Văn thơ loại đó được in và phổ biến rộng rãi. Người ta đã quên rằng Dương Chu đã có lần than: ‘Không hiểu tại sao có người khóc cho một hôn quân vô đạo’[xv]

Từ sau tháng Tư 1975 và mãi đến bây giờ người dân VN vẫn nói: Cây cột đèn mà có chân thì nó cũng vượt biên. Xem thế thì đủ biết cái SỢ của người dân mình nó lớn và dài đến cỡ nào!



Người may mắn thoát khỏi văn hóa Xã Nghĩa vẫn mang theo ác mộng, ít nhất một thập niên.  Người chẳng may sớm xuống địa ngục, thì thấy địa ngục chẳng có chi là ác ôn, đáng sợ, nhờ đã chay lòng khi kinh qua một thời xã nghĩa. 

Có anh chị cho rằng nói như vậy là quá.  Có thể vì quí anh chị chưa có con cái phải học thứ văn chương ‘thương cha, thương mẹ, thưong chồng,..’ vừa  nêu trên.
Với những anh chị nầy, tôi xin giới thiệu ‘1984’ hoặc ‘Animal Farm’ của George Orwell, hoặc ‘The Giver’ của Lois Lowry. Nếu chưa đọc, nên đọc. Nếu đã đọc, nên đọc lại. Mong rằng quí anh chị thấy đọc vui và lý thú. Cũng mong rằng sau đó quí anh chị hiểu cái sợ của đông đảo người đã trải nghiệm thời xã nghĩa mà một đặc thù khác nữa là: nhà nhà là tử sĩ hay phạm nhân, trẻ con còi cộc vì thiếu dinh dưỡng, đui mù vì thiếu sinh tố A, thất học, vì thiếu phương tiện hoặc vì bị học đường—độc quyền (cơ quan tuyên huấn
[xvi]) của Đảng—từ khước.

·        Lịch sử cho thấy có người, khi đã mê muội, mê ảo tưởng, mê một xã hội toàn hảo, thiên đàng tại thế, và lại có sức thuyết phục, có tài chế ngự, thêm một đám ‘thánh nhân’ viết lách –a dua hoặc bị thuyết phục— cổ vũ, ‘vinh danh’. Thế rồi,  một mình mình mê chưa đủ, phải làm mê cả ‘thiên hạ’ biến cả nước thành một đoàn cừu Panurge, cùng nhau xuống địa ngục. 
Địa ngục chiến tranh thời Hitler, Mussolini, và Togo. Địa ngục xã nghĩa ở Liên Bang Sô Viết và Trung Quốc, thời Stalin và  Mao. Rồi đến Việt Nam.

·        Thiết nghĩ, thời nay, thời của radio, TV, Internet, nhịp độ, mật độ và tốc độ trao đổi thông tin tăng tỉ tỉ lần hơn xưa. Nhờ vậy mà  trình độ tri thức con người có tiến bộ hơn xưa nhiều, sự hiểu biết có rộng và sâu hơn, và nếu có cơ duyên được sống trong một xã hội tự do, con người hiểu được những giới hạn của mình, hiểu quyền hạn và trách nhiệm, và theo đó, lòng tự trọng cũng là lòng biết trọng tha nhân và những qui ước môi trường. Con người không nhất thiết phài đánh mất mình để đổi lấy một cuộc sống an bình và ổn định.

Tóm lại, con người không bao giờ thoát khỏi cái sợ. Xưa sợ theo xưa, nay sợ theo nay.  Cái sợ hôm nay hình như dữ dằn hơn, nặng nề ơn hơn thuở xưa:  khoa học đã đẩy lùi bóng tối của dị đoan, của huyền bí, của thần học, của siêu hình, và con người có nhiều cơ sở khách quan hơn để ham muốn tự do,  khẳng định nhân cách của mình, ...và  sợ và biết mình sợ cái gì.

.

Bốn

Cây roi và củ carot. Răn dạy?

Biết như vậy, xưa cũng như nay, đông đảo người đã dùng cái sợ của con người mà răn đời dạy đạo. Và đại đa số, vì sợ mà nghe lời răn dạy.

Các nhà hiền triết, thánh nhân, đạo giáo, nhà nước, học đường, gia đình thường vin vào cái sợ mà giữ con người trong một nề nếp khả chấp. Cũng có hạng ăn theo, dùng cái sợ để thao túng lòng người. Thưởng phạt, dọa và dụ là phương cách thông thường của thánh nhân cũng như của người ăn theo. Thánh nhân giả vì vậy mà nhiều, chánh tà khó phân.

·        Nhà Thờ dạy: Vừa sinh ra là phải mang cái  cái tội của tổ tiên. Tổ Tiên loài người vì ăn phải trái thiện ác, cũng gọi là trái cấm. Muốn được cứu rỗi, phải rửa tội, tu hành theo Đạo Chúa.

·        Nhà Chùa thì bảo: cuộc sống vốn là khổ. Sanh, lão bệnh tử: khổ; cầu bất đắc: khổ; ái biệt ly: khổ, Ái tắng hội: khổ, và có thể còn nhiều cái khổ khác.  Tại sao lại như vậy?  Vì kiếp trước ta gieo (nghiệp chướng) thì kiếp nầy ta phải gặt.? Phật Đạo là con đường thoát khổ. Cúng chùa, công quả, tụng kinh cầu siêu, ấn tống là những phương cách ‘thực tiển’ tu phước, đầu tư cho kiếp sau.
Cây roi tội lỗi: địa ngục, đời vốn khổ, nghiệp chướng kiếp trước. Có dọa thì cũng có dụ: Viễn ảnh Thiên Đàng, Niết Bàn, Nước của Chúa, của chư Phật, tu để kiếp sau hưởng phước vô biên. Tu mau kẻo trể, đừng đợi tới ngày phán quyết cuối cùng, đừng đợi tới Long Hoa Hội, rồi mới hối cải?

·        Trong Giorgias, Socrates cố hết sức thuyết phục Callicles rời bỏ con đường vô luân, trở về với đạo lý, mà Callicles vẫn trơ trơ; sau cùng Ông cũng phải dùng hình ảnh địa ngục mà răn đe.

·        Gần đây thôi, trong các chủ đề ứng cử tổng thống của TT G.W.Bush là an ninh quốc gia—diệt trừ khủng bố là rõ nét.  Tôi có cái cảm giác ông thao túng cái lo sợ  mất an ninh của người dân.

·        Nghĩ cho cùng, không phải bất cứ ai cũng ý thức tôn trọng luật pháp, cho nên phải có  sợ vi luật mới có trật tự và an ninh xã hội.

·        Tuân Tử tin cái ‘tính’ có thể cải hóa được.  Ông thuyết ‘dưỡng dục, cấp cầu’[xvii]. Vậy mà, Ông không quên thưởng phạt .  Nói cách khác, có dọa bằng hình phạt, có dụ bằng tưởng thưởng.

·        Hồi nhỏ, sợ đòn, sợ mất mặt với bạn bè, mới chăm học.  Đó là trường hợp của tôi.
Cho nên ,

Thương cho roi cho vọt

Ghét cho ngọt cho bùi

         

là lẻ thường thời chúng tôi còn ở cấp tiểu học. Và đương nhiên bên cái hù dọa, có điểm số, lời khen thưởng, bằng danh dự, phần thưởng cuối năm,.. Nói chung, đó là  những cái không đáng, mà làm mình nở mũi, nở mặt, nở mài, làm mình hãnh diện, mà giờ nghĩ lại thật vô duyên, lãng xẹt. Tôi là một trong những con ngưởi đã  nhiều lần vô duyên, lảng xẹt, chạy theo những cái phù du  như thế.

Giờ đây, đọc, viết và nói về cái sợ, tôi phải thú thật rằng tôi có sợ, và sợ trọn đời, và gần như cái gì cũng sợ. Lần đầu vào học mẫu giáo, trường Ông Chưởng ở Trà Vinh: sợ. Lần đầu về học trường tiểu học Vũng Liêm: sợ.  Mỗi lần nhận một trách nhiệm mới, một chương trình dạy mới, lớp học mới, tôi luôn có cái lo âu, e ngại, không rõ ràng lắm. Sợ về những bất ngở, sợ  không tròn trách nhiệm có thể xảy ra. 
Hồi còn ở Huế, 1963, có lần được nghe, hay nhắn khéo, rằng sẽ có một sinh viên sẳn sàng tư thiêu tại sân trường, trong khuôn viên khách sạn Morin cũ. Tôi có nghĩ: tuổi trẻ không mấy ai muốn hủy đời mình, nhất là người VN và sùng đạo.  Mà Đạo Phật là đạo của sự tỉnh thức, của sự thông hiểu, của tứ vô lượng tâm, của tinh thần vô trước, của sự không dính mắc với bất cứ cái chi. Một phật tử, một con người ý thức vế cuộc sống và tự thân, khó có thể là một con người cuống tín. Hơn nữa, một sinh viên—một người tối thiểu có kiến thức tú tài, tức là có khả năng tự mở rộng kiến thức và tầm nhìn của mình—càng học, càng biết, càng có nhiều tham số về một sự việc, cho nên càng hiểu sùng tín không là cuồng tín.  Biết vậy, tôi vẫn sợ.  Biết đâu sẽ lả một sinh viên Phật tử của trường tôi, trong giới hạn trách nhiệm của tôi sẽ tự thiêu.

Cái sợ có thể đến mức độ  làm cho người ta đần độn, ngu mê, điên loạn.
Tình cờ, đọc trên  báo Việt Nam Mới, mục Rao Vặt, trang 12, bên trái là Tạ Ơn Đức Quan Thế Âm Bồ Tát, với Bạch Y Thần Chú và một tấm ảnh
[xviii]; bên phải là Lời Nguyện: Lạy Chúa, Lạy Cha  Phanxico Trương Bữu Hiệp, Ngài là Bậc Thánh...[xix]

Tôi thấy lại tôi, lúc ba đứa con lớn của tôi đi chui, còn lênh đênh trên biển cả. Tôi cũng hàng ngày niệm Bạch Y Thần Chú, cũng có lên mộ của một vị linh mục (có thể là của Cha Trương Bữu Hiệp,  gần bên Dòng Đồng Công ở Thủ Đức, mà những người đồng cảnh với tôi đều tin là linh thiêng) để cầu xin, van vái. Xin một phép lạ để con chúng tôi được an toàn đến trại tị nạn.
Nghĩ  lại, lúc bấy giờ tôi không còn là tôi thường ngày, tôi có đần độn, ngu mê, và điên loạn. 

Kết luận: Đừng để quá sợ đến ngu si mê loạn. Cũng đừng để vì sợ mà bị người thao túng.


Sợ thuộc tiên thiên, thánh nhân và phàm phu đều  sợ như nhau (Tuân Tử).

Tuy nhiên,  thái độ, cử chỉ, lời nói thánh nhân và phàm phu thì khác nhau: mức độ tu vi khác nhau; mục tiêu, cứu cánh cũng  khác. Cứu cánh của thánh nhân nhắm vào  cái tốt cho đời, còn của phàm phu lắm khi là trục lợi cho riêng họ.

Thánh nhân thì xa và ít người. Lời dạy cũng xa, cao xa hoặc xa vời. Đông đảo là phàm phu, phàm phu không dạy, phàm phu hành động có thể vì lợi, vì danh sắc, và ta luôn chung đụng với phàm phu. Vì vậy, phàm phu là cuộc đời, sống với phàm phu là thật sống, học với phàm phu là thật học, học về cuộc sống.
Cho nên không vì hai chữ phàm phu mà sợ, hoặc xem nhẹ, cũng không vì hai chữ thánh nhân mà trọng hoặc mê. Muốn học, hiểu, thấy, biết, thì đừng xem nhẹ, xem thường, cũng đừng quá xem trọng mà mê loạn.  Nên học trong tinh thần vô trước với ý thức rằng mình đã nặng mang một bầu ‘kinh sử’, gặt hái suốt giòng đời. Bầu ‘kinh sử’ nầy có thể giúp mình mở mang trí tuệ và cuộc sống, cũng có thể che lấp khi nó trở nên thành kiến, hoặc cuồng tin, quá tin ở nó.

