ptan_ongdo.jpgTIẾNG HÁN CỔ

với ông đồ

ĐỖ CHIÊU ĐỨC

CHS Phan Thanh Giản

Nguyên GS Trung Học Tân Hưng (Cái Răng)

Nguyên Giảng Viên Hán Văn ĐH KHXHNV (SG)

__________________________________________________________________________

 

      Thơ NGUYỄN VĂN SIÊU

 DCD_NgVSieu.jpg

              Chân dung Nguyễn Văn Siêu

 

       Nguyn Văn Siêu 阮文超 (1798-1872) tên khác là Định 定, tự Tốn Ban 遜班, hiệu Phương Đình 方亭 và Thọ Xương cư sĩ 壽昌居士, thuỵ Chí Đạo 志道, người làng Kim Lũ, huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Đông. Đỗ phó bảng năm 1838 đời vua Minh Mệnh. Ông là người cùng thời với Cao Bá Quát, hai người nổi tiếng có tài văn thơ mà dân gian hay truyền tụng là "thần Siêu thánh Quát". Nguyễn Văn Siêu làm quan đến chức án sát, có sang sứ Trung Hoa.

       Nguyễn Văn Siêu sáng tác rất mạnh, các tác phẩm của ông khá đồ sộ. Về thơ ca, cơ bản ông có các tập thơ:
- Anh ngôn thi tập 英言詩集 (2 quyển, 141+162 bài) gồm các bài thơ sáng tác khi ông ở Thăng Long
- Lưu lãm tập 流覽集 (2 quyển, 177+128 bài) gồm các bài thơ sáng tác khi ông ở Huế
- Mạn hứng thi tập 漫興詩集 (187 bài) gồm các bài thơ sáng tác khi ông rời Huế về Thăng Long
- Vạn lý tập ... 

                                                                                    ( nguồn : Thiviennet )



       Vua Tự Đức đã từng khen :


                        Văn như SIÊU QUÁT vô Tiền Hán,


để chỉ văn tài siêu việt của Nguyễn Văn Siêu và Cao Bá Quát, nhưng có biết đâu rằng Nguyễn Văn Siêu cũng giỏi thơ không thua TÙNG TUY chút nào cả !


       Mời đọc các bài thơ sau của Nguyễn Văn Siêu sẽ rõ !...



1. Bản chữ Hán cổ của bài Xuân Nhật Hiểu Khởi :


春日曉起      XUÂN NHẬT HIỂU KHỞI

t
宿火明書牖,    Túc hỏa minh thư dũ,
曉鍾聞佛臺。    Hiểu chung văn Phật đài.
主人催被起,    Chủ nhân thôi bị khởi,
小子報花開。    Tiểu tử báo hoa khai.
夜氣融孤竹,    Dạ khí dung cô trúc,
晴光弄小梅。    Tình quang lộng tiểu mai.
流鶯囀不已,    Lưu oanh chuyển bất dĩ,
應有故人來。    Ưng hữu cố nhân lai !
         阮文超                       Nguyễn Văn Siêu

 DCD_NgVSieu_Truc.jpg

     

 * Chú Thích :


  - Túc Hỏa : Đèn hoặc nến ban đêm để thắp sáng.
  - Thư Dũ : Cửa sổ bên bàn học.
  - Hiểu Chung : Chuông chùa công phu buổi sáng.
  - Thôi Bị Khởi : Đẩy cái mền ra ngồi dậy, ý chỉ thức giấc.
  - Tiểu Tử : Ở đây không có nghĩa là CON NHỎ mà là Tiểu Đồng, Thư Đồng để đối với chữ CHỦ NHÂN ở trên.
  - Dung : là Hòa, Tan, lẫn vào.
  - Tình Quang : là Ánh Nắng.
  - Chuyển : là Uyển Chuyển, là tiếng hót véo von, líu lo.
  - Ưng Hữu : Chắc có, Có thể có.

* Nghĩa Bài Thơ :
                                   SÁNG XUÂN THỨC GIẤC 
          Đèn đêm còn chiếu sáng song cửa sổ, đã nghe tiếng chuông công phu buổi sáng ở Phật đài. Chủ nhân vừa tung chăn thức giấc thì tiểu đồng đã báo cho biết là hoa sáng đã nở rồi. (Mở cửa ra thì thấy) Hơi đêm còn như đang tan vào bụi trúc cô đơn trước ngõ và ánh nắng ban mai le lói như đang ghẹo cành mai nhỏ trước sân, tiếng chim oanh bay lượn không ngừng hót líu lo, như báo trước chắc là có bạn cũ đến chơi.

* Diễn Nôm :
                   Đèn đêm còn soi song cửa,
                   Đã nghe chuông sớm ngân nga.
                   Chủ nhân tung chăn thức giấc,
                   Tiểu đồng báo sáng nở hoa.
                   Hơi đêm tan vào tre lạnh,
                   Nắng sớm ghẹo cội mai già.
                   Tiếng oanh líu lo không ngớt,
                   Chắc là bạn đến thăm ta !

  Lục bát :
                   Đèn còn hắt sáng cửa song,
            Phật đài đã vẳng chuông ngân đầu ngày.
                   Chủ nhân thức giấc vươn vai,
            Thư đồng đã báo nở vài cành hoa.
                   Hơi đêm nhành trúc la đà,
            Vài tia nắng sớm ghẹo hoa mai vàng.
                  Chim oanh ríu rít rộn ràng,
            Chắc là có bạn thuận đàng ghé chơi !


                                                  Đỗ Chiêu Đức

 

DCD_NgVSieu_sangXuan.jpg

 

2. Bản chữ Hán cổ bài Hiểu Tọa :


  曉坐  t         HIỂU TỌA
曉坐對茶甌,   Hiểu tọa đối trá âu,
空心懶應接。   Không tâm lãn ứng tiếp.
雞鳥聲復聲,   Kê điểu thanh phục thanh,
晴雲布亂蝶。   Tình vân bố loan điệp.
      阮文超             Nguyễn Văn Siêu


* Chú Thích :
  - Trà Âu : Bình sành, chén sành dùng để uống trà. 
  - Lãn : là Lười biếng.
  - Tình Vân : là Mây tạnh, là Trời quang mây tạnh.
  - Bố : là Phân tán, rải khắp.


* Nghĩa Bài Thơ :

                                  Ngồi Chơi Buổi Sáng
          Buổi sáng ta ngồi đối diện với bộ đồ trà mà trong lòng cảm thấy trống trải, lười biếng không muốn ứng tiếp với ai cả. Hết tiếng gà gáy rồi tiếng chim kêu nối tiếp nhau, trời quang mây tạnh nên đàn bướm đổ xô ra bay loạn khắp nơi ( thật là bực mình hết sức !).


          Qủa là, người buồn cảnh có vui đâu bao giờ ! Ngồi uống trà buổi sáng, trời quang mây tạnh, có gà gáy, có chim hót, có bươm bướm lượn bay, cảnh đẹp là thế, nhưng vì tâm lý của tác giả không vui, nên mới đâm ra uể hoải lười biếng chẳng muốn giao tiếp với ai và bực mình cả với tiếng gà gáy chim kêu bướm lượn !
                            
 * Diễn Nôm :
                      Sáng ngồi trước ấm trà,
                      Lòng buồn chẳng thiết tha.
                      Gà gáy rồi chim hót,
                      Mây tạnh bướm nhởn nha

 Lục bát :
                 Sáng buồn ngồi trước bình trà
                 Cỏi lòng trống trải chẳng tha thiết gì
                 Chim kêu gà gáy liền khi, 
                 Trời quang lũ bướm loạn phi khắp cùng ! 


                                                              Đỗ Chiêu Đức 

     

 DCD_NgVSieu_Ga.jpg

3. Bản chữ Hán cổ của bài thơ Tĩnh Tọa :


      靜坐  t                      TĨNH TỌA
書永午雞辰一叫,      Thư vĩnh ngọ kê thần nhất khiếu
簾垂到地人過少。      Liêm thùy đáo địa nhân qua thiểu.
無風半樹微微搖,      Vô phong bán thụ vi vi diêu,
葉裡打蟲穿出鳥。      Diệp lý đả trùng xuyên xuất điểu.

             阮文超                                  Nguyễn Văn Siêu


* Chú Thích :
  - Tĩnh Tọa : còn được đọc là Tịnh Tọa, là Ngồi yên một chỗ.
  - Thư : là Động từ, có nghĩa là Đọc sách.
  - Ngọ Thần : là Giờ Ngọ; Ngọ Kê Thần : là Con gà gáy vào giờ Ngọ.
  - Đả Trùng : Không phải Đánh Sâu, mà là Bắt Sâu.
  - Xuyên Xuất : là Chui ra.

 

* Nghĩa Bài Thơ :
                                        Lặng Ngồi
            Đọc sách cho đến lúc gà gáy trưa gáy lên, Ta lặng ngồi trong phòng có rèm phủ đến mặt đất và rất ít người qua lại mà ngắm cảnh bên ngoài. Trời không có gió lớn nên nửa thân cây chỉ hơi giao động, ta thấy một con chim bắt sâu chui ra khỏi đám lá xanh !

 

* Diễn Nôm :
                               Lặng Ngồi
                   Đọc sách đến trưa gà gáy nắng,
                   Buông rèm tới đất người qua vắng.
                   Gió yên cây lặng lá lay lay,
                   Trong lá bắt sâu chim một móng !

 Lục bát :
                   Đọc sách đến gà gáy trưa,
                   Rèm buông sát đất đường thưa vắng người,
                   Gió yên cây lặng êm trời,
                   Chui ra trong lá chim loài bắt sâu !


                                                         Đỗ Chiêu Đức

DCD_NgVSieu_TienDinh.jpg 

4. Bản chữ Hán cổ của bài thơ Đình Tiền Bộ Nguyệt :


 庭前步月    ĐÌNH TIỀN BỘ NGUYỆT


掃地焚香坐,  Tảo địa phần hương tọa,
空心待月生。  Không tâm đãi nguyệt sanh.
清影移梅至,  Thanh ảnh di mai chí
西廂遶竹行。  Tây sương nhiễu trúc hành.

          阮文超                      Nguyễn Văn Siêu


* Chú Thích :
  - Đình : là Sân nhỏ ở trong khuôn viên nhà; ĐÌNH TIỀN là Trước sân.
  - Phần Hương : là Đốt nhang, thắp hương.
  - Đãi Nguyệt Sanh : là Đợi trăng mọc.
  - Tây Sương : là Mái nhà mé tây.
  - Nhiễu : là Vòng quanh

 

* Nghĩa Bài Thơ :
                            Đi Bách Bộ Ngắm Trăng Trong Sân Nhà
            Quét sạch đất, thắp nhang rồi ngồi đó, giữ cho lòng thanh thản để đợi trăng lên. Cái bóng của cây mai thanh thanh đang di chuyển đến gần ta, thì ra trăng đã lên rồi, ta theo hướng mái tây mà đi vòng theo những hàng tre bên đó.


     Từ TÂY SƯƠNG ( Mái Tây ) làm cho ta nhớ đến bài thơ trong Tây Sương Ký của Nguyên Chẩn đời Đường :


                待月西廂下,  Đãi nguyệt Tây sương hạ,
                迎風戶半開。  Nghinh phong hộ bán khai.
                拂墻花影動,  Phất tường hoa ảnh động,
                疑是玉人來。  Nghi thị ngọc nhân lai.
Có nghĩa :
                Đợi trăng dưới mái tây,
                Cửa hé gió hây hây.
                Bên tường hoa lay động,
                Phải người ngọc tới đây ?!
                                             Đỗ Chiêu Đức

DCD_NgVSieu_maiTay.jpg              

 

* Diễn Nôm :
                   Quét đất thắp hương ngồi,
                   Thảnh thơi chờ trăng mọc.
                   Bóng mai đã di dời,
                   Mái tây vòng tre trúc !

  Lụcbát :
               Thắp hương quét đất ta ngồi,
               Thảnh thơi đợi giữa lưng trời trăng lên.
               Bóng mai đã xế kề bên,
               Vòng theo bờ trúc bên thềm mái tây !


                                                   Đỗ Chiêu Đức

DCD_NgVSieu_Thuda.jpg 

5. Bản chữ Hán cổ của bài thơ Thu Dạ Thính Vũ :


 秋夜聽雨     THU DẠ THÍNH VŨ


海國三秋半,  Hải quốc tam thu bán,
山城一雨初。  Sơn thành nhất vũ sơ.
寂寥群動息,  Tịch liêu quần động tức,
涓滴夜聲疏。  Quyên trích dạ thanh sơ.
隨葉空庭際,  Tùy diệp không đình tế,
敲金萬瓦餘。  Xao kim vạn ngõa dư.
還家此夕夢,  Hoàn gia thử tịch mộng,
不畏路沮洳。  Bất uý lộ tự như.
         阮文超             Nguyễn Văn Siêu

 

* Chú Thích :
   - Hải Quốc : Tỉnh thành ở gần biển hay Các nước ở sát bờ biển như VN ta vậy.
   - Tịch Liêu : Tịch mịch cô liêu là Buồn bã vắng vẻ.
   - Quyên Trích : Tiếng mưa dột lộp độp, tí tách.
   - Xao Kim : là Gỏ vào kim loại.
   - Ngõa : là Ngói lợp nhà.
   - Tự Như : là Bùn sình lầy lội.