Năm

Dám nghĩ, dám làm?

Đối nghĩa  với sợ là không sợ.  Người không biết sợ bất cứ cái chi, cả sợ chết, thường rất đáng sợ. Kẻ khủng bố ôm bom vào đám đông cho nổ, là một con người đáng sợ. 
Một từ khác để nói không sợ là: dám. ‘Dám nghĩ, dám làm’ là khẩu hiệu thường nghe thời xã nghĩa trong những năm 1975-90, mà người vô sản và kẻ địch xấu miệng xấu mồm lại nói ‘dám nghĩ bậy, và dám làm bậy là nghề của Đảng ta’.  ‘Dám nghĩ, dám làm’ chỉ là một khẩu hiệu, chưa có nội dung.  Nghĩ và làm cái gì?  Biến triết thuyết xã-nghĩa thành kinh thánh,  hình thành Giáo Hội Đỏ, mà Stalin là Đức Thánh Cha, ngự ở ‘Tân-Roma’, tên thật  là Mốt cô va, Mao là Thượng Phụ, mà ‘Tân-Constantinople’ là Bắc Kinh. Rồi ở Việt Nam cũng như ở nhiều xứ khác, mọc lên một người khai-đạo, một Thượng Phụ Đỏ, một lớp giáo sĩ cao cấp đỏ, đông đảo giáo sĩ thấp cấp đỏ, còn lại là con chiên vô sản. Hồ giáo chủ dạy: ‘Con đường vào Đạo thênh thang  mở rộng cho mọi người, nhưng không là con đường trải thảm đỏ, mà lắm chông gai thử thách.’  Tuy nhiên, ngoại đạo là dị giáo, cũng gọi là phản động, phản Đạo.
Vào Hội Thánh Đỏ phải dám ‘tề nhân’: tề sao cho mọi người in như nhau, nghèo như nhau, dốt như nhau, mất nhân cách như nhau; tề cũng là sẳn sàng bắt nhốt hoặc thủ tiêu những ai dám nghĩ khác và làm khác. Bọn người – bị mất tự do, tước đoạt nhân cách—gọi:  nghĩ  ra ‘tề nhân’ là nghĩ bậy, thực hiện ‘tề nhân’ là làm bậy.’

Trong phần còn lại, ‘dám’ không có nghĩa là ‘dám nghĩ bậy’ hoặc ‘dám làm bậy’.

Trong ngôn từ chúng ta có câu: ‘Người điếc không sợ súng’. 
Không phải người điếc dám hứng  làn tên mũi đạn.  Họ không nghe được tiếng súng, không biết có làn đạn, vì vậy họ không sợ trúng đạn, nhưng nói họ ‘dám không sợ đạn lạc’ là không đúng.

Một em  bé vào sở thú bỏ tay mẹ nó, đến gần một con sấu, mọi người đếu hoảng vía vội chạy ôm nó lại kịp thời, nhưng em bé dửng dưng không biết sợ.
Sở dĩ  bà mẹ và những người trong hiện trường ở sở thú hoảng sợ là vì họ có kinh nghiệm, thấy ở TV, movies, đọc trên báo, ..đâu đó về những tai nạn do cá sấu. Khi em bé bất ngờ lại gần con sấu, họ giựt mình kinh sợ, vì những kinh nghiệm thu thập, chìm trong tiềm thức, bổng trở lại, tạo phản xạ chạy bồng em bé.

Nói chung cái mà người ta không biết thì người ta  không sợ, chớ không phải là ‘dám’. 


Vậy thế nào là ‘dám’?

Ở Mỹ, ai cũng có xe hơi và ai cũng biết lái. Tôi là người mới đến. Tôi có cảm giác người Mỹ chạy xe quá nhanh, chạy như điên. Phản ứng đầu tiên của tôi là không dám lái xe. Tôi muốn an ổn. Thế nhưng, chỉ trong vài ngày đầu thôi, muốn đi dâu, tôi phải nhờ con cái. Trong tuần thì chúng đi làm, cuối tuần, thì chúng đi…chơi. Tôi có thể đi chơi với chúng, hoặc bảo chúng đi chơi với tôi. Ở chỗ của tôi lại không có xe buýt. Thế thì trong tuần tôi phải luôn ở nhà, không đi đâu được.

Hồi ở Sảigòn, 1975-92. không mấy khi tôi ra khỏi thành phố, mà khi rời thành phố, tôi phải cho công an phường và tổ dân phố biết tôi đi đâu. Thì dụ tôi về quê tôi ở Vĩnh Long. Tôi xin một giấy di chuyển cho an tâm. Khi đến Vĩnh Long, tôi bảo cháu tôi trình cho công an và tổ trưởng phường biết.  Những thủ tục nho nhỏ đó làm cho tôi lười ra khỏi thành phố, và tôi có cảm tưởng mình bị giam cầm trong cái khám Sàigòn. Nói thì nghe quái đảng, nhưng đó là thật. Giờ đến Mỹ, vì không dám lái xe, mỗi tuần ít nhất năm ngày, tôi tự giam mình trong căn nhà của con tôi.

Sự không dám đã giới hạn môi trường sống của tôi.

Sống là phải dám. Và tôi  đã đi học và thi lấy bằng lái xe.

Trước hết, dám là dám giáp mặt với vấn đề.
Nếu vấn đề là của mình thì không trốn chạy
.
Thí dụ mình sợ: sợ con gián. Cái sợ ấy nằm trong mình, vì mình có một kinh nghiệm sợ gián: bị người ta nhát, hoặc mình sống trong những điếu kiện vệ sinh tối ưu, và trong tiềm thức đã có sẳn hình ảnh: gián là dơ bẩn, mang vi trùng—do mình có đọc, xem phim tài liệu về gián.  Thế rồi, mình sợ gián.

Cái sợ nầy ở trong tâm

Mang cái sợ trong tâm, thì có đi đâu, nó theo đấy, như thân mình với bóng. Và có khả năng rằng càng chạy, càng trốn tránh, càng sợ, vì có thêm gia trọng là cái sợ của người chạy trốn.

Vậy, nên trực diện  với cái sợ, tìm hiểu nó, tức là hiểu, thấy mình trong cái sợ. Gíáp mặt là như vậy đó. Không có cái giáp mặt thụ động, tiêu cực, chờ đợi một phép lạ. Nhờ vậy, mà mình biết mình hơn, để có những đổi thay thích hợp.

Thứ đến, dám cũng là dám thi gan cùng thử thách, vì vấn đề nào cũng là thử thách. Tìm hiểu, học hỏi, chịu khó, kiên nhẫn, tìm dữ liệu, phân tích, tổng hợp, thử mọi cách để vượt qua thử thách.  Đó là thi gan cùng thử thách. Nói cách khác là dám để công sức và thời gian để tìm một lời giải khả chấp. Ta có thể thất bại, nhưng không chịu thua. Mỗi lần vấp ngả, là phải đứng lên ngay và đi tiếp tục. Đạt một mục tiêu, đến một cứu cánh là quan trọng. Nhưng cuộc đời không có điểm đến: điểm tới nào cũng là một điểm khởi đầu. Dám là ý thức, thấu, hiểu rằng cuộc sống chỉ có thể là một chuổi dài khởi điểm. Cứu cánh của cuộc sống chính là diễn trình của chuổi khởi điểm nầy.
Không có cứu cánh cuối cùng. Người mà bảo: Cứu cánh biện minh cho phương tiện[xx], là tự dối mình và dối người.

Dám cũng là dám sáng tạo, bước ra khỏi con đường mòn cùng đi hàng ngày với thiên hạ.
Sau đây là một câu chuyện, tôi được nghe kể:

Có một ông , người VN ở Houston, làm nghề cắt cỏ dạo: một xe truck, máy cắt cỏ lớn nhỏ, máy xén (trimmer), …, và hai người Mể giúp việc. Vốn liếng đầu tư không bao nhiêu, công việc tuy dãi nắng, có khi cũng dầm mưa, cũng nặng nhọc, nhưng cuộc sống thoải mái, dư dả, dễ chịu.
Ông để ý mỗi nhà đều có sân sau, khoảng 1000-2000 square-feet. Ông để ý người VN hay trồng rau cải sau nhà để chi dùng hay cho bè bạn. Ông bèn đề nghị với họ rằng Ông sẽ trồng cho họ: hành lá, rau muống, rau thơm, rau răm, rau dền…vân vân. Và như vậy, sân sau củ họ sẽ đẹp hơn, họ sẽ có rau tươi gần như bốn mùa, với điều kiện là họ phải tưới hằng này cho Ông. Bù lại, có hai người Mễ của Ông đi chăm sóc vườn rau, và sau mỗi lần gặt hái, ông sẽ cân và mua rau với giá sĩ, để Ông đi bỏ mối các tiệm bán lẻ. Ông phải có những đề nghị khả chấp, thuyết phục cho kỳ được.
Ông cũng đã lên net, khảo sát các giống, đến các nursery học hỏi, thử nghiệm ở sân sau của Ông.

Đó là thí dụ một con người dám ra khỏi cái thông tục, dám phiêu lưu nghĩ suy, tính toán, kết hợp cái lợi của tha nhân với cái lợi riêng của mình, và dám đầu tư vốn liếng, thời gian, công sức, thử nghiệm một con đường kinh doanh mới.
Cái mới nào cũng đáng ngại, chỉ vì nó mới, ta chưa biết bất cứ một cái gì về nó. Cho nên, đi vào cái mới, ta thường có một cảm giác hoang mang, chới với, dễ bị tổn thất hoặc tồn thương. Phải có gan. Thế cũng chưa đủ. có gan không có nghĩa là mù quáng, hay cứ theo quán tính mà hành sự. Có gan là có ý thức về sự phiêu lưu, về những khả năng xảy ra bất ngờ, ý thức về tính vô thường của cuộc thế, để vui tìm những phương thức thích ứng với đổi thay. Không phải lúc nào cũng thành công như Henry Ford, Bill Gate, Lee Iacoca,… Thành bại cũng quan trọng, nhưng cứu cánh vẫn là cuộc phiêu lưu, là trải nghiệm một nếp sống mới, một cách làm ăn mới.

Vậy, ‘dám’ không là hành động ngẩu nhiên tùy hứng, mà là theo sự thấy, hiểu, ý thức về mình, về người, về bối cảnh; và trong giới hạn của sự thấy, hiểu, ý thức nầy, có thể phiêu lưu sáng tạo một hướng đi mới cho tự thân.

.

Phần Kết

Sự thật sẽ giải phóng con người, nói riêng thoát khỏi cái sợ ?

Hình như cuộc sống luôn mở rộng và trở nên phong phú hơn cho những người dám sống, chấp nhận hiểm nguy, trong giới hạn những qui ước khả chấp.

Tuy nhiên, không ai muốn sống trong sợ hãi.
Vậy, vấn đề sau cùng là làm sao để hết sợ, phải hết sợ mới dám, mới sống dầy, sống hết khả năng mà Trời ban.

Khi trà dư tữu hậu, mình có thể sắp loại cái sợ. 

Có những cái không đáng sợ: sợ ma, sợ quỷ, sợ bùa chú, sợ gián, sợ rệp, …

Có những cái đáng sợ: sợ chiến tranh, sợ độc tài toàn trị, sợ vi phạm luật pháp,…
Có những cái sợ ‘sướng’. Thí dụ, lần đầu đi gặp người đẹp: Sợ. Phải dọn cái ‘mã’ cho tươm tất, dọn lời, dọn ý, cữ chỉ, thái độ, tất tất đếu phải dọn trước tĩ mĩ trong chi tiết để.. chỉ để tự tin.