 

* Nghĩa Bài Thơ :
                                 Đêm Thu Nghe Mưa
      Ở gần vùng biển đã hơn ba mùa thu rồi, cái thành ở trên núi cao nầy bắt đầu vào mùa mưa. Mọi hoạt động đều ngưng trệ trong vắng lặng buồn bã, tiếng mưa cứ thánh thót rơi đều suốt đêm, tiếng lá cây cứ xào xạt trong sân và hạt mưa đập lên muôn vạn tấm ngói trên mái nhà như tiếng kim loại chạm vào nhau. Đêm nay nếu như mơ được về nhà thì không phải sợ đường xa trơn trợt lầy lội nữa !

 

* Diễn Nôm :
                    Hơn ba thu gần biển,
                    Thành cao mưa vào mùa.
                    Buồn thiu ngày vắng lặng,
                    Rả rít đêm gió lùa.
                    Lá xạc xào sân vắng,
                    Ngói tí tách nước khua.
                    Mộng về đêm nay sẽ,
                    Chẳng sợ đường lầy mưa !

  Lục Bát :
                 Gần biển hơn ba năm nay,
                 Thành cao trên núi mưa ray rức buồn.
                 Im lìm vắng lặng mưa tuôn,
                 Tí ta tí tách mưa luồn suốt đêm.
                 Xạc xào sân vắng bên thềm,
                 Ngói khua chí chát như kim loại hòa.
                 Đêm nay nếu mộng về nhà,
                 Sẽ không phải sợ mưa sa bùn lầy !


                                                       Đỗ Chiêu Đức

 DCD_NgVSieu_Dakhedo.jpg

6. Bản chữ Hán cổ của bài thơ Dã Khê Độ :


   野溪渡             DÃ KHÊ ĐỘ
細雨埋前路,    Tế vũ mai tiền lộ,
飛花斷野橋。    Phi hoa đoạn dã kiều.
小童簑笠宿,    Tiểu đồng toa lập túc,
孤艇隔鸂招。    Cô đĩnh cách khê chiêu.
         阮文超                Nguyễn Văn Siêu


* Chú Thích :
   - DÃ KHÊ Độ : là Bến đò Dã Khê.

   - Tế Vũ : Mưa bụi, mưa lất phất.
   - Mai : là Chôn, ở đây có nghĩa là Che lắp.
   - Đoạn : là Đứt, là Gãy, ở đây có nghĩa là Làm cho bít lối.
   - Toa Lạp 簑笠 : Còn đọc là Thoa Lạp, là Áo tơi nón lá.
   - Cô Đĩnh : Chiếc xuồng con nho nhỏ đơn độc.
   - Chiêu : là (đưa tay) Ngoắt, gọi.

 

* Nghĩa Bài Thơ :
                              Bến Đò DÃ KHÊ
          Mưa lất phất rơi làm mờ mịt cả con đường trước mắt, hoa rụng bay khắp lối che khuất cả chiếc cầu ngoài đồng nội. Một chú bé con chèo đò nho nhỏ với nón lá áo tơi đang ngủ trên chiếc xuồng con, mặc cho khách ở bên kia bờ sông đang vẩy tay réo gọi !

 

* Diễn Nôm :
                     Trước mặt mưa che lối,
                     Cầu khuất trong hoa rơi.
                     Tiểu đồng say giấc bướm,
                     Mặc khách gọi ới ơi !
  Lục bát :
                 Mưa rơi che khuất đường dài,
                 Hoa bay phủ kín cầu ngoài đồng không.
                 Áo tơi nón lá giấc nồng,
                 Đưa đò say ngủ... mặc lòng khách kêu !


                                                   Đỗ Chiêu Đức

                                                Tháng 6 năm 2018.

_____________________________________________________________________ 





Biên Khảo

           CÁC CÂU ĐỐI HIỆP THIÊN CUNG CÁI RĂNG

           DCD_HiepThienCung_1.jpg

 

          Bước vào vòng rào của Hiệp Thiên Cung, ta thấy ngay đôi câu đối chữ vàng viết trên đôi cột to màu đỏ như sau :


                    聖  駕  賁  臨,  欣  蒙  到  處  即  福  地,
               Thánh giá bí lâm, hân mông đáo xứ tức phước địa,
                    神  恩  戾  止,  且  觀  這  裡  樂  春  光。
               Thần ân lệ chỉ, thả quan giá lý lạc xuân quang.


Chú thích :
  * Thánh Giá : Từ gọi chung Thần Thánh hoặc Vua Chúa.
  * Bí Lâm : là ăn mặc đẹp đẽ tề chỉnh để đến đâu đó.
  * Hân Mông : Vui mừng mà mang ơn.
  * Đáo Xứ : là Khắp nơi, là nơi mà thần ngự đến. 
  * Lệ Chỉ : là Đến nơi, là soi rọi đến.
  * Thả Quan : là Hãy xem, chờ mà xem.
  * Xuân Quang : là Quang cảnh của mùa xuân.


Có nghĩa :
          Thần thánh ngự đến nơi đâu, thì nơi đó đó nên mừng là vùng đất phước.( Ý nói sẽ sống yên ổn là làm ăn phát đạt ).
          Ơn của thần thánh ban đến nơi nào, thì hãy chờ mà xem, nơi đó dân chúng sẽ vui sống trong quang cảnh của mùa xuân.


Diễn Nôm :
                  Thánh ngự đến nơi, mừng đội ơn trên là đất phước,
                  Thần ân ban phát, hãy xem khắp chốn thảy vui xuân.

    Hai bên cửa ra vào chính có hình của Thần Đồ Uất Luỹ 神荼鬱壘, cũng có đôi câu đối ở phía dưới 4 chữ Tam Dương Khải Thái 三陽啟泰 là :


              元旦參神添百福,     Nguyên đán tham thần thiêm bách phước,
              新年入廟納千祥。     Tân niên nhập miếu nạp thiên tường.


Có nghĩa :
        Tết Nguyên Đán( ngày đầu của một năm ) mà đến đây để tham kiến thần linh, thì sẽ thêm được trăm điều phước.
        Năm mới mà vào chùa ( miếu ) để cúng bái, thì sẽ nhận được ngàn điều lành.

               DCD_hiepthiencung_2.jpg 


Diễn Nôm :
                    Nguyên Đán lạy thần thêm trăm phước,
                    Đầu năm vào miếu nhận ngàn lành.   

 Ngoài ra, hai bên vách của cổng chính cũng có vẽ các bức tranh về sự tích Đào Viên Tam Kết Nghĩa 桃園三結義 giữa Lưu Bị, Quan Công và Trương Phi, như hình của Lưu Quan Trương thử binh khí 劉關張試兵器 (Lưu Quan Trương thí binh khí), Quan Công Xá Tào Tháo 關公赦曹操 (Tích Quan Công tha cho Tào Tháo ở Huê Dung Đạo),Lưu Quan Trương theo kế của Khổng Minh, Hình của Châu Thương và Quan Bình hai người con nuôi đứng hầu hai bên của Quan Công, một người cầm cây Thanh Long yễm Nguyệt Đao, một người bưng cái ấn Hán Thọ Đình Hầu của Quan Công....

 
         Hai bên vách nơi nhô ra còn có 2 bài thơ của Thi Tiên Lý Bạch, bên trái là bài " Sơn Trung Vấn Đáp":    



            山中問答                SƠN TRUNG VẤN ĐÁP


         問余何意棲碧山,      Vấn dư hà ý thê bích sơn,
         笑而不答心自閒。      Tiếu nhi bất đáp tâm tự nhàn.
         桃花流水窅然去,      Đào hoa lưu thủy yểu nhiên khứ,
         別有天地非人間。      Biệt hữu thiên địa phi nhân gian.
                          李白                                            Lý Bạch


CHÚ THÍCH :
 * Dư : Nhân xưng Đại từ ngôi thứ nhất, là Tôi, Ta, Tao...
 * Thê : là Đậu trên cây, ở đây có nghĩa là Ở, là Cư ngụ.
 * Bích Sơn : tên núi ở TP An Lục tỉnh Hồ Bắc, dưới núi có Đào Hoa Động là nơi Lý Bạch ăn ở và học tập.

 * Đào Hoa Lưu Thủy : Theo Đào Hoa Nguyên Ký của Đào Tiềm có ghi : Vào đời Đông Tấn, ở đất Võ Lăng, có người đánh cá đi lạc vào rừng hoa đào, cuối rừng có núi, trong núi có con đường nhỏ dẫn vào Đào hoa Nguyên, trong đó dân chúng sống thanh bình an cư lạc nghiệp như trong tiên cảnh.
 * Yểu Nhiên : chỉ Âm thầm, Lặng lẽ.
 * Biệt Hữu Thiên Địa : là Có trời đất riêng biệt.

NGHĨA BÀI THƠ :
        Bạn hỏi tôi sao tôi lại chọn nơi Bích Sơn mà ở, là có ý gì ? Tôi chỉ cười mà không trả lời câu hỏi của bạn, vì trong lòng tôi tự cảm thấy nhàn nhã là được rồi. Hãy xem kìa, dòng nước cuốn những cánh hoa đào lặng lẽ trôi đi như ở xứ Đào Nguyên tiên cảnh, có trời đất riêng biệt chớ không phải như ở chốn nhân gian nầy !

DCD_HiepThienCung_3.jpg

DIỄN NÔM :
                    HỎI ĐÁP NHAU TRONG NÚI


                  Bạn  hỏi  ý gì chọn Bích Sơn ?
                  Cười thôi chẳng đáp nhàn là hơn.
                  Hoa đào nước cuốn trôi êm ả,
                  Là cảnh Đào Nguyên há phải thường !
Lục bát :
                  Bích Sơn bạn hỏi ý chi ?
                  Cười mà không đáp lòng thì thảnh thơi.
                  Hoa đào rụng, nước cuốn trôi,
                  Đào Nguyên há phải cảnh đời nhân gian !
                                                         Đỗ Chiêu Đức

 

 

DCD_HiepThienCung_4.jpg

Bên trái là bài thơ LỤC THỦY KHÚC :


              淥水曲                Lục Thủy Khúc


           淥水明秋月,     Lục Thủy minh thu nguyệt
           南湖採白蘋。     Nam hồ thái bạch tần.
           荷花嬌欲語,     Hà hoa kiều dục ngữ,
           愁殺盪舟人。     Sầu sát đãng chu nhân.
                        李白                          Lý Bạch


CHÚ THÍCH :
 * Lục Thủy Khúc :Là Tên của một khúc hát xưa, có nghĩa là Khúc hát về Dòng Nước Trong.
 * Nam Hồ : là Phía nam của Động Đình Hồ.
 * Bạch Tần : Một loại rau nổi trên mặt nước có hoa màu trắng như rau muống, rau ngổ vậy.
 * Hà Hoa : là Hoa Sen, tức là Liên Hoa 蓮花 đó.
 * Sầu Sát : chữ SÁT 殺 đứng sau Động từ là Trạng từ chỉ Mức độ, có nghĩa như Rất, Rất là. Nên Sầu Sát có nghĩa là Rất buồn, là Buồn muốn chết !

 * Đãng Chu Nhân : là Người chèo thuyền, người bơi xuồng.

NGHĨA BÀI THƠ :
          Dòng nước trong trẻo làm cho trăng thu như sáng hơn lên, ta thả thuyền ở phía nam Hồ Động Đình để hái rau bạch tần. Nhìn thấy bông sen nở trên hồ thật đẹp thật sống động như muốn nói chuyện cùng ta, làm cho ta cảm thấy buồn muốn chết đi được vì ta không thể nào đối thoại được với hoa.

DIỄN NÔM :
                     LỤC THỦY KHÚC


                Nước trong sáng trăng thu,
                Bạch tần hồ nam hái,
                Sen đẹp như muốn nói,
                Sầu chết người đãng chu !
Lục bát :
               Nước trong làm sáng trăng thu,
               Rau tần tìm hái bên hồ phía nam.
               Lá xanh bông trắng nhị vàng,
              Tựa như muốn nói sầu sang người chèo !
                                                          Đỗ Chiêu Đức


           

DCD_HiepThienCung_5.jpg

Đứng từ ngoài nhìn vào chùa, ta còn thấy hai bên có hai dãy Nghi Trượng. (NGHI TRƯỢNG là những cờ xí binh khí giàn giá khi các quan ngày xưa đi ra ngoài hoặc thăng đường xử án). Nghi Trượng Sự Thần 儀仗事神 là các giàn giá để thờ thần linh, với các tấm bảng Nghi Trượng hai bên như sau :


   * 協天大帝 Hiệp Thiên Đại Đế : Tước hàm được phong của Quan Công.
   * 天后元君 Thiên Hậu Nguyên Quân : Tước hàm của bà Thiên Hậu.
   * 肅靜迴避 Túc tĩnh Hồi tỵ : là Giữ  Nghiêm túc yên lặng và Tránh sang một bên.
   * 污穢勿近 Ô uế Vật cận : Những gì dơ dáy không sạch sẽ thì tránh sang một bên (đừng đến gần).

 

          Ngoài cửa chánh vào chùa ra, ta còn thấy có 2 cửa hông hai bên, cửa hông bên phải cũng có đôi câu đối :


                 入是門必恭敬止,     Nhập thị môn tất cung kính chỉ,
                 由斯道惟孝友于。     Do tư đạo duy hiếu hữu vu.


   * Thị Môn : là Cánh cửa nầy, là lối vào nầy. 
   * Tư Đạo : là Con đường nầy, là Lối đi nầy.


Có nghĩa :
       Đi vào cửa nầy, phải có thái độ cung kính ( để nhớ đến các bậc tiền nhân đã tạo ra nó ).
       Do đường nầy( tư đạo ) mà vào, duy chỉ có những người hiếu thảo ( với cha mẹ anh em ). 

         

DCD_HiepThienCung_6.jpg

Cửa hông bên trái, nơi có treo bảng Ban Quản Lý Chùa 協天宮理事會, cũng có đôi câu đối :


                 出入禮門咸迪吉,     Xuất nhập lễ môn hàm địch kiết,
                 往來義路盡亨通。     Vãng lai nghĩa lộ tận hanh thong.
Có nghĩa :
                   Ra vào cửa lễ đều lành tốt,
                   Vãng lai đường nghĩa thảy hanh thông.
Ý nói :
           Đi ra đi vào ở cánh cửa lễ nghi nầy thì mọi việc đều được tốt lành. Và...
           Qua lại ở con đường có nghĩa nầy, thì mọi việc đều được suông sẻ.

 

          Nói thêm về 4 chữ Tam Dương Khải Thái 三陽啟泰. Khải là Mở ra, mà Khai 開 cũng là Mở ra, nên 4 chữ nầy còn được viết là TAM DƯƠNG KHAI THÁI 三陽開泰...  


      Theo sách Chu Dịch. Sau tiết Đông Chí thì khí âm hàn bắt đầu tiêu thoái, và khí dương thì bắt đầu sanh trưởng, ta thường nghe các Thầy Bói gọi là Âm Tiêu Dương Trưởng, đêm sẽ ngắn dần, ngày sẽ dài thêm ra, cho nên Tháng Mười Một là tháng Tý, thuộc quẻ Phục 復 là Nhất Dương Sanh, Tháng Mười Hai là Tháng Sửu, thuộc quẻ Lâm 臨 là Nhị Dương Sanh, và Tháng Giêng là Tháng Dần, thuộc quẻ Thái 泰 là Tam Dương Sanh. Vì thế nên Tết Nguyên Đán của tháng Giêng mới dùng câu Tam Dương Khai Thái 三陽開泰 mà chúc mừng cho năm mới mở ra vận hội mới, lấy Ý chữ Thái là Lớn, là Thông, như trong tiếng Việt ta thường nói "Hết vận Bỉ rồi thời lại Thái", hoặc "Bỉ cực thì Thái lai" và "Hết cơn Bỉ Cực, đến hồi Thái lai". Có nghĩa: Hết lúc Bế tắt, nghèo khó thì đến lúc Hanh Thông, khá giả !

 

                                  Vì 2 chữ Dương 陽 và 羊 Dương đồng âm, nên ta thường gặp những bức tranh vẽ hình 3 con dê thay thế cho khí dương của trời đất mà chúc nhau bằng câu Tam Dương Khai Thái như ta thường  trông thấy!    


        Bước vào cửa chánh, bên trong là một cái sân lộ thiên rồi mới đến chánh điện với 4 chữ hoành phi trên cao :


                        丹心貫日           ĐAN TÂM QUÁN NHẬT
Có nghĩa :
            Một tấm lòng son ngang bằng với mặt Trời.( để chỉ lòng trung thành bền vững của Quan Thánh Đế Quân ).


         Dưới 4 chữ trên trên hoành phi là 2 cặp câu đối, cặp bên ngoài là :



               九天日月開新運,        Cửu thiên nhật nguyệt khai tân vận,
               萬國笙歌樂太平。        Vạn quốc sanh ca lạc thái bình.


Có nghĩa :
             Trên chín từng trời, mặt trăng mặt trời đang mở ra vận hội mới, và ở dưới đất...
             Muôn nước muôn nhà đều ca hát mà vui cảnh thái bình.
     Theo quan niệm xưa thì : Trời có 9 từng, gọi là Chín Từng Trời, còn Địa Ngục thì có 18 từng, nên gọi là Mười Tám Từng Địa Ngục

          Cặp câu đối bên trong là :


                  萬古桃園生秀色,     Vạn cổ Đào viên sanh tú sắc,
                  千秋義武見英風。     Thiên thu nghĩa vũ kiến anh phong.
Có nghĩa :
           Chuyện Đào viên kết nghĩa thì muôn năm sau vẫn còn mang màu sắc đẹp đẽ, và...
          Cái vũ dũng nghĩa khí đó thì đến ngàn năm sau vẫn còn thấy được là phong cách của anh hùng.
     

          Kế đến, là đôi cột thứ nhì của chính điện, và đây có thể là câu đối hay nhất,có ý nghĩa nhất, sát sao nhất với cuộc sống của toàn thể cư dân Quận Cái Răng :


           被聖澤,本市匹民安樂業,   Bị thánh trạch, bổn thị thất dân an lạc nghiệp,
           謝神恩,周城合境保平安。   Tạ thần ân, châu thành hợp cảnh bảo bình an.

* Bị : Danh từ là cái Mền đắp. Động từ là Phủ kín, là Mang, là Đội. Nên BỊ THÁNH TRẠCH là Chịu ơn của thần thánh.

  * Thất Dân : là Dân chúng bình thường.
  * Châu Thành : là Khắp cả Thành phố, Thị Trấn.
  * Hợp Cảnh : là Toàn cảnh, ý chỉ cả cái khuôn viên của nơi ta ở.


Có nghĩa :
              Mang ơn mưa móc của ông Thánh, mà dân thường trong bổn chợ của ta đều được an cư lạc nghiệp,
             Tạ ơn phù hộ của Thần, mà toàn thể khuôn viên của quận ta đều giữ được bình yên. 

            Và đôi câu đối trên bảng đỏ chữ đen của hàng cột tiếp là :


           擎天一柱,鐵石為心是漢室,   Kình thiên nhất trụ, thiết thạch vi tâm thị Hán thất, 
           拔地齊峰,春秋得力與尼山。   Bạt địa tề phong, Xuân thu đắc lực dữ Nê sơn.
Có nghĩa :
              Như một cây cột trụ chống trời, sắt đá quyết lòng phò nhà Hán,
              Vượt khỏi mặt đất để lên bằng ngọn núi, Xuân Thu đắc lực cùng với Nê Sơn.( NÊ SƠN là nơi sanh của Khổng Tử. Khổng Tử soạn ra sách Xuân Thu, còn Quan Công thì đọc sách Xuân Thu để noi theo những cái gương trong đó. Ở đây có ý đề cao Quan Công một cách quá đáng, so sánh Quan Công ngang bằng với Khổng Tử vì cả 2 đều được phong Thánh ).     



        Hàng cột kế tiếp là đôi câu đối ca ngợi công đức của Quan Thánh Đế Quân một cách văn chương thi vị :


                        清  夜  讀  春  秋, 半  朵  燭  花  籠  月  色,

             Thanh dạ độc Xuân Thu, bán đóa chúc quang lung nguyệt sắc, 
                        赤  心  伸  討  伐, 一  鞘  劍  氣  繞  星  寒。

             Xích tâm thân thảo phạt, nhất sao kiếm khí nhiễu tinh hàn.
Có nghĩa :
            Đêm thanh vắng ngồi đọc sách Xuân Thu, Nửa đóm lửa từ ngọn nến lay động làm lung linh cả ánh trăng, 
            Một tấm lòng thành giúp vua thảo phạt( đánh giặc), một làn kiếm khí vút cao làm lạnh lẽo cả các vì sao.
            Qủa là một câu đối đầy tính văn chương và thi vị.



       Câu đối ở hàng cột áp chót là :


                  萬古勳名垂竹帛,    Vạn cổ huân danh thùy trúc bạch,
                  千秋義勇壯山河。    Thiên thu nghĩa dũng tráng sơn hà.
Có nghĩa :
          Muôn đời sau chiến công ( của Quan Công ) vẫn còn ghi lại trên tre, trên vải.( vì ngày xưa chưa có giấy, nên sử sách đều được khắc trên các thanh tre cuốn tròn lại như quyển sách, ta thường gọi là Thanh Sử 青史, hay Sử Xanh. Sau nầy còn được chép lên Vải, lên Lụa. BẠCH 帛 là Vải là Lụa.)
          Ngàn thu sau cái nghĩa khí và cái dũng cảm ( của Ngài ) vẫn còn làm cho núi sông trở nên hùng tráng hơn.

DCD_HiepThienCung_Nghiaquan.jpg DCD_HiepThienCung_ThienCo.jpg 

 

         Hai bên hông chánh điện còn có các bức hoành phi như :

* 義貫千秋    Nghĩa quán thiên thu

Có nghĩa :
     Cái nghĩa của Quan Thánh xuyên suốt từ ngàn thu đến nay và về sau nữa.


                       * 千古一人   Thiên cổ nhất nhân
Có nghĩa : 
              Ngàn xưa đến nay chỉ có một người ( trung nghĩa như là Quan Công vậy !).

 

             Cuối cùng là đôi câu đối ở 2 bên kham thờ của Quan Thánh Đế Quân là :


                  聖德無疆沾萬古,   Thánh đức vô cương triêm vạn cổ,
                  帝恩靡極頌千秋。   Đế ân mĩ cực tụng thiên thu.
Có nghĩa :
      Cái đức của bậc thánh nhân ( ở đây chỉ Quan Công ) còn thấm nhuần đến muôn đời sau,
      Ơn vua thì vô cùng, còn ca tụng mãi đến ngàn thu sau.

DCD_HiepThienCung_Quangnhatdien.jpg

Quay ngược ra phía trước, đứng từ trong nhìn ra ngoài, ta thấy mặt trong phía trước có một hoành phi với 3 chữ HIỆP THIÊN CUNG bằng chữ Quốc Ngữ, bên dưới là đôi câu đối 4 chữ :

 

 廣種福田,    Quảng chủng phước điền,

                   為善最樂。    Vi thiện tối lạc.
Có nghĩa :
          Cố gắng mà trồng cho rộng ra cái mảnh ruộng phước đức, và nên hiểu rằng...
          Làm việc thiện là điều vui vẻ nhất trên đời.

          Và đôi câu đối 2 bên là :


                  帝錫龍章開泰運,    Đế tích long chương khai thái vận,
                  千秋神武見英風。    Thiên thu thần võ kiến anh phong.
Có nghĩa :
             Cờ của vua ban cho các Đại tướng đi chinh phạt (  Đế tích long chương : ở đây chỉ cờ của Quan Thánh Đế Quân ) mở ra thời vận lớn,
             Cái thần uy và võ dũng của Ngài, ngàn thu sau vẫn còn mang phong độ anh hùng.

    

            Ở sát mặt trong của cửa ra vào, còn có một hoành phi với 4 chữ :


                            萬物並育    Vạn vật tịnh dục
Có nghĩa :
               Muôn vật muôn loài cùng nhau phát triển mà không xâm hại lẫn nhau.

      

DCD_HTCung_DuThien.jpg

Ngoài ra,ta còn thấy rải rác các hoành phi trong chính điện như :


                           與天地參    Dữ thiên địa tham
Có nghĩa :
               Bất cứ việc gì cũng phải kết hợp giữa Trời Đất và Con Người, thì mới thuận lý tự nhiên, như ta thường nói phải có " Thiên thời địa lợi và nhân hòa vậy !".


                           義炳乾坤   Nghĩa bỉnh càn khôn
Có nghĩa :
               Cái nghĩa khí tràn đầy cả vũ trụ, trời đất (càn khôn).

 

 浩氣配天   Hạo khí phối thiên

Có nghĩa :
               Cái chí khí to lớn đến có thể  phối xứng ngang bằng với trời.


                           氣壯山河   Khí tráng sơn hà
Có nghĩa :
               Cái hào khí có thể làm cho núi sông trở nên hùng tráng hơn.

      Phía bên trái thờ Phước Đức Chánh Thần, còn có các hoành phi sau :


                        * 人民福地    Nhân dân phước địa
Có nghĩa :
                Đây chính là nơi đất Phước của nhân dân.




                        * 大義聯光    Đại nghĩa liên quang
Có nghĩa :
               Cái nghĩa lớn sáng cả các thần có liên quan với nhau ( chỉ cả Quan Thánh Đế Quân, Phước Đức Chánh Thần và Thiên Hậu Nguyên Quân ).

 

           Phía bên phải của chánh điện thờ bà Thiên Hậu với các Hoành phi :


                        * 聖德如天   Thánh đức như thiên
Có nghĩa :
                Cái đức của ông Quan Thánh ngang bằng như là Trời vậy !


                       * 至大至剛    Chí Đại Chí Cương
Có nghĩa :
     CHÍ : là Đến cùng, là hết mức.
     ĐẠI : là Chính Đại quang minh.
     CƯƠNG : là Cương Trực ngay thẳng. Nên...
    CHÍ ĐẠI CHÍ CƯƠNG là Quang minh chính đại tới cùng, Cương trực ngay thẳng tới cùng !

DCD_HTCung_Chidai.jpg DCD_HTCung_Thanhduc.jpg 

 


Chí Đại Chí Cương    Thánh đức như thiên

        Dười đây là hai hình ảnh, một ban ngày một ban đêm của Hiệp Thiên Cung được trang hoàng rực rỡ để đón Tết Mậu Tuất 2018.
       DCD_HTCung_Mattien.jpg

          Mặt tiền Hiệp Thiên Cung tết Mậu Tuất 2018

            DCD_HTCung_HTCungatnight.jpg 

     Cảnh đêm : Mặt tiền Hiệp Thiên Cung tết Mậu Tuất 2018

     Trên đây là tất cả các câu đối, hoành phi đã đọc thấy được trong Chùa HIỆP THIÊN CUNG Quận CÁI RĂNG, Phường LÊ BÌNH, Thành phố CẦN THƠ. Chép ra đây để cùng tìm hiểu, chiêm nghiệm và đọc chơi tiêu khiển khi trà dư tửu hậu.