Biết sợ ‘sướng’ thỉ nên sướng.
Biết không đáng sợ, thì đừng sợ: lòng cũng nhẹ đi nhiều. Ý đã quyết thì còn lo gì những cái không đáng. Thế nhưng, đó là ý, là lý. Cái lý trong lúc bình thường là vậy. Sợ lại không thuộc lý, mà là tình. Khi nó đến, và lúc nào nó đến cũng bất ngờ, không cho hay trước, thật vô lý, vô lễ. Thì ra: nó vốn phi lý, phi lễ, phi  nghĩa. Trong hoảng hốt, vì sợ, thì nào có nghĩ xem nó thuộc loại nào, đáng hay không đáng sợ.
Vậy, phải làm sao?
Như đã thưa trên, cái sợ nằm trong ta: cũng là ma, quỷ,  gián, rệp, nhưng có người sợ, có người không sợ, và trong những người sợ, cách sợ và mức độ sợ cũng khác nhau. Và theo đó, thái độ thích hợp nhất để ‘trừ’ cái sợ, là không trốn chạy. Có trốn chạy cũng vô ích, nó ở ngay trong chính mình. Vậy, xin lặp lại phải dám giáp mặt với cái sợ. Phải có gan để một phút, một giây, lưỡng lự, do dự, giữa trốn chạy, tránh né, và đối mặt, tìm hiểu.

Muốn có được cái thời khắc quan trọng đó, những ai có đạo, thí dụ Ky-Tô-Giáo hay Đạo Phật, thì phải thức ngộ ngay tức khắc rằng mình có Chúa Ky-Tô, có chư Phật.

Đức tin có khả năng giúp mình bình tỉnh lại, lý trí trở lại với mình. Mình có thể cầu nguyện, và chỉ cần một thời khắc nhỏ về lại với đức tin, thì có thể trực nhận mình đã chao đảo, không khéo sẽ bị cái sợ hốt hồn, quên cả Chúa, quên cả chư Phật.

·        Với  người tín hữu Ky-Tô thì Satan là vua của đêm đen, đêm tối mịt, đêm của sự dốt nát, tối của sự u mê.  Satan chỉ ngự trị được mình qua u mê và dốt nát, ở mọi lãnh vực mà mình không có kiến thức. Khi mình khám phá, biết và trải nghiệm được sự thật, thì mình được tự do, không phải sợ bất cứ cái chi.
Chúa Jesus dạy: ‘các ông sẽ biết sự thật và sự thật sẽ giải phóng các ông’ 
John  8 : 32[xxi]

Thật ra không phải sự thật giải phóng mình, mà vì biết được sự thật mà mình được ra khỏi bóng tối của Satan, theo đó, không còn sợ. 

Sự thật là cuộc sống vốn đổi thay mà con người thì muốn ổn định. Thiện ác, tốt xấu, sang hèn, giàu nghèo, hay dỡ, được thua, thành bại,… nói chung thị phi hai ngã là thân phận con người, mà con người thỉ chỉ muốn một bên mà thôi: thiện, tốt, .. ..chẳng ai muốn bên kia: cái ác, cái xấu.

Vì ta hi vọng hay chờ đợi một sự hằng tồn, luôn ổn định, nên phải nghĩ ra một Niết Bàn, một Chơn Tâm, bất biến, thoát khỏi luân hồi sinh tử.
Vì ta chỉ muốn đúng, phải, tốt, thành đạt,.., mà nghĩ đến một nước Tịnh Độ, một Cực Lạc Quốc, một Thiên Đàng để đi về.
Cho nên, sợ bất ổn, sợ đổi thay. Sợ cái mà ta không muốn sẽ xảy ra.

Vậy, hãy ôm trọn cuộc đời, cả thị lẫn phi. Đừng buộc sự việc phải thế nầy, thế khác. Phải nhận nó như nó thật sự là. Gọi như vậy là trọn, là tròn, là thật.

Về việc nầy,  Thiên Chúa không  ban cho ta một tinh thần nhút nhát, mà là một tinh thần đầy sức mạnh, tình thương và trí tuệ.’ 2 Timothy 1 : 7 ,[xxii]


Thí dụ không thiếu.

·        Trong một giới hạn nào đó, như đã thưa trên, Đạo Phật là đạo của sự  tỉnh thức: Tỉnh thức là ra khỏi cơn mê. Mê sắc, mê tài, mê danh, mê lợi, mê lời hay tiếng đẹp, mê không biết bao nhiêu cái khác nữa. Không những như vậy, mà còn hãnh diện, tự mãn, tự kiêu, về cái bồ ‘kinh sử’, về những hành động ‘vĩ đại’, về cái nấy cái khác mà mình đầu tư nhiểu công sức, tích lủy suốt đời mình.

‘Phải có danh gì với núi sông’. Cái danh ấy lắm khi bịt mắt mình làm mình mù nên không bắt gặp bao nhiêu sự việc và giá trị khác lạ.

‘Sông có cạn, núi có mòn, nhưng chân lý ấy không bao giờ thay đổi’. Lịch sử cho thấy, đã có lần, người lãnh đạo vì say mê một ‘chân lý’, trở nên mê sảng, đã biến cả một quốc gia thành một đoàn cừu Panurge, hy sinh vì một tương lai ‘xáng lạng’ trên giấy mực, trên khẩu hiệu, trên triết thuyết.

Tỉnh thức không chỉ ở tỉnh giấc mê loạn, mà còn ý thức giây nhợ ràng buộc mình với môi trường, nói riêng ý thức về sức ép của môi trường.
Không phải vì ông tiến sĩ nầy, bà bác sĩ kia, cô thạc sĩ nọ,  những chức vị,.., nhất trí  hoan nghênh một đường lối, một hướng đi, rồi ta bịt mắt đi theo.  Trong những con cừu của Panurge
[xxiii], những con đi đầu có thể được dán nhản là thông minh, ‘đỉnh cao của trí tuệ’.  Học vị dầu có cao đến mấy, nhưng đã là cừu của Panurge, thì người đầu nhảy xuống biển, thì các người kia cũng nhảy theo, có ai làm khác đâu. Vậy, khi thấy người người ‘hồ hởi’ là ‘lương tri của nhân loại’, thì nên có một phút giây để nhớ rằng: ‘Triệu triệu con số không mà cọng lại với nhau thì…cũng là số không.’[xxiv]

Tỉnh thức cũng là tự tri, khám phá chính mình. Lấy môi trường làm gương soi, thấy mình trong những đổi thay của thế tục: mừng giận, vui buồn, thương ghét, sợ hãi và ham muốn; khi lo âu, chao đảo, tối tăm, lúc bình tỉnh, sáng suốt, rõ ràng, những tiềm năng, những giới hạn. Và cứ như thế suốt giòng đời.

·        Thế giới của chúng ta hôm ngay là thế giới của giao lưu, trao đổi giữa những nền văn hoá, giữa những con người đa dạng, khác biệt nhau ở màu da, ở đạo giáo, ở phong tục tập quán, ở tổ chức chính trị, xã hội, kinh tế, tài chánh,…Và cũng  thế giới của đồi thay nhanh, rộng, sâu với một vận tồc kinh người.


Cho nên, không có con người khép kín. Khép tín là tự cô lập, là sợ gió mới, là từ khước đổi thay. Nói cách khác, khép kín là chấp nhận trì trệ, chấp nhận lạc hậu. Cuộc aống vì thế mà nghèo, vì bằng lòng an nhàn với những giá trị cổ đại.

Vậy, muốn sống mạnh, sống cái thế giới của thế hệ mình, phải mở rộng lòng mình, trí mình để rước gió bốn phương,  luôn thở không khí mới, luôn giao lưu với tha nhân và vạn vật.

Vậy, người không thuộc một đạo giáo nào—nói cách khác là thuộc cái ‘đạo khoa học’ hoặc cái đạo ‘phi-đạo’—hoặc thuộc  bất cứ một đạo giáo nào—cũng phải mở rộng tâm và trí  để đón, học hỏi những tín hữu của các đạo giáo khác. Nói riêng, học những trải nghiệm và suy nghĩ  của họ. Học sự tỉnh thức của Phật gia, học sức mạnh, tình thương, và trí tuệ của người tính hữu Ky-Tô-giáo.
Ánh sáng trong ta đến đâu, thì đêm tối của cái sợ lùi tới đó.

Viết xong, tôi trình thầy tôi, Sư Bất Tịnh. 

Xem qua, Thầy bảo: ‘Vọng ngã của mi còn quá to. Làm sao mà thấy được sự thật.’

Tôi thưa: Vậy, mất cái vọng ngã đó thì tôi là ai?
Thầy: ???

Cái đáng sợ nhất là sống mà không biết mình là ai?

Tôi cám ơn sự lắng nghe  của quí vị.

Ghi Chú: Tôi trân trọng cám ơn giáo sư Nguyễn Công Danh  và các bạn xa gần và phu nhân của tôi đã chịu khó đọc, góp ý và sửa chữa cho bài được ngắn gọn và dễ đọc hơn.

.

Sơ lược sách tham khăo:

Giản Chi và Nguyễn Hiến Lê. Tuân Tử. Văn Nghệ xuất bản, California-USA, 1993

Giản Chi và Nguyễn Hiến Lê. Đại Cương Triết Học Trung Quốc, Cảo Thơm xuất bản, lần I

Thomas Hobbes. Leviathan. Chương XIII. Internet.

Thomas Hobbes. Standford publications. Internet

Philosophie et spiritualité. L’existence et la peur. Internet

Alan W. Watts.  The Wisdom of Insecurity. Vintage Books, Copyright 1951,  by Pantheon Books

Wikipedia. Wiktionary. Bible. Internet



i Nguồn: Internet

ii ít nhất là trong trường hợp của tôi.

[iv] 313TCN-238TCN. Nguồn: Wikipedia

[v] Giản Chi và Nguyễn Hiến Lê. Tuân Tử. 1993, “bất khả học, bất khả sự nhi tại nhân giả chi vị tính’ Trang 56.

[vi] N.t. trang 56-57

[vii] Mừng, giận, thương, ghét, buồn, sợ, muốn. Hiến tài Nguyễn Văn Hồng. Cao Đài Từ Điển. Internet.

[viii] N. t. trang 23.

[ix] N.t.. Trang 49. ‘Chính cái lòng hiếu lợi, lòng đố kị, lòng dục mới là “bản thủy tài phác”—cái tài chất thuần phác nguyên sơ, cái tính của con người, còn nhân, nghĩa, lễ, trí là do thánh nhân—nghĩa là người—đặt ra, chứ không phải là trời sinh, vậy là “NGỤY”, chứ không phải là tự nhiên.’

[x] 254 TCN-184 TCN. Nguồn Wikipedia

[xi] 1588-1679. Nguồn Wikipedia

[xii] Distrusfulness (archaic). Nguồn Merriam-Webster Dictionary.Internet

[xiii]... in the nature of man, we find three principal causes of quarrel. First, competition; secondly, diffidence; thirdly, glory. The first maketh men invade for gain; the second, for safety; and the third, for reputation. The first use violence, to make themselves masters of other men's persons, wives, children, and cattle; the second, to defend them; the third, for trifles, as a word, a smile, a different opinion, and any other sign of undervalue, either direct in their persons or by reflection in their kindred, their friends, their nation, their profession, or their name.
Hereby it is manifest that
during the time men live without a common power to keep them all in awe, they are in that condition which is called war; and such a war as is of every man against every man.

[xiv] N.t. trang 73:’ nuôi cái muốn của con người, cấp cho con người cái mà lòng họ muốn.

[xv] Giản Chi và Nguyễn Hiến Lê. Đai Cương Triết Học Trung Quốc. Không nhớ chi tiết.

[xvi] Các cán bộ lúc bấy giờ khẳng định: Đảng ta thẳng thắn rõ ràng

[xvii] n.t. trang 73. dưỡng nhân chi dục, cấp nhân chi cầu. (nuôi cái muốn của con người, cấp cái mà lòng họ muốn)

[xviii] Nguyên Văn. Lời Nguyện. Nam mô đại từ đại bi, tâm thanh cứu khổ, cứu nạn quảng đại linh cảm Quán Thế Âm Bồ Tát Ma Ha Tát.
(Thành tâm đọc lời nguyện này nhiều lần trong ngày trong vòng 9 ngày, được việc như ý cầu xin.  Được việc nhớ in lời nguyện nầy.

[xix] Nguyên Văn. Lời Nguyện. Đa Tạ Cha. Đã có vị ân nhân đến kịp thời giúp đỏ. Gia Đình Hãi Nam Hà. Ảnh  Lời Nguyện Lạy Chúa, Lạy Cha Phanxico Trương Bữu Hiệp, Ngài Là Bậc Thánh ở cận Đấng Cứu Thế đầy quyền năng.  Nay con cầuCha giúpcon vượt khó khăn cấp thiếthiện nay. (kể sự việc khó) xin Cha giải thoát cho chúng con khỏi cảnh khó khăn này và ban cho chúng con sự may mắn bằng Con đã được Ngài giúp. Thành kính tạ ơn Cha. Đọc những lời nguyện này 9 lần một ngày.  Đọc liên tiếp 9 ngày với lòng thành tâm sẽ được toại nguyện.  Được việc, hứa in lời nguyện này và hình Cha Trương Bữu Diệp.

[xx] the end justify the means.

[xxi] And ye shall know the truth, and the truth shall make you free. King James Version

[xxii] For God has not given us the spirit of fear; but of power, and of love, and of a sound mind. King James Version

[xxiii] Trong một đoàn cừu, con đầu đàn đi đâu thì những con khác đi theo một cách ngu ngốc.  Trong  Pantaguel của Rabelais, quyển 4, Chương VIII, Panurge gặp một lái buôn cừu đi cùng tàu. Panurge không bằng lòng về ông lái buôn, nhưng mua được của ông nầy  một con cừu rất đẹp. Panurge quăng con cừu nầy xuống biển. Tất cả đoàn cừu của ông lái buôn lao theo xuống biển. Từ đó, nhóm từ ‘những con cừu của Panurge’ được dùng để chỉ những con người mà mù quáng làm theo người khác. Tiếng Anh: Act like lemmings

[xxiv] Giáo sư Trấn Quang Đệ, nguyên Viện Trưởng Viện Đại Học Sàigòn.

_______________________________________________________________________________________________

 Nguyễn Văn Trường

TẢN MẠN TUỔI 79

TL_Rose_Branch.JPG

Trước thềm Tết Tân Mão, giáo sư Phan Khắc Trí viết cho một nhóm cựu học sinh Trường Phan Phanh Giản-Đoàn Thị Điểm Cần Thơ. Nguyên văn:

Thế là đến Tết Tân Mão 2011 này, tôi trở thành người 79 tuổi đấy. Nghĩ về con số 79, lạm bàn .
 
Bảy chín là số nguyên tố, một con số không chia đúng cho số nào khác được ngoài số 1 và chính nó.  79 chia cho 1 đúng là 79 , 79 chia cho 79 đúng là 1. Như vậy, phải chăng 79 là một con số bướng bỉnh, cứng đầu , không thỏa hiệp , ích kỷ, tự cao tự đại , (thiên thượng địa hạ duy ngã độc tôn ), thiên hạ không ai chỉ có mình ta 79 là số 1 , là nhất.” Nhưng cũng có thể nói ngược lại , 79 phải chăng chính là  một con số khiêm nhường , có nhân cách , biết mình, biết người, biết có thể làm được gì và không làm được gì thiết thực có ích, không ôm đồm , không bắt người khác phải gánh vác trách nhiệm của mình ,không đổ tại , bởi, vì , không chia cho số nào khác ngoài chính nó và 1. Hay nghĩ đến cùng , (simply put) ,chỉ vẽ chuyện,  có nghĩa gì đâu , 79 đơn thuần chỉ là một con số , dù là một con số được gọi là nguyên tố , một con số không chia đúng cho số nào khác ngoài số 1 và chính nó.
 
Ngày xuân , thừa dịp , ăn nói lang bang , cho vui ,  chắc không ai nỡ trách. Còn nếu muốn trách thì xin trách con số 79 lắm chuyện , chớ đừng trách người tuổi 79 mà...tội nghiệp.  
 
Chú Thích
: Ngoại trừ số 1 và số 2 , tất cả các số nguyên tố (3, 5 , 7 , 11 , 13, 17 , 19 , 23, 29 , 31, 37... ) đều có thể tính từ công thức 4n + 1 hay 4n - 1 với n là một số nguyên /tự nhiên. Nhưng ngược lại  số suy từ 2 công thức này có thể không là số nguyên tố .”  

 

Thưa  Anh,  

E-mail của Anh: Lời lẽ rõ ràng, súc tích và chính xác.  Không có gì phải thêm hay bớt. Nó chắc nịch như vậy.

Bảy chín là số nguyên tố” 

Nguyên là nguyên sơ. Là cái ban đầu, khởi điểm, và trong một giới hạn nào đó, nó bao hàm một tính khai phá, mở đầu một công trình.

Tố ngầm nói sự trọn vẹn với cái bản chất nguyên sơ ấy. Giữ luôn được nguyên chất.[1]

taiLieu_ChauThuy_Tho.jpgTheo truyền thuyết, khi Đức Phật đản sanh thì bước đi bảy bước, một tay chỉ lên trời, một tay chỉ xuống đất mà nói rằng: “Thiên thượng địa hạ duy ngã độc tôn.” Ý là chỉ cái tâm nguyên sơ—‘chân tâm’, hay ‘bản lai diện mục’, cái cứu cánh rốt ráo của mọi con đường tu hành của Phật gia— biểu hiện qua đứa trẻ sơ sinh, còn trong sáng, chưa nhiễm bụi đời.

Thật ra, đứa bé sơ sinh đã thụ bẩm di truyền của mẹ cha, đã thích nghi với môi trường sống trong tử cung người mẹ, và khi chào đời phải chịu sự chăm sóc của mẹ cha, bác sĩ, y tá, bà mụ, rồi tập lật, bò, đứng, đi, ăn, nói… tất tất đều theo người lớn, giáo dục gia đình, rồi học đường, rồi trường đời. Nói chung, ngay từ trong bụng mẹ, đã có giáo thai—người mẹ phải cử kiêng trong đi đứng, trong ăn uống; thuở xưa và cả ngày nay tại các nước văn minh, có người còn đọc sách thánh hiền cho thai nhi[2].  Dù ấu nhi chưa nghe, chưa hiểu gì cũng được nghe cha mẹ đọc sách hay nghe nhạc….
Tất cả là nhằm để đứa bé thành người: Con người của một xã hội cụ thể trong một bối cảnh lịch sử cụ thể.  Nói riêng: a/ một cá tánh—để sống hài hoà với môi trường; b/ một khả năng, thí dụ: khả năng tiếp thu cái di sản của cha ông, khả năng làm giàu mạnh cái di sản nầy, và khả năng truyền lại cho các thế hệ sau....Nói chung là khả năng hội nhập và làm giàu cho xã hội. Nhờ đó mà trong mỗi người hình thành một nhân cách, một tên tuổi, một cái “Tôi” hay cái ‘Ta”—mà hầu hết, cả các người tu Phật, đều hãnh diện, thiết tha ôm ấp, bảo vệ; ai mà đụng đến cái “Tôi” ấy là như mắc phải cái tội khi quân, đáng chém đầu—mà Phật gia gọi là ngã vọng:  Cái tôi vọng tưởng, hư giả, cái tôi ảo vọng, không thật.
Nói là vọng, là hư giả vì nó luôn đổi thay, hằng biến, một sát na trước nó là A, một sát na sau nó là B và A khác hẳn B.  Nhưng nó có một họ, một tên, một khai sanh, một thẻ căn cước, và nhất là có một vẻ bên ngoài liên tục trước sau như một, làm như nó hằng tồn.  Chính ngã vọng –luôn đổi thay, hằng biến—đã che lấp chân tâm: ta không thấy thật, biết thật, hiểu thật, nên ta bị thất tình lục dục quay cuồng, bị bát phong quấy động, nên ta đánh mất cái tâm chân thật của mình mà không hay biết. Ta chỉ thấy, biết, hiểu, qua lăng kính của ngã vọng, của các so sánh, tiêu chuẩn, giá trị mà ta tích lủy suốt giòng đời. Mà về những giá trị, tiêu chuẩn nầy, thì Đông khác Tây— bên nây núi Pyrénées là chân, bên kia là giả - xưa khác nay.

Thi hào R. Tagore, ngộ ra điều nầy:

          “Tên tôi là một nhà tù,

Tôi đã tự mình vào đó, và tôi đang khóc.
Ngày qua ngày, tôi đã dày công đắp bức tường chung quanh.
Ngày qua ngày, nhà tù vươn tới trời xanh; trong bóng tối của nó tôi không còn thấy tôi đâu nữa.”
[3]

“Tên tôi” đó là “cái ta”, cái ta ngã chấp, cái vọng ngã. Vấn đề là phải tự giải thoát khỏi cái ta đó.”[4]
Đúng là vậy.
Cái “tôi”, cái “ta”  ấy nằm trong  bộ nhớ của não bộ-- tích lủy tư tưởng, định kiến, phương pháp, lý luận, giá trị, tiêu chuẩn, tài khéo, ngôn ngữ, v.v. Mình càng thành công với nó, càng tin ở nó, mình càng dễ chịu trong ngục tù của nó, càng không thấy nhu cầu giải thoát, càng mù trước những cái mới lạ. Cái giác ngộ đầu tiên của người tu Phật, là thấy được rằng mình luôn nhìn sự vật qua lăng kính của vọng ngã. Theo đó, có nhu cầu bỏ cái lăng kính ấy để thấy thật, sống thật. Thế rồi quí thầy—sư sãi, ‘chư tôn đức’— lại nhồi thêm rằng , vì cuộc sống vốn vô thường, nên có “sanh lão bệnh tử, nên cầu bất đác, nên có ái biệt ly’,...” nên có khổ,  tạo nơi ta một tâm lý khổ đau. Định kiến chồng thêm định kiến. Đi chùa không thêm phước mà lòng thêm nặng.

Tuy nhiên không phải cái đó—đi chùa, cúng dường, nghe thầy—là cái mà tôi muốn thưa.  Điều tôi muốn thưa trình là:  Chân Tâm và Vọng Ngã. Để nói rõ hơn:

Đức Phật chỉ Chân Tâm là ‘thiên thượng điạ hạ duy ngã độc tôn”.

Ngài nói đúng, đúng tuyệt đối, không thể nghĩ bàn. Vì tôi tin rằng Ngài là Đấng Giác Ngộ--Ngộ Chân Tâm. Đó là đức tin: Tin vô điều kiện, không lý do, không vì lẽ nầy, cớ khác.[5]
Nhưng nếu có một người lặp lại lời của Tổ Đạt Ma, và khẳng định: “Trực chỉ chân tâm, kiến tánh thành Phật,” thì tôi cũng tin, tin rằng người đó chân thật với tôi.  Nhưng tôi vấn hỏi về cái tâm và cái tánh mà người ấy muốn nói. Nếu ‘chân” trong câu nầy là đối đãi với “vọng” thì cái “chân tâm” hay “chân tánh” cũng trong vòng lẩn quẩn của sinh tử luân hồi. Phải được xét lại và bàn thảo.
Cho nên, khi Anh dùng lời của Đức Phật, để nói cái tính duy nhất của tuổi 79, thì tôi nghĩ mình cũng nên góp lời với anh cho vui. Tôi nên góp những  hò, xự, xàng, xê, cống,.., đôi câu, chút giai điệu, bàn thảo cho có lễ. Bàn, không để phủ định, bôi bác, mà để nói lên lòng kính ngưỡng của anh em học trò cũ của  hai trường Phan Thanh Giản-Đoàn Thị Điểm Cần Thơ—trong đó có tôi, và lòng mến thương của chúng tôi riêng với Anh, một giáo sư Toán, một học giả Hán Nôm thâm hậu, một ngôi sao sáng trong Nhóm Tao Đàn Thi Văn PTG-ĐTĐ chúng ta.  