                                                                                              Đỗ Chiêu Đức
                                                                                                 kính bút
                                                                                         Xuân Mậu Tuất 2018

 

THỔ là ĐẤT

                        

DCD_Tho.jpg

 

                                           

          THỔ 土 là ĐẤT, đất là ĐỊA 地, trong chữ Địa có Bộ Thổ, nên Địa cũng là Đất. Ta có từ kép Thổ Địa 土地 là Đất Đai. Thổ cũng thuộc một trong 214 bộ của CHỮ NHO... DỄ HỌC, theo diễn tiến của chữ viết như sau :


          
Giáp Cốt Văn      Kim Văn        Đại Triện       Tiểu Triện     Lệ Thư

 

               DCD_Tho_2.jpg

Ta thấy :
         Từ Giáp Cốt Văn cho đến Đại Triện đều là hình tượng của một mô đất trên mặt đất, nên Thổ vừa là chữ Tượng Hình vừa là chữ Chỉ Sự, chỉ một đống đất trên mặt đất, đến Tiểu Triện thì các nét mới được kéo thẳng ra thành biểu tượng của chữ viết, cho đến Chữ Lệ thì mới hoàn chỉnh như chữ viết hiện nay THỔ 土 là ĐẤT.

 

         Có tất cả 463 chữ được ghép bởi bộ Thổ nầy để chỉ những gì có liên quan đến Thổ là Đất. Ta có các từ về Thổ là Đất rất lý thú và cũng không kém phần rắc rối như sau :


  - Thổ Địa 土地 : là Đất Đai, chỉ tất cả các loại đất trên đời nầy.
  - Thổ Nhưỡng 土壤 : cũng là Đất Đai, chỉ tất cả các loại đất dùng để trồng trọt.
  - Thổ Cư 土居 : chỉ tất cả các loại đất dùng để ở.
  - Thổ Canh 土耕 : là tất cả các loại Đất dùng để canh tác, làm ruộng.
  - Thổ Trạch 土宅 : là tất cả các loại Đất dùng để cất nhà ở, biệt thự.
  - Thổ Mộ 土墓 : là tất cả các loại Đất dùng để chôn cất người trong gia tộc, còn gọi là Đất Hương Hỏa, là đất dùng để lo nhang đèn hương khói cho người thân đã chết.   

 

          Theo Tử Vi đẩu số ta còn có 6 loại đất sau đây :


  * Lộ Bàng Thổ 路旁土 : Đất bên đường.
  * Thành Đầu Thổ 城頭土 : Đất đầu thành.
  * Ốc Thượng Thổ 屋上土 : Đất trên mái nhà.
  * Bích Thượng Thổ 壁上土 : Đất trên vách.
  * Đại Trạch Thổ 大澤 土 : Đất trong đầm lầy lớn.
  * Sa Trung Thổ 沙中土 : Đất trong cát.
    và...
           Mặc dù Mộc khắc Thổ, cây cối mọc lên hút hết chất bổ của đất làm cho đất trở nên cằn cỗi, và cây gỗ để ở dưới đất lâu ngày sẽ bị đất làm cho mục nát hết. Cái nầy kêu bằng tương khắc với nhau, nhưng...
           Lộ Bàng Thổ (đất ven đường), Đại Trạch Thổ (Đất trong đầm lầy lớn) và Sa Trung Thổ (Đất pha cát) không sợ Mộc, vì cây không sống giữa đường cái quan hay trên bãi cát, đầm lầy. Cả ba hành Thổ này nếu gặp Mộc không khắc dù Mộc khắc Thổ, trái lại còn có đường công danh, tài lộc thăng tiến không ngừng.

          Thành Đầu Thổ (Đất đầu thành), Bích Thượng Thổ (Đất trên vách) và Ốc Thượng Thổ (Đất mái nhà) đều sợ Mộc, nhất là Tang Đố Mộc, Thạch Lựu Mộc, như thân tự chôn xuống mộ. Ba hành Thổ này tuy không sợ Bình Địa Mộc, Đại Lâm Mộc, Tùng Bách Mộc nhưng không bền vững vì hình kỵ.

               DCD_Tho_3.jpg

               
    
Thổ là Đất, giá trị của đất tăng theo tỉ lệ thuận với số lượng của đất, chưa có một vật chất nào có giá trị từ số không, rồi sau đó cứ tăng dần đến vô tận như đất cả ! Hốt một nắm đất cho không, không ai thèm lấy cả, mặc dù họ không có đất để cắm dùi, nhưng nếu cho một vuông đất để che chòi ở, để cất nhà, thì không ai nở... từ chối cả ! Và cứ thế tăng dần, một công đất để trồng rẩy, một mẫu đất để cày ruộng... cho đến một xã, một làng, một huyện, một tỉnh, một nước... giá trị của đất cứ tăng mãi đến vô cực là... Trái Đất, là cả Quả Địa Cầu nầy !  

 

        Ông bà ta nói:
                   Tiền tài như phân thổ,        錢財如糞土,
                   Nhân nghĩa trị thiên kim.    仁義值千金。
Có nghĩa :
            Tiền của tài sản như phân như đất,
            Nhân nghĩa mới đáng giá ngàn vàng.
là ý ông bà muốn đề cao nhân nghĩa mà xem nhẹ tiền tài, tiền tài chỉ như phân như đất mà thôi, cũng như lời cô Kiều đã nói với Kim Trọng khi biết Kim đã nhặt được chiếc kim thoa của mình :


                         Chiếc thoa là của mấy mươi,
                  Mà lòng trượng nghĩa khinh tài xiết bao !

 

         Nhưng người đời thường xem trọng kim tiền hơn nhơn nghĩa, nên câu nói trên còn được sửa lại một cách mĩa mai như sau :


                      Tiền tài như... ông tiên tổ,
                      Nhơn nghĩa tợ... cục cứt khô !


         Ông bà ta lại dạy rằng : " Tấc đất là tấc vàng " để con cháu biết quý trọng cái cuộc đất mà ta đang sở hữu, nếu biết sử dụng đất một cách thích đáng, biết bỏ công sức lao động canh tác trồng trot, thì " tấc đất sẽ cho một tấc vàng " như chơi mà thôi !


        Nhớ khi xưa cái miếu Thổ Địa ở đầu làng quê tôi có đôi câu đối như sau :

 

                     THỔ năng sanh bạch ngọc,       土能生白玉,
                     ĐỊA khả xuất hoàng kim.          地可出黃金。
Có nghĩa :
               Đất có thể sanh ra ngọc trắng, và 
               Đất cũng có thể cho ra vàng ròng !


       Hạt ngọc trắng ở đây chính là hạt gạo trắng ngần đã nuôi sống chúng ta hàng ngày, còn vàng ròng sẽ có được nếu chúng ta chịu cày sâu cuốc bẫm. Đất chẳng những cho ta chỗ ở, cho ta việc làm, còn cho ta cái ăn cái mặc nữa, nên ông bà ta rất coi trọng đất và luôn quan niệm rằng : " Đất có Thổ Công, sông có Hà Bá ". Thổ Công là ông thần đất, còn được gọi là Thổ Thần, nên khắp cả các thôn làng, nơi nào cũng có Thổ Công của nơi đó, và ông thần đất nầy cũng luôn luôn được cúng tế đầy đủ ở bất cứ lễ lạc nào. Trong Truyện Kiều tả lúc Bạc Hạnh thành thân với cô Kiều, cụ Nguyễn Du cũng đã viết :    

               
                                Bạc sinh qùy xuống vội vàng,
                      Qúa lời nguyện hết Thành Hoàng Thổ Công.


                               
Câu đối thường thấy nhất của các miếu Thổ Thần ở vùng Nam Kỳ Lục Tỉnh quê tôi là :


                       土旺人從旺,     Thổ vượng nhân tòng vượng,
                       神安宅自安。     Thần an trạch tự an.
Có nghĩa :
             Đất có vượng thì người cũng sẽ vượng theo, và...
             Thần có được yên ổn, thì nhà cũng sẽ tự nhiên được yên ổn mà thôi !

 

       Thổ ngoài nghĩa là Đất ra, còn có nghĩa là : Cái gì đó thuộc về bản xứ, bản địa. Ta quen miệng gọi là đồ lô-can (local). Bây giờ thì Thổ được sử dụng như là một Hình Dung Từ (Tính Từ), như :


  - Thổ Dân 土民 : Dân cố hữu của một địa phương hay của một vùng nào đó. Ví dụ : Thổ Dân của Châu Mỹ là những Bộ tộc mọi Da Đỏ chẳng hạn...
  - Thổ Sản 土產 : là Đặc sản riêng của một vùng nào đó , Như Thổ Sản của Lái Thiêu là Sầu Riêng chẳng hạn...

  - Thổ Cẩm 土錦 : là Gấm được dệt ở địa phương, là Gấm nội hóa.
  - Thổ Âm 土音 : là Tiếng nói và Âm sắc riêng của địa phương nào đó. Như Giọng Bắc, Giọng Huế, Giọng Nam của ta vậy...
  - Thổ Hào 土豪 : là Cường hào ác bá ở địa phương.
  - Thổ Phỉ 土匪 : là các phe nhóm băng đảng cướp bóc ở địa phương.
  - Thổ Công 土公 : là Ông Thần Đất của địa phương nào đó như ta đã nói ở trên...

  - Thổ Quan 土官 : là Ông quan ở địa phương, như Trưởng thôn, Trưởng Làng, hay cao hơn là Tri Châu, Tri Huyện... Như trong Truyện Kiều, Hồ Tôn Hiến sau khi ngủ với cô Kiều một đêm rồi sợ mang tiếng " Quan trên ngó xuống người ta trông vào ", nên sáng ngày mới ép nàng lấy Thổ Quan : 


                             Lệnh quan ai dám cãi lời,
                      Ép tình mới gán cho người Thổ Quan.

 

        Thổ còn là cái Phong Thổ 風土, là phong thủy thổ nhưỡng, phong tục tập quán, là nếp sống của một địa phương nào đó, mà người ta thường gọi là Phong Thổ Nhân Tình 風土人情, Đi đến đâu, ta cũng phải tìm hiểu cái phong thổ nhân tình của nơi đó để dễ dàng hòa nhập vào nếp sống của địa phương đó.

       Ngoài Phong Thổ, ta còn có Thủy Thổ 水土, là Nước và Đất của một nơi nào đó kể cả khí hậu thời tiết nắng mưa của nơi đó luôn. Nếu không hợp với Thủy Thổ của nơi đó sẽ làm cho con người sanh ra bệnh hoạn, súc vật thì gầy còm, cây cỏ thì èo ọt... như câu chuyện ứng đối lý thú của Tướng quốc nước Tề với vua nước Sở thời Xuân Thu Chiến Quốc như sau :

      
       Yến Anh 晏嬰, còn được gi là Án Anh, người đời sau tôn trng ông, nên còn gi là Án T, ông sinh năm 578 TCN Sơn Đông, mt năm 501 TCN Truy Bác, t Bình Trng là mt nhân vt lch s ni tiếng, sng và làm quan hai triu vua T Trang Công và T Cảnh Công thời Xuân Thu Chiến Quốc. Ông có dáng thấp nhỏ như đứa bé, nhưng có trí tuệ thông minh và là một vị quan có tài ứng đối giỏi của nước Tề.

       Một lần Án Tử vâng lệnh vua Tề đi sứ sang nước Sở. Vua Sở định làm nhục để thử tài của Án Tử, nên sau khi ban rượu, thì cho lính dẫn một người bị trói đi ngang qua. Vua Sở mới hỏi là người đó phạm tội gì ? Lính đáp, đó là một người ở nước Tề, phạm tội ăn trộm ngựa. Vua Sở bèn cười mà quay sang hỏi Án Tử là : " Người nước Tề hay ăn trộm lắm hay sao ? ". Án Tử mới đứng dậy chắp tay thưa rằng : " Thần nghe nói, cây quít trồng ở phương bắc thì cho trái to và ngọt, nhưng khi đem trồng ở phương nam thì lại cho trái nhỏ và chua, là bởi vì đâu ? Đó là đều do Thủy Thổ mà ra cả ! Nay người nước Tề ở nước Tề thì không trộm cắp, sang qua ở nước Sở lại sinh ra trộm cắp, thần nghĩ chắc cũng do cái Thuỷ Thổ bất đồng mà sinh ra như thế chăng ?! ". Vua Sở cười rằng : " Ta vì muốn nói chơi mà bị nhục ! ". Thế mới biết kẻ cả không nên nói chơi bao giờ !

 

                      Thổ là Đất, mà đất còn là quê hương đất nước. Cố Thổ 故土 là Cố Hương 故鄉, là quê cũ, quê xưa, quê nhà , là Cố Quốc 故國, là nơi chôn nhau cắt rốn, là nơi mà ta được sinh ra và lớn lên, như trong bài Độ Long Vĩ Giang 渡龍尾江 của cụ Nguyễn Du :


                    故國回頭淚,   Cố quốc hồi đầu lệ, 
                    西風一路塵。   Tây phong nhất lộ trần.
Có nghĩa :
                        Ngoảnh đầu quê cũ lệ rơi,
                   Dọc đường cát bụi tơi bời gió tây.


         Ngoảnh đầu trông lại quê hương mà khôn ngăn hai hàng lệ nhỏ. Lại thêm gió tây thổi suốt dọc đường gió bụi. Vừa qua khỏi sông Long Vĩ thì thân ta đã là người tha hương rồi... Trong Truyện Kiều, tả lúc Hoạn Thư bắt Kiều về làm nô tì, nguyễn Du đã viết :

 

                        Lâm truy chút nghĩa đèo bòng,
                        Nước non để chữ tương phùng kiếp sau.
                        Bốn phương mây trắng một màu,
                        Trông vời Cố Quốc biết đâu là nhà.