MỘT


“79 là số nguyên tố”.  Đó là duyên khởi.  Nhưng không là ‘vô minh’ rồi từ ‘vô minh’ sinh ‘ hành’ và một chuỗi dài thêm 10 nhân duyên khác như một số các sư sãi thường ca cho chúng sinh nghe. Mà là duyên cho ‘tản mạn về  tuổi 79 của thầy Trí’, nó đến vào năm Tân Mão nầy.

“Thất thập cổ lai hi, tòng tâm sở dục chi, bất du cũ.” Người  thời nay, đây chỉ nói một số người, tuổi 70 : loạn lắm. Loạn là nhiều[6], mà cũng có cái nghĩa là lộn xộn, không theo cái trật tự thông thường, chưa chính chắn như ta thường nghĩ . Có nhiều cái loạn kiểu nầy lắm,  thí dụ không hiếm. Có người thất thập còn ẵm thêm một bà vợ tuổi đáng con cháu mình, tôi gọi như vậy là loạn.  Thế nên, trước ngưởng cửa bát thập, giựt mình, tỉnh giấc, cảm nhận như cái thời đoạn ‘tòng tâm sở dục’ của mình như sắp vọt khỏi tầm tay, nên  mượn cái ‘79 nguyên tố’ làm duyên,   đùa chơi với bè bạn.

Cái hứng khởi, tự phát, tự nhiên, là chân thật nhất của người đời, nên rất quí, phải biết trân trọng..

Cho nên, Năm Mới, cũng lại là năm Anh  79 tuổi, mà 79 là số bất khả phân, chỉ chia đúng cho chính nó[7]; dùng những trường hợp ngẫu nhiên nầy, để khẳng định tính  “bướng bỉnh, cứng đầu , không thỏa hiệp, ích kỷ, tự cao tự đại”, lại thêm ‘thiên thượng địa hạ chỉ có mình ta’ thì quả vừa khéo, vừa gan.
Một cuộc sống thanh đạm, trong một môi trường tương đối trong lành, hằng ngày chung đụng với những tâm hồn còn lành mạnh—những môn sinh và một số đồng nghiệp -  lắm khi buộc ông/bà  giáo phải có chút tự hãnh diện về cuộc sống, về công việc, và về  chính mình. Đó là  cần thiết  cho lòng tự tin, để đứng vững và đi suốt con đường trách nhiệm của bản thân.

Giờ đây, cuối đời nhìn lại, một tiếng thật thà tận trong sâu, thốt lên, chọc phá bạn bè, cho vui năm mới, cũng là một điều phải chăng thôi.

HAI

Thời điểm mà Anh tròn 79,  nó nhỏ hơn một tic tắc đồng hồ, nhỏ hơn một sát na, vì là một điểm—điểm thời gian[8], nên không có một đơn vị nào đo được nó.  Nó là nó. Duy ngã độc tôn. Những trải nghiệm của Anh trong thời điểm đó, trong một chớp, trong một nhoáng cũng bất khả tư nghì.  Vừa muốn nghĩ, vừa muốn bàn, thì nó đã qua rồi, đã thuộc quá khứ lâu rồi. Nghĩ và bàn phải dùng lời, mà ngôn ngữ thì thuộc bộ nhớ của não bộ, tức thuộc quá khứ. Làm sao trong cái chớp—thời điểm 79 của Anh—mà Anh có thể nói lên được những gì Anh trải nghiệm ngay lúc bấy giờ.
Một cách tổng quát, hiện tại—thời điểm phân chia quá khứ và vị lai— những gì chúng ta trải nghiệm ngay bây giờ là thật, tuyệt đối thật, mà bộ nhớ của chúng ta chỉ ghi lại được một vài nét thô sơ. Sư cô Trí Hải gọi  chúng là ‘thiên thu trong khoảnh khắc’. Trải nghiệm của chúng ta thì giới hạn—giới hạn bởi giác quan, hoặc dụng cụ sử dụng, mà thời điểm trải nghiệm chỉ trong một cái chớp.  Cái tỷ lệ trải nghiệm, trên thời điểm (có thể xem là một vô cùng bé, một lượng tiến về không), cái tỷ lệ đó ắt tiến về thiên thu, vô cùng lớn, không thể nghĩ bàn, duy ngã độc tôn.

Anh nói đúng.

BA

Trong chữ ‘nguyên tố’, nguyên còn có nghĩa là số nguyên (tự nhiên)—nombre entier[9], integer[10]--‘nguyên chất’, trọn vẹn với chính nó[11].

Cho nên chữ nguyên tố còn nhắc nhở: sống nguyên vẹn, trọn vẹn với chính mình, với cái bản chất chân thật của mình—dù rằng cuộc sống trong một giới hạn nào đó, là một chuỗi vô tận đổi thay nhiều chiều, đa nguyên[12], đa dạng.  

Nhưng, thế nào là trọn vẹn với chính mình? Thế nào là cái bản chất chân thật của mình? Người học toán, ông thầy toán—và cả trong lãnh vực văn chương, triết học ngày nay—đều định nghĩa các thuật ngữ mà mình sử dụng.  Cho nên, ở đây, phải thận trọng: mình là gì? Cái bản chất chân thật của mình là gì? Và như thế nào là trọn vẹn?
Socrate dặn bảo: “Hãy biết mình”. Mình là ai? Là gì? Là cha, là mẹ, là con, là một công dân,..., là một vai trò—với những trách nhiệm và quyền hạn ? Như vậy, mình chỉ là một cát vai, trên sân khấu trò đời, mà tất cả đều được qui định trước—bởi phong tục, tập quán, luân thường đạo lý, luật pháp,v.v...—mà cha ông để lại.  Cuộc đời chỉ là con đường mòn, cá thể chỉ là con rối.  Gọi như thế là số mạng, là nhân gieo từ các kiếp trước, giờ đây, chỉ còn có rước cái quả rủi may bất thường, hoặc mọi việc đều do Chúa, Phật, Trời sắp đặt. Thế thì thật đáng buồn cho thân phận làm người.
Thiết nghĩ có thể mạnh dạn hơn khẳng định chính mình, thí dụ là cái thể xác nầy mang bên trong một cuộc sống tâm linh.  Cả hai đều không ngừng biến đổi, từng sát na một. Nói cách khác, nó là một diễn trình, một giòng chảy, lúc vầy, lúc khác.  Định nghĩa nó tức cố định nó, ức thúc nó, gói nó trong một số chữ nghĩa giới hạn: làm như vậy có khác chi gói gió trong bao giấy. Nghĩ cho cùng, làm sao gói được tâm linh con người trong một vài chữ? Lại nữa, thí dụ định nghĩa tâm linh, tức phải dùng một nhóm từ khác, rồi lại phải định nghĩa những từ-chính trong nhóm từ nầy, và như thế mãi, có khi trở lại cái ban đầu. Thật không khác con rắn Ouroboros cứ cố gắng cắn cái đuôi của nó, quay vòng vòng như vậy mãi.

Vậy, nên nhận cái mình ấy là từ ngữ ban đầu, ta hiểu chung chung qua những thí dụ cụ thể, như khái niệm tập hợp ở các lớp vỡ lòng. Từ ngữ ban đầu hay từ ngữ nguyên sơ.  Nguyên đây là  trong Nguyên Hanh Lợi Trinh của quẻ Càn—thuần Dương, một gạch ( ______ ) không đứt đoạn.  Nó biểu hiện cho Thái Cực—duy nhất, bất khả phân, nó là nó, không có đối tượng để so sánh. Cho nên bảo nó là ‘bướng bỉnh, cứng đầu , không thỏa hiệp, ích kỷ , tự cao tự đại’ có sao đâu, không có cái gì tốt hay xấu trong đó cả.

Theo Kinh Sáng Thế[13], thì con người khởi điểm chỉ có Ông Adam. Thái Cực, Quẻ Cán.  Dầu Ông có tài giỏi đến đâu—như Tề Thiên Đại Tánh, náo loạn Thiên Cung—Ông cũng không sanh được con cháu: Ông là người đầu tiên và cũng là người cuối cùng. Loài người chỉ có một mình Ông mà thôi. Đức Chúa Trời, ngộ  ra cái lẽ nầy và thấy Ông cô đơn, mới mượn Ông cái ba sưởn, biến thành bà Eva.  Từ ấy, Ông là Thái Dương, Bà là Thái Âm, tượng trưng bởi quẻ Khôn, một gạch đứt ở giữa ( __  __ ).  Âm Dương không tương giao, thì Bà—tức Thái Âm, Cực Âm—có tài ba cách mấy, cũng không mang bầu được để sanh con đẻ cháu. Vậy, Đức Chúa Trời phải cho âm dương tương giao, để lời phán của Ngài—“hãy sinh sôi nảy nở thật nhiều..”[14]—được thể hiện.

Vậy, nếu 79 là “duy ngã độc tôn”, “bướng bỉnh, cứng đầu , không thỏa hiệp, ích kỷ, tự cao tự đại”, đúng là quẻ Càn, Thái Dương,  thì “cũng có thể nói ngược lại , 79 phải chăng chính là  một con số khiêm nhường, có nhân cách , biết mình, biết người, biết có thể làm được gì và không làm được gì thiết thực có ích, không ôm đồm , không bắt người khác phải gánh vác trách nhiệm của mình, không đổ tại, bởi, vì, không chia cho số nào khác ngoài chính nó và 1.”
[15] Đó là nói Dương phải có Âm, và ngược lại. Âm Dương tương khắc—cái nầy không là cái kia, nhưng cũng tương sinh—cái nầy xác định cái kia. 
Đó là luật nhân quả nguyên sơ của Phật gia. Tôi khác tha nhân, không là tha nhân, nhưng tôi xác định tha nhân, tha nhân xác định tôi: cái nầy là nhân, cái kia là quả của nhau.

Đó cũng là luật tiến hoá của nhân loại:
Cứ nhìn vào lá cờ Đại Hàn mà xem.  Một vòng tròn, bên trắng bên đen.  Bên Dương, Bên Âm. Bên trắng có chấm đen, bên đen có chấm trắng. Trong Thái Dương có Thiếu Âm, Trong Thái Âm có Thiếu Dương. Vật cùng tất biến: một bên, Thiếu Âm sẽ phát triển biến Thái Dương thành Thái Âm; bên kia, thiếu Dương sẽ phát triển để biến Thái Âm thành Thái Dương, và như thế mãi.  Đó là hình ảnh sóng sau dồn sóng trước, trẻ thay thế già.

VLT_TangHoaThayTruong.jpgCho nên, nếu ở các chùa, sư sãi, tu để thành chư tôn đức, thoát tục, siêu nhân, đến một cứu cánh tối hậu[16], thì ở trường học, thầy trò cùng tu học, hiểu môi trường, để dấn thân, nhận trách nhiệm, tự tin mình có khả năng thay thế, lướt qua thế hệ đàn anh, và như thế mãi để cuộc đời luôn mở, không có điểm đến.  Có được như vậy, mới có ‘lương sư’ và ‘hưng quốc’.
Nói trọn vẹn thì có nên nghĩ trong cái nghĩa trung thực với chính mình, trong những tương quan với tha nhân và vạn vật, dầu rằng nhận thức về cái “mình” có thô sơ, hay chỉ trong một khoảnh khắc hay ở một thời điểm? Cái tối thiểu là hạnh với hành tương thông, nếu không là một
[17]

Ngày xuân , thừa dịp, ăn nói lang bang , cho vui,  chắc không ai nỡ trách.” Cũng phải cám ơn cái số 79 lắm chuyện. Nó là duyên lành, cho tôi thưa chuyện cùng Anh và bè bạn đồng môn.  Cũng là dịp cho tôi đưa tin lành.  Đó  là sức khỏe tôi đã dần dần bình phục, trở lại sinh hoạt bình thường. Một duyên may khác là: tôi có nhờ anh Thái Trường Xuân của chúng mình, sửa cho cái vai trái bớt đau và trở lại bình thường.  Kết quả khả quan lắm.