... và như lời than của một cung nhân đời Đường qua lời thơ của Trương Hỗ 張祜 là :


                   Cố quốc tam thiên lý,          故國三千里,
                   Thâm cung nhị thập niên.    深宮二十年.
Có nghĩa :
                   Quê cũ ba ngàn dặm,
                   Thâm cung hai mươi năm !


        Cách xa quê hương ba ngàn dặm và bị nhốt trong cung hai mươi năm thì còn gì là tuổi xuân nữa ! Trông người lại ngẫm đến ta, chúng ta đã lưu vong ở Mỹ trên bốn mươi năm và cách xa quê hương trên hai mươi ngàn dặm, chỉ còn đợi gởi nắm xương tàn nơi " Ngoại Thổ 外土" mà thôi !

 

        Theo Ngũ hành Sinh khắc thì Thổ khắc Thủy, có nghĩa là Đất khắc chế được Nước. Nói theo binh pháp ngày xưa là Binh đến thì Tướng ngăn, Nước đến thì Đất ngăn như cụ Đào Duy Từ  đã khuyên Chúa Sãi không nhận sắc phong của vua Lê do Chúa Trịnh áp đặt, với diễn tiến câu chuyện như sau :

 

      Năm 1627, chúa Trịnh Tráng muốn lấn vào Nam bèn sai Nguyễn Khắc Minh đi sứ, mang tiếng là phong tước cho chúa Nguyễn nhưng đồng thời cũng để dò xét tình hình đàng trong. Lúc bấy giờ Đào Duy Từ là Tham Tán bèn khuyên chúa Nguyễn che giấu lực lượng và tạm nhận phong để hòa hoãn với chúa Trịnh. Chúa Trịnh cũng đồng thời đòi chúa Nguyễn cho con ra Bắc chầu, nộp 30 voi đực và 30 chiến thuyền để đi cống nhà Minh bên Trung Quốc, Duy Từ khuyên là không  thực hiện rồi bày kế cho chúa Nguyễn đắp lũy Trường Dục để phòng thủ, với ý là Binh đến thì Tướng ngăn, Nước đến thì Đất ngăn . Chúa Nguyễn nghe theo và thực hiện ngay.

       Về việc sắc phong, vào năm 1630 Duy Từ cho người làm một cái mâm đồng hai đáy bên trong đựng sắc của chúa Trịnh, trên phủ lụa vàng rồi sai Trần Văn Khuông đi sứ. Trần Văn Khuông theo lời Duy Từ dặn dò, đối đáp, dâng mâm cho chúa Trịnh, rồi kiếm cớ trốn về. Chúa Trịnh thấy sứ đoàn vội vã đi về, sinh nghi, bèn cho lục mâm đồng thì thấy tờ sắc của mình trước đó còn có kèm theo một bài thơ như sau :


                  Mâu nhi vô dịch,          
矛而無剔,

                  Mịch phi kiến tích.        覔非見迹.

                  Ái lạc tâm trường,        愛落心腸,

                  Lực lai tương địch!        力來相敵 !

Có nghĩa :

                Cây mâu mà không đâm, không khều.

                Tìm mãi mà không thấy tung tích gì cả.

                Thương đến nỗi rớt cả lòng dạ ruột gan.

                Nếu dùng sức mạnh đến đây, thì sẽ đối địch với nhau mà thôi !


         Cả triều không ai hiểu là ý muốn nói gì ?!. Giai thoại kể rằng :

         Chúa Trịnh cho mời Phùng Khắc Khoan (1528 -1613, trong khi sự kiện này xảy ra năm 1630 nên không chính xác) đến hỏi thì mới vỡ lẽ, trong chữ Hán cổ, chữ MÂU  viết không có dấu phết thì thành chữ DƯ , nghĩa là ta; Chữ MỊCH  mà bỏ chữ KIẾN  chỉ còn lại chữ BẤT  nghĩa là không. Chữ ÁI   nếu viết thiếu chữ TÂM  thì ra chữ THỤ nghĩa là nhận.  Chữ LỰC   ghép với chữ LAI  sẽ thành chữ SẮC   là sắc phong. Ghép 4 chữ của bốn câu trên lại ta có câu :

      Dư Bất Thụ Sắc 予 不 受 勑 ( Có nghĩa là : Ta không nhận sắc phong ). Chúa Trịnh hiểu ý là Chúa Nguyễn trả lại sắc phong, nổi giận, cho người đuổi theo sứ đoàn của Chúa Nguyễn, thì cả sứ đoàn của Trần Văn Khuông đã đi xa rồi !

      Chuá Trịnh cả giận cử binh hỏi tội, nhưng đụng phải lũy Trường Dục của Đào Duy Từ, nên bị Chúa Nguyễn đánh cho thua chạy tơi bời ! 

                                            DCD_DaoDuyTu.jpg 

             Đào Duy Từ được tiếng là nhà chính trị quân sự, vừa là thầy giáo, vừa là bậc khai quốc công thần lớn nhất của 9 đời Chúa Nguyễn và 13 đời vua nhà Nguyễn, trong khi Gia Cát Lượng chỉ phò trợ có 2 đời Thục Hán mà thôi !

 

         Thổ là Đất, mà Đất còn là Nước, ta có từ kép Đất Nước để chỉ Lãnh thổ 領土 của một quốc gia, còn được gọi là Quốc Thổ 國土, Cương Thổ 疆土 là phần đất ở sát biên cương với nước láng giềng mà ta có được, nói theo lịch sử của thời phong kiến, thì đó là Hoàng Triều Cương Thổ 皇朝疆土 là đất của vua , đất của triều đình. Hoàng Triều Cương Thổ lớn nhất, mở mang nhất nước ta là dưới thời vua Minh Mạng, tiêu diệt và đồng hóa Chàm (Champa), lấn chiếm Chân Lạp (Campuchia), sát nhập đất Phù Nam (Hà Tiên, Rạch Giá, Cà Mau) để có được bản đồ hình cong chữ S như hiện nay. Nên, không có Đất là không có Nước, dân không có đất là dân vong quốc, chính quyền không có đất là chính quyền lưu vong, sẽ không làm nên trò trống gì cả ! Từ đó cho thấy ĐẤT quan trọng biết chừng nào ! Nhưng, nếu chính quyền lưu vong mà lập quốc được như dân Do Thái, thì chữ Nho gọi là "Quyển thổ trùng lai 卷土重來" Có nghĩa là : Cuốn đất mà trở lại, theo như ý của bài thơ thất ngôn tứ tuyệt "Đề Ô Giang Đình 題烏江亭" của Đỗ Mục khi đến bến Ô Giang nơi mà Hạng Võ Sở Bá Vương đã tự sát :


              勝敗兵家事不期,     Thắng bại binh gia sự bấtkỳ
              包羞忍恥是男兒.       Bao tu nhẫn sĩ thị nam nhi
            江東子弟多才俊,     Giang Đông tử đệ đa tài tuấn
              捲土重來未可知。     Quyển thổ trùng lai vị khả tri !

Có nghĩa :
                   Thắng bại chuyện binh ai biết trước ,
                   Làm trai nhịn nhục cứ dửng dưng.
                   Giang Đông tuấn kiệt còn đầy rẫy,
                   Cuốn đất làm nên chửa biết chừng !


        
                Ý của Đỗ Mục là : Nếu như Hạng Võ cố chịu nhục mà về Giang Đông chiêu mộ thêm anh tài 

DCD_Israel.jpg

còn đầy rẫy nơi đó mà phất cờ đánh lại Lưu Bang, thì chưa biết chừng đã làm nên cơ nghiệp lớn ! Cũng như Nhà nước Israel hiện đại đã được hoàn thành năm 1948 sau hơn 60 năm nỗ lực của các nhà lãnh đạo phái Zion (Chủ nghĩa lập quốc Do Thái) nhằm thiết lập chủ quyền và quyền tự quyết trên một Tổ quốc Quốc gia Do Thái vậy.

                Thổ là Đất, Nhất Phầu Hoàng Thổ 一抔黃土 là Một nấm đất vàng, thường dùng để chỉ một nấm mộ, nhất là những nấm mộ hoang như của Đạm Tiên :


                              Xè xè nấm đất bên đường,
                       Dàu dàu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh.


          Còn sống thì phong lưu tiêu sái, hương trời sắc nước, nguyệt thẹn hoa nhường hay sự nghiệp lẫy lừng, danh vang bốn bể, anh hùng cái thế ... Nhưng khi chết đi rồi thì tất cả cũng đều vùi chôn dưới một nấm đất vàng ô trọc mà thôi ! Nên chi, Tào Tuyết Cần mới cho người đẹp u sầu muôn thuở Lâm Đại Ngọc chôn xác hoa rơi với " Nhất Phầu Tịnh Thổ 一抔淨土 " là một nấm đất tinh khiết không ô nhiễm bụi trần :

          Người đẹp Lâm Đại Ngọc 林黛玉 trong Hng Lâu Mng 紅樓夢 ca Tào Tuyết Cn 曹雪芹, là người đẹp đa su đa cm đa tài, rt gii v văn thơ đã thương khóc cho nhng cánh hoa rơi như thương cho thân phn ca chính mình, ri chôn hoa, ri ngâm thơ điếu hoa hn hoi vi bài TÁNG HOA NGÂM 葬花吟 vi nhng li thơ tht đẹp như sau :


              ... 願儂此日生雙翼﹐      Nguyện nông thử nhật sanh song dực,
                  隨花飛到天盡頭         Tùy hoa phi đáo thiên tận đầu.
                  天盡頭!何處有香丘﹖Thiên tận đầu ! Hà xứ hữu hương khâu ?
                  未若錦囊收艷骨         Vị nhược cẩm nang thu diễm cốt,
                  一抔淨土掩風流﹐      Nhất phầu tịnh thổ yễm phong lưu !...

Có nghĩa :
        Ước gì hôm nay ta chắp được đôi cánh, để cùng với các cánh hoa rơi bay đến tận cuối chân trời. Ở nơi cuối chân trời kia, không biết là nơi đâu có mồ hoa thơm đẹp. Ta chưa kịp may túi gấm để thâu táng thân xác đẹp đẽ của hoa, thôi thì đành mượn một nắm tịnh thổ để vùi chôn một kiếp phong lưu diễm lệ !...
       Lục bát :
                   .... Theo hoa bay đến cuối trời,
                  Chắp đôi cánh đẹp rạng ngời như hoa.
                        Cuối trời xa, cuối trời xa !...
                   Tìm hương mộ đẹp la đà xác thơm.
                        Chưa may túi gấm chiều hôm,
                   Vùi nông một nắm tủi hờn phong lưu !...
              

                 Người xưa để lại một câu nói ý vị sâu xa để khuyên răn người đời là :


                        Đản tồn phương thốn thổ,      但存方寸土,
                        Lưu dữ tử tôn canh.               留與子孫耕。
Có nghĩa :
           Làm sao cũng phải chừa lại một tấc đất nào đó, để cho con cháu sau nầy có đất mà canh tác.


       Một tấc Ta ngày xưa chưa bằng được ba phân Tây bây giờ, thế thì một tấc đất làm sao mà canh tác ?! À, thì ra câu nói còn có " ý tại ngôn ngoại ". Đất là một thực thể chứng minh cho sự sở hữu ngày xưa, ai chiếm hữu đất nhiều thì người đó sẽ giàu có, sẽ là chủ đất đầy quyền uy. Nên đất được mượn để chỉ mọi vật chất qúy giá và khi dùng rộng ra thì chỉ cả những giá trị tinh thần nữa. Như câu "Quảng chủng phước điền 廣種福田" có nghĩa : Trồng cho rộng ra mảnh ruộng phước đức. Ruộng Phước đức không phải là mảnh ruộng có thật, mà là muốn khuyên ta nên làm nhiều chuyện phước để "để đức" lại cho con cháu. Nên câu nói " Đản tồn phương thốn thổ, lưu dữ tử tôn canh " có ý khuyên ta :


   - Làm việc gì đó, đừng qúa cạn tàu ráo máng, đừng qúa tuyệt tình, hãy chừa một chút gì đó để lại cho con cháu về sau. Như đừng qúa cậy thế hiếp người, đừng ví người khác vào bước đường cùng, hãy chừa cho người ta một con đường sống, biết đâu sau nầy cũng vì thế mà con cháu ta cũng được người khác niệm tình mà tha cho con đường sống như thế.

 

   - Đừng sử dụng hết những uy tín, tín dụng mà mình có được, phải biết chừa lại cho con cháu. Ví dụ như : Ta dùng uy tín và sự tín dụng của mình để lừa hết người nầy đến người khác để thủ lợi, thì con cháu sau nầy sẽ bị mang tiếng là "Con cháu của tên lừa đão", chẳng những mọi người không chịu kết giao giúp đỡ, mà còn không tin tưởng để giao phó công việc nữa. Con cháu sẽ không còn "chút đất nào để cày bừa" nữa cả !


     Nói theo trào lưu trước mắt là :
   - Phải biết yêu qúi và bảo vệ môi trường sống trước mắt, đừng quá phung phí không khí trong lành mà phải biết tiết chế để chừa lại phần nào môi trường và không khí trong sạch cho con cháu sau nầy !

     Nói theo bình dân mà ông bà ta thường nhắn nhủ : "Làm việc gì đó phải cho có hậu". Đừng làm việc đoản hậu, mà phải biết chừa cái hậu cho con cháu sau nầy. Đó là tất cả những gì mà cổ nhân đã gói ghém trong câu : " Đản tồn phương thốn thổ, lưu dữ tử tôn canh " là thế !

 

        

DCD_CungOan.jpg

Bà con vùng đồng bằng sông Cửu Long thường hay nói chơi với nhau rằng : " Làm cho lắm tắm cũng ở truồng !". Ý muốn nói dù cho thị phi thành bại gì hễ nhắm mắt buông xuôi thì đều "Nhập thổ vi an 入土為安" mà không thể mang theo thứ gì cả, như "tắm" thì làm sao mà "mặc đồ" cho được ! Bôn ba vất vả một đời, cuối cùng thì cũng đành chịu vùi sâu dưới ba tấc đất. Con người sống nhờ đất, chết lại về với đất, và cứ thế mà luân hồi mãi như Nguyễn Gia Thiều đã nói trong Cung Oán Ngâm Khúc:

 

                           Tuồng huyễn hóa đã bày ra đấy, 
                      Kiếp phù sinh trông thấy mà đau.

                           Trăm năm còn có gì đâu,
                    Chẳng qua một nắm cổ khâu xanh rì !

 

 

Xin được kết thúc bài phiếm luận " Thổ là Đất " ở nơi đây, và để thực hiện câu :


                           Đản tồn phương thốn thổ,     但存方寸土,
                           Lưu dữ tử tôn canh.              留與子孫耕。

     
xin mọi người hãy hỏa thiêu thân xác sau khi chết, để chừa lại tấc đất và môi trường sạch cho con cháu sau nầy!


                        Mong lắm thay !

Đỗ Chiêu Đức       

 

                                   HỎA là LỬA

                                                                DCD_Hoa.jpg

 

     Theo Phật giáo, cơ thể con người là do Tứ Đại : Phong Thủy Hỏa Thổ, tức là Đất Nước Gió Lửa kết hợp lại mà thành, nên bản thân con người đã có một phần tư là lửa ở trong đó rồi, ngọn lửa đó cứ âm ỉ mãi trong ngũ tạng lục phủ tạo nên sự ham muốn mãnh liệt mà ta gọi là Lửa Dục Vọng. Trong văn chương Phật giáo thì gọi nhẹ nhàng hơn : Lửa Lòng. Như cụ Nguyễn Du đã diễn tả tâm trạng của Thúy Kiều khi tu ở Quan Âm Các :


                                Cho hay giọt nước cành dương  
                         Lửa Lòng tưới tắt mọi đường trần duyên ...


và như lời của Thúy Kiều đã phân bua với Vương Viên Ngoại khi ông muốn nàng từ giả sư Giác Duyên để theo mọi người về nhà đoàn tụ :


                                 Sự đời đã tắt Lửa Lòng,
                         Còn chen vào chốn bụi hồng mà chi ?!

 

       " Tắt Lửa Lòng " còn là một tiểu thuyết tình cảm lãng mạn nổi tiếng của nhà văn Nguyễn Công Hoan, được giới thiệu lần đầu tiên vào năm 1933. Tác phẩm này nhanh chóng trở nên phổ biến, và rất nhiều người chuyển thể thành các vở kịch nói, phổ nhạc... trong số đó phải kể đến Soạn giả Trần Hữu Trang đã biên kịch lại và chuyển thể thành vở cải lương năm 1936 với tên của 2 nhân vật đi vào huyền thoại kịch nghệ Việt Nam là " Lan và Điệp ". Chuyện tình " Lan và Điệp "của Việt Nam ta có thể sánh ngang với chuyện tình " Lương Sơn Bá và Chúc Anh Đài " của Trung Hoa xưa, và còn có phần vượt trội hơn về mặt bình dân, được phổ biến rộng rãi trong mọi tầng lớp quần chúng nhân dân. Nhớ khi xưa, yêu một cô bạn cùng trường, tôi cũng lấy chuyện tình Lan và Điệp để ví dụ :


                         Anh với em như Điệp với Lan,
                         Thanh mai trúc mã đẹp muôn vàn.
                         Vỏ vẻ thơ Đường anh đọc thấy,
                         Chuyện mình sao giống khúc Trường Can...


    Chả trách mối tình đầu học sinh tan vỡ theo khói mây như bao mối tình đầu khác !

                                           dcd_ngconghoan.jpg 

 

                  Trong Cung Oán Ngâm Khúc Nguyễn Gia Thiều cũng đã gọi ngọn lửa âm ỉ đốt trong lòng người cung nữ là Tâm Hỏa với các câu :


                        Ngọn tâm hỏa đốt dàu nét liễu, 
                        Giọt hồng băng thấm ráo làn son. 
                        Lại buồn đến cảnh con con, 
                        Trà chuyên nước nhất, hương đùn khói đôi !

 

         Trong Truyện Kiều, cụ Nguyễn Du cũng mượn chữ Tâm Hỏa nói thành "Lửa Tâm" để tả ngọn lửa ghen tuông trong lòng của Hoạn Thư là:


                        Lửa Tâm càng dập càng nồng,
                  Trách người đen bạc ra lòng trăng hoa.

                        Ví bằng thú thật cùng ta,
                  Cũng dung kẻ dưới mới là lượng trên !

 

 

           Hỏa là Lửa, và là chữ Tượng Hình của một trong 214 bộ của Chữ Nho... Dễ Học, theo diễn tiến của chữ viết như sau :
 

               Giáp Cốt văn         Đại Triện          Tiểu Triện          Lệ Thư

                   DCD_Hoa_3.jpg

Ta thấy :
           Giáp Cốt Văn là hình tượng của một ngọn lửa được vẽ cách điệu để tượng trưng cho lửa, qua Đại Triện, Tiểu Triện dần dần diễn tiến thành chữ viết, cho đến Chữ Lệ thì đã định hình giống như chữ viết hiện nay HỎA 火 là LỬA. Có tất cả 407 chữ được ghép bởi bộ Hỏa nầy để chỉ những gì có liên quan tới Lửa như đèn đóm đuốc nến, nóng nực sáng sủa, nấu nướng chiên xào ... đều thuộc bộ Hỏa cả , Cho thấy là Lửa quan trọng biết bao trong đời sống của chúng ta.


         Lửa cháy đỏ rực, hừng hực với ngọn lửa đỏ bốc cao là Dương Hỏa, còn lửa cháy âm ỉ với ngọn lửa xanh dịu dàng chập choạng là Âm Hỏa. Nhưng dù âm dù dương thì lửa vẫn cho ánh sáng và sức nóng có thể thiêu đốt hoặc làm thay đổi hình dạng của những vật chất khác, kể cả Vàng cũng bị chảy thành chất lỏng, mặc dù ông bà ta nói " Vàng thật không sợ lửa ", cũng là để chỉ màu sắc của vàng không hề bị suy suyển mà thôi.

 

                    DCD_Hoa_4.jpg

                      Thiên Thượng Hỏa              Tích Lịch Hỏa 

 

         Theo Tử Vi đẩu số thì có 6 hình thức lửa, đó là : Thiên Thượng Hỏa 天上火 là Lửa trên trời là Lửa của Mặt Trời, Tích Lịch Hỏa 霹靂火 là Lửa Sấm sét là Lửa của điện chớp, Sơn Đầu Hỏa 山頭火 là Lửa đầu núi là Núi lửa, Sơn Hạ Hỏa 山下火 là Lửa dưới núi là Lửa cháy rừng, Lô Trung Hỏa 爐中火 là Lửa trong lò là Lửa nấu ăn và Phúc Đăng Hỏa 覆燈火 là Lửa của cây đèn dầu là Lửa dùng để thắp sáng. Nên được chia làm hai nhóm :
      * Thiên Thượng Hỏa 天上火, Tích Lịch Hỏa 霹靂火, Sơn Đầu Hỏa 山頭火 thì không kỵ thủy, không sợ nước, có nước lại càng nổ lớn cháy lớn hơn.
      * Sơn Hạ Hỏa 山下火, Lô Trung Hỏa 爐中火, Phúc Đăng Hỏa 覆燈火 thì gặp nước, gặp mưa đổ xuống là tắt queo ngay !

 

        Theo thần thọai xưa thì Lửa có 2 nguồn gốc như sau :


       * Toại Nhân 燧人, hay Toại Nhân thị 燧人氏, là người sáng tạo ra lửa trong Thần thoại Trung Hoa cổ đại, có thuyết xưng ông là một trong Tam Hoàng Ngũ Đế. Theo Cao Đài từ điển, Toại là khoan gỗ lấy lửa, còn Nhân là người.
        Theo Sách Hàn Phi tử - Ngũ Đố chép rằng: " Thời thượng cổ, dân ăn quả, củ, thịt sống nên bị đau bụng, bệnh tật rất nhiều. Có thánh nhân bổ củi để lấy lửa nấu chín thức ăn, dân ca ngợi tôn làm vua trong thiên hạ, hiệu là Toại Nhân thị ". Nhờ có Toại Nhân, loài người có lửa, không còn đứng ngang hàng với cầm thú như trước nữa.

 

       * Chúc Dung 祝融, vốn tên là Trọng Lê 重黎, sáng tạo ra cách nấu qua vật cách nhiệt như: nồi đất, ấm đất, niêu đất; khiến món ăn có mùi vị và thơm ngon hơn, ông lại nghiên cứu ra các chất để khi cần là có lửa ngay mà khỏi phải dùi cây hay mài đá nữa. Ví dụ như ông ép dầu lạc (dầu phọng) tích trữ làm chất cháy, hoặc chế ra ngọn đuốc để có thể giữ lửa và di chuyển được trong bóng tối. Ông giữ chức Hỏa Chính cai quản về việc chế tạo và sản xuất lửa trong thiên hạ với danh hiệu là Chúc Dung 祝融, được dân gian truyền tụng như là một ông Thần Lửa sau Toại Nhân.

         Từ sau khi La Quán Trung viết quyển Tam Quốc Chí có nhân vật Chúc Dung Phu Nhân là vợ của Man Vương Mạnh Hoạch, thì lại có thuyết cho thần lửa Chúc Dung là phái nữ, và có lẽ vì thế mà ta có từ " Bà Hỏa " để chỉ lửa củi hỏa hoạn chăng ?! Sau PHONG DI là " Dì Gió ", ta còn có CHÚC DUNG là " Bà Hỏa " nữa, cho thấy từ ngàn xưa Phái Nữ đã không phải là phái yếu đuối tầm thường !

                 DCD_Hoa_5.jpg

       Toại Nhân thị 燧人氏      Chúc Dung 祝融    Bà Hỏa Chúc Dung   

   

        Theo Dịch Lý Bát Quái về âm dương ngũ hành thì NAM PHƯƠNG BÍNH ĐINH HỎA. Bính là Dương hỏa, Đinh là Âm hỏa và đều thuộc Phương Nam, ăn với mùa hè là mùa nóng nực nhất trong năm, mùa của " Lựu phun lửa hạ..." thích hợp với các loài hoa màu đỏ rực như Hoa  Phượng, Hoa Đỗ quyên, hoa Thạch lựu... và như cụ Nguyễn Du đã chuyển mùa trong Truyện Kiều khi ông cho cô Kiều đi tắm :


                             Dưới trăng quyên đã gọi hè,
                        Đầu tường lửa lựu lặp lòe đâm bông.

                             Buồng the phải buổi thong dong,

                        Thang lan rủ bức trướng hồng tắm hoa.       

 

           Hỏa là lửa, lửa chẳng những mang lại sự ấm áp, mang lại ánh sáng cho con người, mà còn đưa con người ra khỏi cảnh sống hoang sơ ăn lông ở lổ lúc ban đầu nữa. Lửa còn mang lại những niềm vui, hạnh phúc cho con người khi trời đông gía rét mà được quây quần bên bếp lửa hồng ấm cúng của gia đình như lời ca trong bài "Về Dưới Mái Nhà" của Y Vân và Xuân Tiên :


                     "...Người ơi, mau về đây, 
                         về bên bếp hồng tay cầm tay...

                         Cười lên chan chứa tươi làn môi ...

                         nhớ phút vui đêm nay !

và...

                      ...Nhà ai trong chiều nay
                         Lửa đêm đốt hồng vai kề vai
                         Và nghe câu hát yêu đời ai
                         Hát mãi sao không nguôi..."


... và cái " bếp hồng " ấm áp hạnh phúc kia theo mãi trong tâm thức của những con người tha phương cầu thực như chúng ta mãi mãi cho đến trọn đời :

               Ơi,... nỗi lòng chan chứa, 
               Hỡi người ơi ... biết sao cho vừa... tình thương... của bếp hồng soi !

và bâng khuâng ray rức thiết tha hơn với ...


                     ...Chiều nay mưa còn rơi
                        Chiều nay bếp hồng đang còn say
                        Chiều nay vui sống trong tình yêu.
                        Nhớ phút vui không nguôi.


                Nào ai xa ngàn nơi.
                Kìa bao mái nhà đang chờ ai
                Kìa bao bếp hồng đang còn tươi
                Thương nhớ lên đầy vơi..."


         Ôi, qủa là những lời ca ray rức, não nuột làm xúc động lòng người xa xứ !... Bài hát " Về Dưới Mái Nhà " đã ăn sâu vào tâm thức của tôi khi tôi vừa mới lớn, khoảng cuối thập niên năm mươi của Thế Kỷ trước, lúc Tổng Thống Ngô Đình Diệm mới về nước chấp chánh, nên... đến bây giờ định cư trên đất Mỹ nầy, lời của bài hát càng âm ỉ râm rang hơn làm ray rức mãi lòng người viễn xứ như tôi, nhất là vào những ngày cận Tết với trời đông gía lạnh.....