Để kết thúc, trong nhiều bài chúc thọ Anh[1], tôi xin mượn thơ của anh Song Quang, mà tôi nghĩ là hợp với chúng ta nhất :     

Chúc Thọ Thầy  Pham Khắc Trí

Qua li TN MN "79"

.

By chín,Thy chưa đến ni già

TRÍ còn minh mn, nghim xâu xa

Ngày Xuân tn mn: Vui ra phết !

Tết đến ngao du: thưởng ngon hoa .

Dch , ha thơ Đường hay đáo đ,

Thơ, Văn nét bút ta mưa sa

Chúc Thy trăm tui ......Tri ban s ,

Khe mãi, tao đàn rn tiếng ca

Song Quang

 .

 
Thân chúc Anh Chị một Năm Mới thân tâm an lạc.
.
Kính thơ,
Nguyễn Văn Trường

Học sinh Trường Phan Thanh Giản Cần Thơ. 1943-48


 

[1] Mỗi bài một sắc thái đặc thù.


[1] Hán Việt Từ Điển. Thiều Cữu.  Trang 481.  “Chất.  Nhà hoá học gọi nguyên chất”

[2] Xưa gọi như vậy là giáo thai: giáo dục thai nhi.

[3] Nguyên nguyên Huỳnh Hồng Cẩm. Nguồn Thiền. Trang 34.

[4] Nguyên nguyên Huỳnh Hồng Cẩm. Nguốn Thiền.  Trang 34.

[5] Trong một giới hạn nào đó. Cái đức tin đó, người Pháp gọi là foi, người Anh-Mỹ gọi là faith.

[6] Theo nghĩa thông thường của người Huế.

[7] Chia cho số 1 cũng như không chia.

[8] Thời điểm chỉ có thể là một điểm toán học.

[9] tiếng Pháp

[10] tiếng Anh

[11]  mà nhu cầu toán học minh thị là chỉ chia đúng cho chính nó và số 1, phầt tử trung tính của phép nhân và chia

[12] nhiều nguồn gốc, nguyên nhân.

[13] Cựu Ước.

[14] Sách Sáng Thế: 1-28.

[15] Trích lời của Thầy Trí,

[16] thí dụ: để thành Phật, cứu cánh Niết Bàn,...

[17] Chữ hành (Hán-Việt) có hai âm là hạnh và hành.

NGUYỄN VĂN TRƯỜNG

 

THUCA_NVT.jpg     Một Nét Thu Ca

Bài nói chuyện tại Trung Tâm Việt Mỹ, 9530 Antoine Drive , Houston , TX 877086

ĐT: 713-320-7555

ngày 31-10-2010

 

“Buổi sinh hoạt để cùng sống với không khí mùa thu qua Thơ, Nhạc và những câu chuyện về Thu

với chủ đề

THU CA”[1]

 

Kính thưa Ông Giám Đốc Trung Tâm,

Kính thưa quí vị trong Ban Tổ Chức,

Kính thưa quí vị quan khách,

 

ThuCa_GSNVT_Portrait.jpgLời nói đầu tiên của tôi là thành tâm cám ơn quí vị đã cho tôi duyên lành được cùng quí vị sống trong không khí thu. Thu Houston, năm nào cũng ấm áp, nắng đẹp, trời trong, thật như xuân trở lại trong lòng người. Trong cái không khí dễ thương và bao dung đó của thu Houston, tôi cảm nhận cái tình mà quí vị dành cho chúng tôi, tôi cảm nhận hồng ân mà tạo hóa ban cho. Tôi quí trọng và ghi khắc trong lòng.

Chúng tôi cũng xin quí vị cho phép chúng tôi cám ơn riêng các bằng  hữu của chúng tôi:


1.  Xin quí anh chị Hội Vĩnh Long-Vĩnh Bình Sađec nhận nơi đây lòng quí trọng và biết ơn của chúng tôi.  Quí anh chị đã sớm đến trong quảng nửa thu-đời sau cùng của chúng tôi, và gợi ý cho chúng tôi về một nếp sống mới, nếp sống đa văn hoá, không là một melting pot như tôi thường nghĩ mà là một salad bowl trăm màu trăm sắc. Mà nói cultural diversity thì tất yếu phải nghĩ human unity. Ba tỉnh VL-VB-SD, ba sắc thái thuca_MQD_TBT.JPGkhác nhau, nhưng mà là một, cái một đó có thể đó là vị trí ở giữa sông Tiền và sông Hậu, cũng có thể cùng một lịch sử--thí dụ lịch sử di dân; cũng là một vì  từ trước đến giờ,  Hội luôn giữ được hoà khí và là nguồn nương tựa tinh thần cho anh chị em hội viên chúng tôi.

Ảnh bên: TBT chào mừng quan khách và tuyên bố lý do
2.. Thứ đến, chúng tôi xin được phép cám ơn riêng quí vị giáo sư trường chúng tôi, huynh trưởng và các em chúng tôi—cựu học sinh hai trường PTG-ĐTĐ Cần Thơ, ở Houston—luôn dành cho chúng tôi một ưu ái đặc biệt.  Buổi nói chuyện hôm nay cũng do quí anh chị em tạo cơ duyên và  giúp đỡ.
3. Thứ đến nữa là cám ơn những bằng hữu của chúng tôi, luôn khuyến khích, hỗ trợ, và tiếp sức cho chúng tôi trong mọi cảnh.
4.. Lời nói sau cùng hết  là cám ơn người đã luôn bên tôi để chăm sóc và làm đẹp cho cuộc sống của cha con chúng tôi.

Giờ đây, tôi xin vào đề: Một Nét Thu Ca.

 

Phần Một.  Thu

 

THUCA_NN.jpgThu ca hôm nay là khúc ca mùa thu của giòng đời.  Đời người cũng có bốn mùa: xuân, hạ, thu, đông. Chỉ có khác là mỗi người chúng ta chỉ có một đời, khoảng trăm năm; và trong trăm năm ấy chỉ có một xuân, một hạ, một thu, một đông. Chỉ một  mà thôi.

Ảnh bên: Nguyên Nhung đang đọc bài thơ CHIẾC LÁ...

Trước khi đi xa, xin cho phép tôi minh xác nghĩa của mùa thu đời ngưòi.

Một cách khái quát ta có thể chấp nhận: Sang thu là quá nửa năm, ‘thu-đời’ là quá nửa đời người: cuộc đời quá ngọ, đi vào xế chiều.

Nữ sĩ Nguyên Nhung gởi gấm tâm tình trong “Chiếc lá..” thu:

“Một nửa đời đã đong đầy nỗi nhớ

Một nửa đời còn lại để lãng quên”[2]

Nói rõ hơn, có năm điểm để xác định thu-đời :

a/ Xuân là tuổi trẻ.
Hạ là trung niên
Thu là xế chiều cuộc đời: Một nửa đời đã đong đầy nỗi nhớ
Đông là ở hospice, một mình làm quen với thần chết.
bThuCa_MQD_HT.jpg/ Mắt đeo gương viễn thị, Bắt đầu hình thành  nếp nhăn chân vịt. Tóc, râu, mày, bắt đầu điểm sương
Nhiều khả năng bị các bệnh gọi là  bệnh của người cao niên: đau khớp xương khi trở trời, bệnh tiểu đường, cao máu, tim mạch, .....,..
c/ Nhiều khả năng phải chịu tang lớn: Cha mẹ, anh chị, cô bác, hoặc người hôn phối, hoặc một bạn cố tri.
Nhiều khả năng thấy con cái đủ lông cánh bay đi xa: cảm giác cô đơn
Nhiều khả năng có cảm giác phải sống bên lề xã hội. Không còn bay nhảy giữa giòng đời.
d/ Gặp nhau thì nói chuyện thuốc men, bác sĩ, những đổi thay trong hệ thống an sinh xã hội, những bài ‘thuốc ta’ ngừa bệnh nầy, trị bệnh kia, mà không một cơ sở khoa học nào.  Chỉ tin vào người xưa, tin ở cây cỏ thiên nhiên, e ngại phản ứng phụ của thuốc tây.
Nhớ dĩ vãng xa xôi, hay quên chuyện xảy ra gần.
Cũng có khả năng gặp một cuộc đổi đời—một tai nạn lớn—như 30/4/1975 tại Miền  Nam VN, phải ngồi tù, vươt biên, ly hương, hoặc gặp một suy thoái kinh tế như vừa qua.
e/ Có nhiều khả năng có niềm tin ở Chúa, Phật, Trời, Đấng Chí Tôn. Có nhiều khả năng qui y theo một đạo giáo tổ chức. Thường xuyên đi chùa hoặc nhà nguyện, tụng niệm cầu phước, đầu tư cho kiếp sau.

THUCA_TNguyet.jpgTuy nhiên đó là những dấu hiệu hay hiện tượng ít nhiều khách quan, dùng để cho một định nghĩa hình thức về thu đời, chính yếu vẫn là cái tâm, những cảm nhận chủ quan của mình về cuộc đời xế bóng.

Ảnh: Chị Thu Nguyệt ngâm thơ Tản Đà

Nhớ và quên trong “Chiếc lá...” của Nguyên Nhung không chỉ là một hình thức nghệ thuật gieo vần, gieo ý. Vào thu, là giã từ một thời xuân sắc, là như muốn đóng khép một dĩ vãng. Càng muốn, dĩ vãng càng hiện lên, cho nên có cái cảm giác “Một nửa đời đã đong đầy nỗi nhớ”.

Và đâu đó tiềm ẩn  chút lo âu trăn trở trong cái ‘nửa còn lại’:

“Một ngày nào sẽ không nhớ nỗi tên

Của những người quen mà mình đã biết”[3]

 

Nhưng, ngay đầu bài thơ của NN, “chiếc lá..” đã tự vấn: “Tôi là ai?”.  Câu hỏi về thân phận, về bản sắc con người, hoặc cho chính tự thân ; đến rồi lại đi, suốt giòng đời ; mỗi lần đến, mỗi khác, khác trong xúc cảm, nghĩ suy, nhận thức.

Ở tuổi đôi tám, nó có thể là biểu hiện của một sự khủng hoảng bản sắc (crisis of identity), đứa trẻ muốn khẳng định bản sắc của mình, bằng cách phủ định và  chống đối quyền bính của cha mẹ, thầy cô giáo, những giá trị của gia đình và học đường. Đó là cái tuổi bướng bỉnh, nổi loạn, khẳng định « cái tôi », mà chẳng cần biết tôi là gì ? là ai ?

Đến khi tiếp cận với triết học ở lớp 12 hoặc cao hơn, thì lại học và phát hiện :

1.    một cái tôi văn hóa : tôi là người Sàigòn, người Kinh, người Thượng,...

2.    một cái tôi nghề nghiệp : tôi là kỹ sư, thợ điện, cô giáo,...

3.    một cái tôi xác định bởi một cơ thể, bởi thất tình lục dục, bởi một cá tính, hay nói chung bởi một bản sắc đặc thù, cho tôi, chỉ có tôi mới có được, không ai khác.

4.    một cái tôi gắn liền với một quá khứ riêng tôi.

5.    một cái tôi gắn liền với một  đạo làm người, ý thức về mình, về người, về môi trường,

6.    Và còn nhiều điều tế nhị và rắc rối khác nữa.

 

Nói chung, tất cả điều ấy được khai tâm, học hỏi, thảo luận, suy luận, viết thành bài, văn hay ý đẹp, lý luận chặt chẻ..., có khi chỉ để cho học vị, hay thỏa mãn lòng kiêu ngạo của cái tôi, hoặc khai tâm và chuẩn bị cho tuổi thanh niên vào đời.  Tiếp theo là xây dựng sự nghiệp, hoặc ‘phải có danh gì với núi sông’, hoặc ‘chồng quan sang, vợ hầu đẹp’, hoặc ‘không thành danh,cũng thành nhân’. Những thứ ấy biểu hiện ít nhiều cái ‘tôi’ của hai mùa xuân, hạ.

Khi vào thu, con người đã qua lắm ‘cuộc bể dâu’, trải nghiệm cũng nhiều thử thách, và có những thử thách khắc nghiệt, nghiệt ngã khắc ghi trong tâm khảm, cuộc đời quả như ‘đong đầy quá khứ’.  Cho nên không còn bộp chộp, lăn xăn, nóng vội.  Cái muốn cho kỳ được xẹp xuống, bớt hẳn đi.  Con người trưởng thành hơn, trầm tĩnh hơn, lòng như ‘ao thu, nước trong veo’, như ‘mặt hồ tĩnh lặng’, thấy-hiểu-biết sự giao lưu tất yếu môi trường-và-ta, câu hỏi ‘tôi là ai ?’ trở lại với một thực tế sinh động.
 

Cho nên đọc ‘Chiếc lá..’ không để mình bị lạc trong âm vận, trong chữ nghĩa, trong ý tình, mà phải bước thêm nhiều bước, để cảm nhận  một con người vào thu, một thi nhân trầm mặc : ‘lãng quên’ có thể không chỉ là ’lãng’, mà còn là buông bỏ. Buông là không nắm bắt, bỏ là không cố giữ, đó là xả, hành tu tâm xả của Phật gia : hành mà không hành.

Nếu đọc ‘Tôi là ai ?’[4] của Bà Trần Mộng Tú, thì đừng chỉ nghĩ đến một lữ khách vào thu, ước vọng về nguồn, chơi vơi tự vấn :  mình là ai ? thuộc về nền văn hoá nào ?  nền văn hóa gốc hay trước mặt ? Cũng đừng nghĩ hiện tượng ‘trái chuối’ của các cháu sinh trưởng ở đây, hoặc ở Châu Âu,  ngoài thì da vàng nhưng trong thì từ ngôn ngữ, thái độ, xử thế đến nghĩ suy, tình tự thì trắng như người da trắng, và đang  hoang mang trong một sự khủng hoảng bản sắc.

 

Phần hai : ‘Cuối thu nhìn ‘thu’ hay ‘mùa thu-đời của tôi.’

 

Đã bước qua ngưỡng cửa của bát thập, tôi vẫn xem mình thuộc mùa thu, nhưng là cuối thu.
Nhìn lại, thì có thể tôi khởi bước vào thu trong những năm 1973-75. Người Việt Nam mình thuở xưa, lục tuần đã là thọ, thất thập cổ lai hi, giờ đây thì 90 cũng có thể xem là thượng-thượng thọ. 1975, tôi tròn 45 tuổi, kể như bước qua cái mốc ‘nửa  đời còn lại’.  Như vậy, gọi là bước sang thu cũng được rồi.

Tuy nhiên, như đã thưa ở trên, cốt tủy của thu-đời là tâm thức của mỗi người. Có người còn trẻ lắm, như nhạc sĩ Đặng Thế Phong, mà lại ôm lấy cái thu, và ...‘thu sầu vạn cổ’[5].  Vì sớm qua đời[6], ông viết chỉ ba bài, cả ba đều về thu. Cả ba—Đêm Thu, Con Thuyền Không Bến, Giọt Mưa Thu—đều gợi buồn[7]—nhạc : buồn !; lời ca : buồn hơn !—một cái buồn mênh mông, bao la không bờ bến.  Có thể nói ông chưa qua thu, cũng có thể nói, thu-đời đến sớm với ông, và đến cùng lúc ông phải chống chọi với bệnh nan y ; cho nên bi quan, thu sầu, thu buồn, buồn lãng mạn, kêu mây gọi gió nhắn mưa, trách trời đất. Lời ca ‘Giọt mưa Thu’ vỏn vẹn 132 từ, gồm 5 đoạn ngắn, và trong cả 5 đoạn, các từ ‘buồn’, ‘khóc’, ‘than’ , ‘hờn’, ‘sầu’, ‘nức nở’, ‘lê thê’,.. có khi  lặp đi lặp lại, để sầu thêm sầu,..

Như nhủ trời xanh
Gió ngừng đi
mưa buồn chi
cho cõi lòng lâm ly


và nếu gặp phải  giọng ca của nghệ sĩ Lệ Thu thì bài ca nầy quả thật là cái ‘buồn vạn cổ’, buồn chết đi được.


Tôi thiếu may mắn—hay được may mắn—là không biết mình đã vào thu, vì không được cái rảnh rỗi ngắm thu, nghe thu, khóc thu, than thu, giận ông trời, hờn thân phận. Nhớ lại, thời ấy, 1973-75, vấn đề gây cấn, thúc hối, âm thầm giằn xé trong mỗi người hình như là đi hay ở : đi là lưu xứ, đất khách quê người ; ở là chia sớt nhau trong cái khó. Trước  ngả ba đường, đi bên nào cũng  tối đen như mực, âm khí đằng đằng, bên nào cũng là ngõ cụt. Và đã chọn thì không đường lui, như Jules Cesar vượt sông Rubicon.

Và tôi đã chọn ở lại. Lý do :  mẹ tôi và nhạc mẫu của tôi đều qua cái thất thập, mẹ tôi thì đau nhiều, nhạc mẫu tôi thì bắt đầu bệnh Alzheimer, và còn nhiều lý do khác.

Rồi đến nạn hồng thủy : Bao nhiêu hệ lụy xảy ra sau đó thì chúng ta đều biết.

Thời khoảng ấy, 1975-80, cũng là  thời lúc mà những người không tin thần thánh, không tin Chúa, không tin Phật Trời, lì lợm nhất, ‘vô đạo’ nhất cũng bỏ lổ ẩn cá nhân của mình, để cầu nguyện, cầu xin Ơn Trên tiếp sức, để qua được cơn quốc nạn.

Tôi không là một một ngoại lệ.

Tôi đến các giáo đường, các chùa,.., để cầu nguyện, và hằng ngày vái van cầu xin Ơn Trên cho tôi đủ sức để qua đại nạn.

Giờ đây, nghĩ lại, Ơn Trên đã ban cho chúng tôi thật nhiều ân sủng. Không có phép lạ, chúng tôi không biết sẽ ra như thế nào, khi lượng sóng thần ‘vĩ đại’ đó quét toàn diện mọi miền đất nước, mà chúng tôi thì ở ngay đầu sóng ngọn gió.

 

Có hai điều tôi nhớ mãi:

 

1.     Ơn Trên gởi đến chúng tôi ba loại người :
Loại 1 :  Thí dụ1. Trong không khí căn thẳng tận cùng của những ngày tháng ‘thi đua’ ngồi không chờ việc, một đồng nghiệp trẻ của tôi mời tôi một điếu thuốc lá. Những lúc như vầy, thì thuốc lá cần lắm, người không nghiện cũng bấp bấp vài hơi cho sảng khoái. Vừa bóc một điếu thì anh tươi cười bảo tôi : ‘Thầy nhầm rồi, thuốc Vàm Cỏ
[8] em dành cho cán bộ, thầy lấy phía bên nây là thuốc ba số[9], loại ‘xịn’, có ‘cán’, ‘cao cấp’ dành cho thầy’. Hồn nhiên, nửa đùa nửa thật, những cử chỉ nho nhỏ, thật nhỏ như vậy, nhưng gần gũi, thật ấm lòng.
Tôi có một anh bạn đang học tập ở trại Hà Tây. Nhân đi thăm và bới xén cho anh tôi ở trại Hà Nam Ninh, tôi muốn kết hợp thăm anh ấy. Thời bấy giờ, nếu không là bà con thân quyến mà đi thăm người cải tạo thì rất có thể có vấn đề với nhà cầm quyền. Anh đồng nghiệp trẻ tuồi nói trên của tôi mạo nhận là cháu của bạn tôi, đưa cho tôi những giấy tờ cần thiết để tiếp tế cho ‘cậu’ của mình. Đó là vào Tết 1979, lần duy nhất tôi được biết ‘1000 năm’ Thăng Long.
Thí dụ 2. Tôi có gởi ba đứa con lớn của chúng tôi cho 3 người bạn và là đồng nghiệp, để học tiếng Anh và nếp sống ở Mỹ trong nhiều tháng để chuẩn bị cho chúng đi chui.  Quí vị ấy đã hết lòng giúp đỡ và nhất là giữ kín cho chúng tôi.
Khi chúng đến Terampa, Indonesia, tôi gởi năm điện tín cho thân tộc và hai bạn đồng nghiệp ở Mỹ. Tôi đều được trả lời : sẵn sàng làm thủ tục rước các cháu, xin địa chỉ để gởi tiền cho các cháu.
Tôi cảm động, rơi nước mắt.
Thí dụ 3. Tôi giới hạn những gặp gỡ có thể bi hiểu lầm là có động cơ chính trị. Tôi cũng hiểu rằng có những bạn bè e ngại đến thăm viếng chúng tôi vì ý tốt ; họ ngại đem đến những hệ lụy không hay cho chúng tôi.  Cũng  có người tránh chúng tôi như sợ bị truyền nhiễm chính trị, tôi hiểu và không lấy đó làm phiền. Trong cái không khí e dè cho nhau và e sợ nhau đó, trong cái hỗn độn và đảo lộn giá trị xã hội đó, thì một người bạn chúng tôi ghi vào tờ khai lý lịch cá nhân rằng người bạn thân nhất trong trường là nhà tôi. Thật ấm lòng, khi được nghe Chị bảo nhà tôi : « trong lý lịch mình nói A-Trang là bạn thân nhất của mình đó nghe».  Chúng tôi nghĩ chị bạn ấy can đảm chớ không phải là ‘điếc không sợ súng’.’
Đó là những con người tuyệt vời : những tấm lòng vàng, những tâm hồn chân  chất, những trí tuệ logic đa chiều, thông hiểu và  luôn như nhắn nhủ chúng tôi phải tin ở tình người, tin ở cuộc đời.
Loại 2.  Trong cái không khí tan hàng, hỗn quan hỗn quân, cũng có vài người, quá sớm ‘giác ngộ’ ‘xã nghĩa’
[10], tưởng tượng ra những âm mưu Mỹ Ngụy, gieo những nghi ngờ nguy hiểm cho anh em trong trường tôi. Hành vi  đó, trong bối cảnh đó thật bất xứng, đáng đánh nhiều roi.
Mãi về sau, tôi mới ngộ ra rằng nếu Ơn Trên gởi cho tôi những thiên thần thì cũng buộc tôi  gặp những hành động quỷ dữ để dạy cho tôi sự kiên nhẫn, tập cho tôi nghĩ suy, chỉ cho tôi thấy hiểu ‘sông có khúc, người có lúc’, đừng lấy đó làm điều. Chẳng qua là : những con người  bình thường, hiền lành, không quen sóng gió, nên khi  gặp phải bão tố thì trở thành ‘dễ sợ’ như vậy đó. Thật tội nghiệp.  Thế nhưng, thấy tội nghiệp một người, tức là đã cho mình cao hơn người đó ; đó là  kiêu ngạo có lý do, và càng có lý do, tính kiêu ngạo càng nguy hiểm cho mình hơn.

Loại 3.  Thí dụ : Một giáo sư Văn và hiệu trưởng của  nhiều trường trung học Miền Nam, trong những tháng ngày sôi động ấy, khẳng định với tôi là Anh sẽ từ nhiệm, bỏ cái nhiêm vụ dạy Văn của Anh. Nói cách khác là Anh vĩnh biệt cái nghề thầy giáo. Lý do : Không lúc nào học đường có thể là cơ quan tuyên huấn của một đảng, dầu đảng đó lãnh đạo, điều hành toàn thể các định chế của quốc gia. Một ông giáo, nhất là Văn Sử, không và nhất thiết không là một công cụ tuyên huấn của Đảng, cả của nhà nước. Tôi ngại ngùng khuyên Anh nên nghĩ lại, vì trong bối cảnh lúc bấy giờ, thì cái bản án ‘bất hợp tác’ có thể có những hệ lụy không lường trước được. Nhưng rồi khoảng tháng sau, Anh nghỉ việc.