 

         Trong thi ca cổ cũng vẽ nên một bức tranh ấm áp của những người bạn xa quê tìm đến với nhau trong những đêm xuân cận Tết với các nét chấm phá thật nên thơ như trong bài Hàn Dạ ( đêm lạnh ) của Đỗ Tiểu Sơn đời Tống :


                  寒夜客來茶當酒,     Hàn dạ khách lai trà đương tửu,
                  竹爐湯沸火初紅。     Trúc lô thang phất hỏa sơ hồng.
                  尋常一樣窗前月,     Tầm thường nhất dạng song tiền nguyệt,
                  才有梅花便不同。     Tài hữu mai hoa tiện bất đồng.   
Có nghĩa :
                Đêm đông bạn đến rượu thay trà,
                Quanh bếp than hồng nước mới pha.
                Bên cửa thường ngày trăng vẫn chiếu,
                Thêm cành mai nữa, nhớ quê xa !...

                         DCD_Hoa_6.jpg

                                         Đêm đông bạn đến rượu thay trà,

 

          Hỏa là Lửa, ngoài nghĩa Bếp Lửa ra, Hoả còn có nghĩa là Đèn Đóm, đèn đuốc thắp lên ban đêm để vui chơi trong cung như nàng cung nữ thất sủng nhìn về nơi có ánh đèn lửa tiệc tùng mà tủi thân tủi phận :


                  火照西宮知夜飲,    Hỏa chiếu Tây cung tri dạ ẩm
                  分明復道奉恩時。    Phân minh phúc đạo phụng ân thì.

                                                                     ( Tây Cung Thu Oán )
Có nghĩa :
                        Lửa chiếu Tây cung đang dạ tiệc,
                        Rõ ràng nơi đó hưởng ơn vua !


...và buồn như nàng cung nữ trong Cung Oán Ngâm Khúc của Ôn Như Hầu :


                        Hóa công sao khéo trêu ngươi, 
                        Bóng đèn tà nguyệt tẻ mùi ký sinh.
 


  ... cũng là đèn lửa nhưng buồn vui có khác, và không chỉ có buồn vui, có những ánh đèn còn rất nên thơ, như đèn của lửa chài trong Phong Kiều Dạ Bạc của Trương Kế :

 

                   江楓漁火對愁眠      Giang phong ngư hỏa đối sầu miên


mà Tản Đà đã diễn Nôm rất nên thơ là :


                            Lửa chài cây bến sầu vương giấc hồ...


           ... hay như hai ba đóm lửa lặp lòe của một bến đò xa xa trong đêm tối trong bài Đề Kim Lăng Độ của Trương Hỗ đời Đường :


                金陵津渡小山樓,    Kim Lăng tân độ tiểu sơn lâu,
                一宿行人自可愁。    Nhất túc hành nhân tự khả sầu.
                潮落夜江斜月裡,    Triều lạc dạ giang tà nguyệt lý
                兩三星火是瓜州。    Lưỡng tam tinh hỏa thị Qua Châu
Có nghĩa :
                      Kim Lăng bến nước cạnh đồi cao,
                      Lữ khách qua đêm tự cảm sầu.
                      Triều xuống trăng mờ chênh chếch chiếu,
                      Lặp lòe đóm lửa ấy Qua Châu !


           

DCD_Hoa_7.jpg

Trong cảnh đêm khi nước thủy triều đang xuống dưới ánh trăng nghiêng nghiêng mờ chiếu, thấp thoáng hai ba đóm lửa đèn nhà ai như những vì sao lạc kia, chính là bến đò Qua Châu đối diện đó vậy ! Qủa là một bức tranh chấm phá với cảnh đèn đóm trong đêm vô cùng nên thơ và thi vị !

 

          Lửa dịu dàng là thế, ấm áp là thế, nên thơ là thế... nhưng khi nổi " tam bành " thì " Bà Hỏa " hoạn đến không buông tha cho ai cả, không buông tha cho vật chất nào cả, mà thiêu rụi sạch sành sanh. Bão tố giật xập nhà cửa, nước lụt cuốn trôi nhà cửa, nhấn chìm ghe xuồng... nhưng cũng còn vớt vát lại được chút đồ đạc còn trôi nổi trên sông, chớ sau một cơn hỏa hoạn thì tất cả còn lại chỉ là đống tro tàn của dĩ vãng mà thôi !

           Lửa còn đi liền với chiến tranh với các từ Binh Lửa, Khói Lửa, Tên lửa, Đạn lửa hay Lửa Đạn là vùng lửa cháy đạn bay, là nơi tuyến đầu, nơi mà người ta bắn giết lẫn nhau, là các vùng Hỏa Tuyến 火線, nơi mà ban đêm luôn có " Những đóm mắt Hỏa Châu 火珠 " soi sáng chiến trường .  Tội nghiệp cho tuổi trẻ Miền Nam, tội nghiệp cho các anh lính trẻ Việt Nam Cộng Hòa như tôi  " xếp bút nghiên theo việc binh đao " để đêm đêm phải tâm sự cùng " Những ánh mắt Hỏa Châu " như trong bài hát của Nhạc sĩ Hàn Châu :

                     Có những đêm dài ... anh ngồi ...nhìn hỏa châu rơi ...
                     Nghe vùng tâm tư ... cháy đỏ ...xoay ngang lưng trời ...
                     Những đóm mắt hỏa châu, bừng lên trong màn tối ,
                     Như mắt em sáng ngời, theo anh đi ngàn lối ...
                     Những đêm không ngủ... anh ngồi tâm sự ...cùng hỏa ...châu rơi.....
 

          

         Qủa là tội nghiệp cho tuổi trẻ của Miền Nam khoảng thập niên 60-70 thế kỷ trước , tuổi trẻ của Việt Nam nói chung đã bị cuốn vào vòng chiến tranh ý thức hệ một cách oan uổng...


         Ngày xưa, gọi chiến tranh là Phong Hỏa 烽火, là những lửa khói bốc lên do chiến loạn, mà cũng là những lửa khói được đốt lên để báo hiệu chiến tranh đang diễn tiến đến nơi nào, là những Phong Hỏa Đài 烽火台 dùng để cảnh báo cho dân chúng hậu phương biết trước mà tránh xa và nhất là để cho quan binh hậu phương biết đường mà ứng phó. Nên Phong Hỏa là chiến tranh như Đỗ Phủ đã viết về chiến loạn do An Lộc Sơn gây ra :


                  Phong Hỏa liên tam nguyệt    烽火連三月


là Chiến tranh kéo dài suốt ba tháng liền... đã gây ra rất nhiều chết chóc khổ đau tang thương khắp chốn, huống chi cuộc chiến Nam Bắc Việt Nam kéo dài những ba mươi năm, nhân dân cả nước phải hứng chịu biết bao nhiêu là đau thương đồ thán do bom đạn gây ra !  

 

           Hỏa là Lửa, là Đèn đuốc là Đăng Hỏa 燈火. Hỏa là Tinh Hỏa 星火 là những vì sao lắp lánh trên trời, là Hỏa Tinh 火星 một trong 4 hành tinh của Thái Dương Hệ, có tên la-tinh là Mars. Theo khoa học giả tưởng trên Hỏa tinh có Người Hỏa Tinh và có sự sống như trên Trái đất. Hoả Tiển 火箭 là Tên Lửa, vừa là vũ khí sát thương, vừa là phương tiện chuyên chở trong và ngoài không gian. Hỏa Thạch 火石 là Đá lửa, đá dùng để đánh lửa. Hỏa Sơn 火山 là núi lửa, là Hỏa Diệm Sơn 火焰山. Hỏa Khanh 火坑 là Cái Hầm Lửa, từ dùng để chỉ các cô gái điếm sống cuộc sống đày đọa đồi trụy ngột ngạt như bị nhốt trong hầm lửa vậy, nên cụ Nguyễn Du đã gọi là "Lửa Nồng" khi cho cô Kiều phân tách để Thúc Sinh hiểu được là sống cảnh lẻ mọn bị vợ lớn ghen tuông hành hạ (giấm chua) còn tội nghiệp hơn là sống đời kỹ nữ nữa :

 

                          Cúi đầu luồn xuống mái nhà
                     Giấm Chua lại tội bằng ba Lửa Nồng !

 
          Hỏa còn dùng để chỉ vũ khí của quân đội như từ Hỏa Thương 火槍 là Súng Ống, Hỏa Dược 火藥 là Thuốc súng, Hỏa Lực 火力 là sức mạnh của vũ khí quân đội, Hỏa Tốc 火速 là Nhanh Chóng, Hỏa Công 火攻 là Tấn công bằng lửa, dùng lửa để Hỏa Thiêu 火燒 đốt cháy quân địch, như trận Hỏa Thiêu Xích Bích 火燒赤壁 của Khổng Minh Gia Cát Lượng đã đốt tiêu 81 vạn quân của Tào Tháo trên dòng sông Xích Bích vậy. Cuối cùng để nuôi sống quân đội hàng ngày còn có anh Hỏa Đầu Quân 火頭軍 mà sau nầy trong Quân lực Việt Nam Cộng Hòa gọi là Lính Nhà Bàn, còn Bộ đội Bắc Việt thì gọi là Anh Nuôi. 

           Ngoài trận hỏa công để đời nổi tiếng trong lịch sử thời Tam Quốc ra , còn một trận hỏa công rất đặc sắc nữa ở thời Xuân Thu Chiến Quốc, đó chính là Hỏa Ngưu Trận 火牛陣. Theo Sử Ký Điền Đan Liệt Truyện...


          Đời Yên Chiêu Vương, tướng Yên là Nhạc Nghị đem binh đánh Tề. Tướng Tề là Điền Đan cố giữ thành Tức Mặc. Năm 279 trước Công Nguyên, Yên Huệ Vương nối ngôi, Điền Đan dung kế ly gián để Yên vương dùng tướng Kỵ Kiếp thay cho Nhạc Nghị, đoạn lại dùng kế trá hàng để Kỵ Kiếp không phòng bị, rồi đang đêm gom hết cả ngàn trâu bò trong thành, buộc gươm đao nhọn vào sừng trâu, đuôi trâu buộc cỏ rơm có tẩm dầu, rồi đốt lửa lên, trâu bị nóng cắm đầu cắm cổ phóng về phiá quân Yên, lại cho 5000 lính cảm tử xung phong giết tới. Quân Yên đại bại, Kỵ Kiếp chết trận, Điền Đan thừa thế xua quân đánh chiếm lại hơn 70 thành đã bị mất.

 

         Vì tích Hỏa Ngưu Trận ở trên mà trong văn học Việt Nam có một bài thơ vịnh Con Trâu Già rất hay như sau :


                         Một nắm xương khô, một nắm da
                         Bao nhiêu cái ách đã từng qua
                         Đuôi cùn biếng vẫy Điền Đan hỏa
                         Tai nặng buồn nghe Nịnh Thích ca
                         Sớm thả đồng đào ăn đủng đỉnh
                         Tối về chuồng quế thở nghi nga
                         Có người toan giết tô chuông mới
                         Ơn đức vua Tề, lại được tha.

        Bài thơ trên có người cho là của cụ Huỳnh Mẫn Đạt, có người cho là của Tam Nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến. Nhưng dù của ai thì đây vẫn là một bài thơ hay.

                                       DCD_Hoa_8.jpg 

                   Hỏa Thiêu Xích Bích           Hỏa  Ngưu  Trận

                 

         Hỏa là Lửa, nhưng Hỏa Kê 火雞 không phải là Con Gà Lửa mà là con Gà Tây, bình dân gọi là con Gà Lôi, ở Mỹ gọi là Turkey. Lễ Gà Lôi là Lễ Tạ Ơn của Mỹ (ngày Thứ Năm của tuần thứ 3 trong tháng 11), hằng năm dân Mỹ phải "hỏa thiêu" đến mấy triệu con Hỏa Kê nầy để ăn mừng. Hỏa Trùng còn gọi là Huỳnh Hỏa Trùng 螢火蟲, không phải là con sâu lửa mà là con Đom Đóm với ánh đèn lân tinh chớp sáng phía sau đuôi trên các ngọn cây bần ở quê tôi. Cũng như Hỏa Hầu 火候 không phải là con Khỉ Lửa, mà là chỉ cái tiêu chuẩn mức độ đạt đến cở nào. Như hấp bánh còn thiếu hỏa hầu nên bánh chưa thật chín thật ngon, Công phu luyện chưa tới hỏa hầu nên chặt cục gạch còn chưa bể hai... Hỏa Hầu cũng không phải là Tề Thiên Đại Thánh 齊天大聖, vì Tôn Ngộ Không 孫悟空 là con Thạch Hầu 石猴, con khỉ từ trong đá nứt ra, chứ không phải là con khỉ lửa; chỉ sau khi bị Thái Thượng Lão Quân đốt trong lò Bát quái bảy bảy bốn mươi chín ngày ra, thì Tôn Ngộ Không mới có được Hỏa nhãn Kim tinh 火眼金睛, có nghĩa : Con mắt rực như lửa và tròng mắt sáng như vàng có thể nhìn thấu mọi sự vật do yêu quái biến hình. Nhưng Hỏa Xa là Xe Lửa, Hỏa Long 火龍 thì lại là con rồng lửa chính hiệu có màu đỏ rực như lửa. Gần đây, người Hoa lại dùng từ Hỏa Oa 火鍋 là Cái Nồi Lửa để chỉ Cái Lẩu (cái Cù Lao) mà ta thường ăn khi có tiệc. 