Tiếng nói của Anh là tiếng kêu la của thân phận, thân phận trói buộc nhiều bề của người thầy giáo, trói buộc trong những giá trị tự thân, trong những nguyên tắc chức năng, trói buộc bởi những đổi thay chính trị, đe dọa của quyền lực, sức ép của môi trường. Nghĩ rộng ra, đó cũng là thân phận của con người. Ai ai rồi cũng bị cột trong nhiều chiều. Tôi là ai ? là người con, người cha, người mẹ, người vợ, người chồng, thầy giáo, cô giáo, công chức, thương gia, công nhân, nông dân,... Trong những vai trò khác biệt nầy, tôi được huấn luyện, để đáp ứng những nhiệm vụ, những thiên chức, và nếu may mắn, tôi đáp ứng được một phần nào những đòi hỏi của tổ chức, của định chế, thì tôi được vinh danh là mẫu mực. Thời bấy giờ là điển hình tiên tiến, chiến sĩ thi đua,...Thế rồi, những nhu cầu thiết yếu trở thành thứ yếu, hoặc quên hẳn đi. Suy cho cùng, tôi có thể  mất mình mà không hay biết.  Vì rằng con người tôi đã đồng nhất với những  vai trò mà tôi diễn xuất, qui định bởi những tiêu chuẩn của môi trường, mà trong thời buổi bấy giờ tùy thuộc rất nhiều nơi sự tùy hứng của những  “ông Hồng Y hay Đại Lão Hoà Thượng Hội Thánh Đỏ”. Vấn đề không là như cây xồi của La Fontaine: cao ngạo, quả cảm, để tróc gốc. Cũng không phải đơn giản như lời nói của cây sậy: “tôi gập  mình, nép sát, nhưng không gảy gục.”[1]
Cái khác biệt giữa Xuân-Hạ, và Thu trong câu hỏi thân phận nầy là : ở Xuân, thì khẳng định bản sắc cái tôi, không thấy biết tha nhân ; ở Hạ, thì lăn xăn vào sự nghiệp, trọng tâm là thành công trong đóng góp ; vào Thu, là trải nghiệm, thực sống, thực vấn hỏi, nghĩ suy về thân phận, và câu hỏi có thể theo mình suốt quảng đời còn lại.

Một hôm, ngồi uống cà phê nơi quán cóc cùa một ông giáo sư Vật Lý Trường Lê Hồng Phong, tức Pétrus Trương Vĩnh Ký hồi trước, tôi bỗng nghe tiếng ngâm nho nhỏ :
‘Thuốc xuống, vàng lên sầu chót vót
[11]
Thì ra có thêm một giáo sư Văn không thỏa hiệp bị đẩy ra chợ trời thuốc tây, mượn vàng để buôn thuốc.  Nhưng nghề nào cũng lắm công phu, chợ trời không biết văn hay lời đẹp, cũng không hiểu khí tiết. Gặp phải lúc giá thuốc thì xuống, giá vàng thì lên, nên ‘sầu chót vót’.

Chuyện ‘người tốt việc tốt’ thời  ‘xã nghĩa’
[12], nói sao cho hết.

2.     Thời khoảng ấy, ‘thời kỳ quá độ sang xã hội chủ nghĩa mà không qua tư bản chủ nghĩa’, cũng là thời gian mà tôi đọc hoặc học nhiều sách và nhiều thầy nhất.  Đương nhiên là phải học ‘Tân Ước’—qui ước mới—của ‘Hội Thánh Đỏ  Mácxít-Lêninnít’, với bài bản có hệ thống về ‘hướng đi tất yếu của lịch sử’, để ‘giác ngộ giai cấp’, ‘giác ngộ sự tất thắng của giai cấp công nhân-nông dân’ do Hội Thánh Đỏ lãnh đạo trong các cuộc thánh chiến.
Song song với những cái bất đắc dỉ trên, chúng tôi dưỡng nuôi tinh thần bằng Tam giáo—Phật Giáo, Lão-Trang và Khổng Mạnh—và những triết thuyết phương Tây, trong đó Kinh Thánh giữ một vai trò trọng yếu. Riêng về Phật giáo, chúng tôi có theo nghe giảng với quí thầy sau đây : Viên Minh, Thanh Từ, Trí Hải, Trí Quảng, Diệu Không, Minh Châu.  Chúng tôi có mời anh Thanh Trí, một vị đệ tử của Hòa Thượng Thanh Từ giảng cho một nhóm bạn bè chúng tôi năm sáu người vào mỗi chiều thứ sáu, suốt gần hai năm. Chúng tôi lần lượt học : những bài khai tâm của HT Thanh Từ, rồi đến : Tín Tâm Minh của Ngũ Tổ, Chứng Đạo Ca của Ngài Huyền Giác, Hé mở cửa Giải Thoát của HT Thanh Từ, Kinh Kim Cang, Kinh Bát Nhã, Pháp Bữu Đàn Kinh,.. Riêng tôi, tôi còn được khai tâm thiền do một anh bạn, anh là đồ đệ của Ông Tám Lương Sĩ Hằng, sau đó thì theo chỉ vẻ của anh Thanh Trí, và sư cô Trí Hải.
Người giúp cho chúng tôi nhiều trong việc tìm học đạo trong khoảng thời gian nầy là anh Lư Tấn Hồng
[13].  Chính Anh đã đưa anh Doãn Quốc Sỹ đến nói chuyện Thiền cho chúng tôi. Cũng chính Anh đưa chúng tôi đến thầy Viên Minh, Chùa Kỳ Viên, đường Phan Đình Phùng Sàigòn, một vị tăng Tiểu Thừa mà giảng Đại Thừa một cách mạch lạc, đâu ra đó. Ông là một ngôi sao sáng trong giới tăng ni thời bấy giờ.

Nói chung tôi đi rất nhiều chùa—Kỳ Viên, Xá Lợi, Linh Sơn, Ấn Quang, Vĩnh Nghiêm, Tu Viện  Chân Không, Thường Chiếu, Viên Chiếu, Kiều Đàm, Tịnh Xá (Sư Cô Trí Hải), học rất nhiều thầy, chưa kể là đi cầu nguyện ở các nhà thờ, nhà nguyện. Tôi có thực hành thiền tọa một vài năm. Nhưng cái tâm của tôi, lúc bấy giờ không lúc nào an trụ được một nơi, mà thường là ngao du đây đó, thí dụ : ở các bệnh viện—Triều Châu, Sùng Chính, Nguyễn văn Học, Bình Dân,  chợ trời, ở những nơi bất định trong hành trình đi chui của các con tôi, ở những trăn trở nghề nghiệp, vận số, thân phận do những bạn bè và bối cảnh đưa đến cho tôi, như đã thưa trên đây. Cho nên, học thì nhiều, mà nhớ và hành tu thì không bao nhiêu.
1978 người anh, cột trụ gia đình tôi, qua đời. Năm 1979, mẹ tôi qua đời, 3 đứa con lớn của tôi vượt biên bình an. Tuy nhiên kiểm lại số bạn bè tôi vượt biên, phân nửa bị tử nạn. Thật hãi hùng.

1980 chấm dứt giai đoạn bắt đầu sang thu của tôi. Tôi vẫn chưa ý thức mình đã vào thu.

Thập niên 1980-90, tình hình bớt căn thẳng.  Đã có kiều bào về nước ngày càng đông. Và cả những người được xem là phản quốc, giờ trở về, được xem là “khúc ruột ngàn dặm”. Người đi học tập cải tạo lần lượt trở vế, ngỡ ngàng, có khi không còn gặp được vợ con, cha mẹ; mà nếu may mắn gia đình còn nơi chốn cũ, thì con thất học, người già không thuốc men, còn mình thì bị quản chế tại gia, và .. thất nghiệp. Riêng chúng tôi, đây là thập niên chờ đi đoàn tụ gia đình, tôi nạp đơn xin đi vào cuối 1980. Cuộc sống chúng tôi có dễ chịu hơn trước nhiều, đã có cơ duyên ‘hé mở cửa giải thoát’.
1987 đứa con Út tôi đi chui sang Thái Lan. Nó đi cùng 4 đứa bạn nhưng 2 người bạn của nó mất trên biển. Thêm một lần khiếp đảm. Một tháng sau nhạc mẫu tôi qua đời.

Vào mùa thu 1992, chúng tôi được đoàn tụ với các con tôi ở Houston và đi vào một cuối thu ấm áp, ít vấn đề. Cuộc sống ít vấn đề, ít thử thách, thường không có gì để thưa trình.  Thật ra, có ngôn ngữ nào, văn thơ nào mà gói được hết cuộc đời, dầu chỉ trải nghiệm  trong một sát na, huống chi đây là cả một thu-đời. Cho nên, cho phép tôi kết thúc bài thưa trình nầy trong vài nhận xét.

3.     Tóm lại,
3.1. Tôi bước sang thu mà không ý thức đã sang thu.
3.2. Tôi trải nghiêm một thời kỳ mà người VN ta phải đi đứng bằng hai tay, chân chỉ thiên, như Âu Dương Tây Độc trong truyện Kim Dung, hoặc như lời Marx chê trách biện chứng pháp của Hegel.
3.3. Giờ nhìn lại, tôi thấy rõ tôi là ai trong bối cảnh đó? 
là một diễn viên sân khấu : là con, là đứa em út trong gia đình, là cậu, là chú, là cha, là chồng, là anh thầy giáo, là một ông đồ lỗi thời, là một con người chơi vơi, mất hướng  trước những đợt sóng thần, luôn lo sợ, cảm thấy bất cứ  lúc nào mình cũng dễ bị tổn thương và gục ngã. Tôi phải kiềm hãm, đè nén hỷ nộ ái ố, ai, dục trong tôi, và khắc phục thể chất của tôi, để diễn xuất các vai, theo những qui định không lời, không văn tự, của nếp sống gia đình và môi trường. Càng muốn thoát ra khỏi các tuồng tích ấy, chúng  càng thắt chặc, trong khi tôi không có quyền chối từ, không có quyền trốn chạy, không có quyền bỏ cuộc, không có quyền gục ngã....
Tôi là ai ? Tôi không là gì cả, hoặc tôi là tất cả những vai đó trên sân khấu trò đời.  Tôi cũng không có may mắn có thời gian và điều kiện để nghĩ về hai chữ ‘vong thân’ của các nhà hiện sinh Tây Phương. Tôi cũng không thấy cuộc đời đáng ‘buồn nôn’ như ông J.P.Sartre.  Tôi chỉ chỉ cảm nhận mình bị quay trong một cơn lốc dữ  dội, và chỉ cố gắng để vượt qua.
Qua thu, tôi có khóc, nhưng thu của tôi không lúc nào là một thu chết, một thu buồn đến chết.
3.3. Tôi được dưỡng nuôi trong đạo ‘thờ cúng ông bà’, phi đạo giáo
[14]. Tôi được giáo dục trách nhiệm về những hành động của mình : ‘mình làm thì mình chịu’.
Nhưng giờ đây, tôi nghĩ : có phép lạ.  Ơn Trên đã gởi đến cho tôi những tấm lòng vàng, những thách đố để tôi luyện con người tôi, giúp tôi hiểu biết về tôi hơn.
Tuy nhiên, cũng phải nói thêm: không vì như vậy mà mọi việc đều phú cho Trời, giao cho số mạng. Phải ‘tận nhân lực, mới tri thiên mạng’.  Không phải người xưa nói bất cứ cái chi cũng đúng, nhưng lời khuyên nầy, thiết nghĩ  luôn nên theo.
3.4. Từ ấy, tôi có theo Đạo Phật, học đạo, và hành tu trong giới hạn một sự hiểu biết còn lắm thiếu sót, nông cạn của một tín đồ bình thường.
Trong &lsquo