   

      Theo phép tạo chữ Nho ngày xưa, một chữ Hỏa 火 là Lửa; 2 chữ Hỏa chồng lên nhau là Viêm 炎 là Nóng, ta có từ kép Viêm Nhiệt 炎熱 là Nóng nực; 3 chữ Hỏa ghép lại thành chữ Diễm 焱 là Lửa cháy rực rỡ, đọc là Diệm thì đồng âm với từ Hỏa Diệm Sơn 火焰山 là Núi Lửa, HỎA DIỆM SƠN còn là từ dùng để chỉ các bà các cô có thân hình với 3 vòng thật "nóng", thật gợi cảm, thật bốc lửa !  

 

                      Những thành ngữ có chữ Hỏa 火 mà Hoa Việt đều thông dụng là :


 * Hỏa thượng gia dầu 火上加油 : Ta nói là "Lửa cháy thêm dầu" hay là "Đổ thêm dầu vào lửa", ý nói đã không chửa cháy mà còn làm cho nó cháy lớn thêm hơn ! 


 * Hỏa hải đao sơn 火海刀山 : Ta nói là "Núi đao biển lửa" để chỉ những nơi vô cùng nguy hiểm, những chỗ mất mạng như chơi !


 * Can sài liệt hỏa 乾柴烈火 : là Củi khô lửa mạnh, ta nói là "Lửa gần rơm" lâu ngày cũng bén.


 * Sấn hỏa đả kiếp 趁火打劫 : Thừa lúc lửa cháy để cướp đồ của người khác, ta nói là " Thừa nước đục thả câu".


 * Phong hỏa liên niên 烽火連年 : Chiến tranh năm nầy liền năm khác, ta nói là " Chiến tranh dai dẳng" như cuộc nội chiến của Việt Nam ta ngày xưa làm cho quân dân đều chán ngán.

 

         Trong Tăng Quảng Hiền Văn cũng có những câu ngạn ngữ rất thực tế như :


                   Viễn thủy nan cứu cận hỏa,     遠水難救近火,
                   Viễn thân bất như cận lân.      遠親不如近鄰。
Có nghĩa :
                 Nước xa không thể cứu được lửa gần ,
                 Bà con xa không bằng láng giềng gần.

 Hay như câu :

                    Thành môn thất hỏa,      城門失火,
                    Ương cập trì ngư.           殃及池魚。 
Có nghĩa :
               Cửa thành bị lửa cháy, bị hỏa hoạn, thì làm cho lũ cá ở trong ao cũng bị tai ương, bị vạ lây, vì... người ta sẽ vét hết nước ở trong ao để chửa lửa, nên cá sẽ không còn nước để sống nữa ! Giới bình dân gọi là : "bị văng miểng", bị họa lan can !

 

         Hỏa là Lửa cũng như Mộc là Cây là 2 nhân tố không thể thiếu trong đời sống con người. Hỏa là Đăng Hỏa 燈火 là Đèn đóm để thắp sáng; là Hỏa Lô 火爐 là cái Lò lửa để nấu ăn. Trong thời đại văn minh hiện nay ta còn có Điện Lô 電爐 là Lò điện, Mai Lô 煤爐 là Lò Gas... Lửa còn dùng để sưởi ấm, nấu nướng chiên xào, chế biến thức ăn, xúc tác phản ứng hóa học trong phòng thí nghiệm, để luyện kim... kể cả những hoạt động vui chơi như Bắn pháo bông, Đốt lửa trại... đều không thể xa rời được lửa. Thử nghĩ nếu một ngày không có lửa thì cuộc sống sẽ ra sao và thế giới nầy sẽ ra sao ?!

 

        Những đêm nguyện cầu, những đêm thắp nến, đều nhờ vào ngọn lửa của ánh nến để thắt chặc thêm tình đoàn kết, để ung đúc thêm ý chí đấu tranh, để càng hạ quyết tâm phấn đấu hơn để đạt mục đích cuối cùng. Ta hãy nghe lại lời của bài hát Nhạc Rừng Khuya mà nhạc sĩ Lam Phương đã sáng tác khi ông còn chưa đầy 20 tuổi :


             ... Bập bùng bấp bung ...đêm khuya thêm não nùng... 
                 Lửa càng bừng cháy, siết tay nhau... chúng ta cùng múa 
                 quanh lửa hồng... cháy trong rừng khuya
 
và...
             ... Lửa cháy, hăng lửa giục lòng dân ...đoàn kết 
                 Lửa reo, vang lửa gào lòng ta ...nguồn sống 
                 Lửa Tự Do ...muôn năm vẫn reo ...rừng ơi !

 

                Trở lại với đề tài lúc ban đầu, theo quan niệm của Phật Giáo, cơ thể con người là do TỨ ĐẠI : Đất Nước Gió Lửa khi đã đủ cơ duyên thì kết hợp lại mà thành, nên khi chết đi thì thân Tứ Đại sẽ trả về cho Tứ Đại. Nhớ năm 1963 khi Hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu xong thì còn lại ... trái tim vẫn không chịu cháy trong  lò thiêu lên đến 4000 độ C tại Đài hỏa táng An dưỡng địa ở Phú Lâm (Sài Gòn). Thì ra, vẫn có những cái mà lửa không thể thiêu rụi được, đó là Trái Tim của đấu tranh, tức là Ý Chí Đấu Tranh thì không có ngọn lửa nào thiêu rụi được cả ! Xin được mượn 2 câu thơ sau đây trong bài thơ ca ngợi Hoà thượng Thích Quảng Đức để kết thúc cho bài phiếm luận nầy :


                          Thân Tứ Đại trả về Tứ Đại,
                          Tim của ngài tồn tại thế gian !


       Lửa là Hỏa và Hỏa là Lửa. Lửa thiêu rụi tất cả, nhưng không thể thiêu rụi được Tinh thần đoàn kết và ý chí đấu tranh !


Đỗ Chiêu Đức

 

 

Nên gọi

            QUAN ÂM hay QUÁN ÂM

 

DCD_QuanAm.jpg 

                  Những năm gần đây, hầu như tất cả các chùa chiền, tăng ni, cư sĩ, Phật tử ... kể cả trong nước lẫn ngoài nước, đều có thói quen gọi QUAN Thế Âm Bồ Tát thành QUÁN (có dấu SẮC) thế Âm Bồ Tát ?!


         Mới nghe một hai lần đầu, tôi cứ ngỡ là người ta đọc sai, đọc lộn âm, nhưng chẳng những tín đồ Phật tử, cư sĩ tăng ni mà ngay cả các Tỳ kheo Đại đức, Thượng tọa Cao tăng khi tụng kinh hay đăng đàn thuyết giảng, hễ có dịp nhắc đến QUAN Âm Bồ Tát thì đều đọc là QUÁN Âm Bồ Tát cả !


        Tôi vô cùng ngạc nhiên, ngạc nhiên hết sức... Không biết tại sao Phật hiệu Đại Từ Đại Bi Cứu Khổ Cứu Nạn QUAN THẾ ÂM BỒ TÁT nghe hiền hòa là thế, từ bi là thế, êm tai là thế, bỗng dưng lại bị bỏ thêm cái Dấu Sắc vô duyên nghe chói tai muốn chết ! Ấy thế, mà tại sao mọi người đều nghe theo và đọc theo cái Phật hiệu chói tai có dấu sắc kia ?!  

 

        Theo "Chữ Nho...Dễ Học" thì chữ Quan 觀 là chữ thuộc dạng Hình Thanh theo diễn tiến của chữ viết như sau :  

 

             Chung Đỉnh Văn     Đại Triện    Tiểu Triện      Lệ Thư

                             DCD_Apr19_Quan.jpg

Ta thấy :
         Từ Chung đình văn cho đến Đại triện, Tiểu triện diễn tiến cho đến Lệ Thư đều do chữ QUÁN 雚 (một loại Lát để dệt chiếu, đệm) dùng làm ÂM kết hợp với Bộ KIẾN 見 là Thấy, là Gặp để chỉ Ý đúng theo phép tạo chữ của HÀI THANH (còn gọi là HÌNH THANH). Nên chữ 觀 được đọc là :


  * QUAN thì có nghĩa là Nhìn Ngắm, Xem Xét, như Tham quan 參觀, Quan sát 觀察... là Cách nhìn, như Quan Niệm 觀念, Quan Điểm 觀點...

     Nếu đọc là :
  * QUÁN thì có nghĩa là Cái chùa của các đạo sĩ ở và tu, như Bạch Vân Quán 白雲觀, Tử Dương Quán 紫陽觀...

 

        Nhưng để truy nguyên tìm hiểu nguyên nhân của cái "dấu sắc" vô duyên kia, tôi còn tìm lật các Tự điển, Từ điển... À, thì ra chữ QUAN 觀  là Xem xét còn được đọc là QUÁN với nghĩa Xét thấu theo các tài liệu sau đây (chỉ trích những phần có liên quan) : 

 

 * Từ điển Hán Nôm :

    QUAN 觀 là...
       - xem, quan sát.
  1. (Động) Xem xét, thẩm thị, Ngắm nhìn, thưởng thức. 
  2. (Danh) Cảnh tượng, quang cảnh, Cách nhìn, quan điểm, quan niệm.
  3. Một âm là "Quán". (Động) Xét thấu, nghĩ thấu. ◇Bát-nhã ba-la mật-đa tâm kinh 般若波羅密多心經: "Quán Tự Tại Bồ Tát hành thâm Bát-nhã Ba-la-mật-đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách" 觀自在菩薩行深般若波羅蜜多時, 照見五蘊皆空度一切苦厄 Bồ Tát Quán Tự Tại, khi tiến sâu vào Tuệ Giác Siêu Việt, nhận chân ra năm hợp thể đều là (tự tánh) Không, liền độ thoát mọi khổ ách.

 

* Từ điển Thiều Chửu :
       Giải thích âm QUÁN như sau :
       QUÁN : là Xét thấu, nghĩ kĩ thấu tới đạo chính gọi là quán. Như Chỉ Quán 止觀 yên định rồi xét thấu chân tâm, như Kinh Dịch 易經 nói Quán ngã sinh vô cữu 觀我生無咎 xét thấu cái nghĩa vụ của đời ta mới không mắc vào tội lỗi. Đạo Phật có phép tu dùng tai mà xem xét cõi lòng, trừ tiệt cái mầm ác trở nên bậc Vô thượng, nên gọi là phép quán 觀. Như Quan âm bồ tát 觀音菩薩, vì ngài tu bằng phép này, sáu căn dùng lẫn với nhau được, mắt có thể nghe được, nên gọi là Quán thế âm 觀世音.  

   

         À, thì ra QUAN 觀 là Xem Xét, là Nhìn Ngắm... Nếu đọc là QUÁN thì có nghĩa là Xét Thấu, Nghĩ Thấu... Nhưng suy cho cùng thì Xét Thấu Nghĩ Thấu đều là nghĩa phát sinh của Xem Xét Nhìn Ngắm ra mà thôi ! Và QUÁN còn là một phép tu tập về lục căn như có thể dùng tai để nhìn và dùng mắt để nghe được... Như trong "Bát-nhã ba-la mật-đa tâm kinh 般若波羅密多心經 "..vv.. và..vv...  Nhưng,
        Ở đây tôi không nói về phép tu tập (Vì tôi có biết gì đâu mà nói ), tôi chỉ thắc mắc, ray rức không hiểu vì sao một Phật hiệu của một Bồ Tát khả kính đọc lên nghe êm ái nhẹ nhàng là QUAN THẾ ÂM Bồ Tát lại bị ai đó hô hào rồi thô bạo thêm dấu sắc vào thành QUÁN THẾ ÂM nghe thật trúc trắc chói tai. Nếu bảo là gọi cho đúng cái con đường tu tập của Bồ Tát thì càng sai hơn, vì Phật hiệu là cái tên gọi, còn con đường tu tập là cái việc làm. Hơn nữa cái Phật hiệu đại từ đại bi Cứu khổ Cứu nạn QUAN THẾ ÂM Bồ Tát mà mọi người còn gọi một cách thân mật gần gũi với cuộc sống hơn là Mẹ Hiền Quan Âm đã có từ hơn một ngàn năm trăm năm nay, từ thời Bắc Chu của Nam Bắc Triều ( 420-589 ) đời vua Diệu Trang Vương với Quan Âm Diệu Thiện và trên hai trăm năm với truyện nôm Quan Âm Thị Kính của ta dưới triều nhà Nguyễn (1802---). Phật hiệu QUAN ÂM BỒ TÁT đã đi sâu vào lòng quần chúng nhân dân, đã ăn sâu vào tâm khảm của muôn vạn tín đồ Phật tử, thì tại sao lại phải vì một lý do nào đó mà thêm vào "Dấu Sắc" cho trúc trắc khó đọc và nghe không êm ái chút nào cả !

 

         Xin được lạm bàn về Phật hiệu QUAN THẾ ÂM BỒ TÁT. Như các Từ điển nêu trên...


       QUAN 觀 là Quan sát, là Xem xét. THẾ 世 là Thế giới, là Cuộc đời nầy. ÂM 音 là Âm tín, Âm hao. Vậy thì...
       QUAN THẾ ÂM BỒ TÁT 觀世音菩薩 là vị Bồ Tát quan sát xem xét hết những âm tín âm hao của cuộc đời nầy, của cả thế giới nầy, để cứu khổ cứu nạn với tấm lòng đại từ đại bi của mình cho tất cả chúng sinh. Vì thế mà ta thường nghe mọi người niệm câu " Nam mô Đại từ Đại bi Cứu khổ Cứu nạn Quan Thế Âm Bồ Tát " với một tấm lòng thuần thành và lắng lòng với Mẹ Hiền QUAN ÂM nhẹ nhàng êm ái. Nhưng nếu đọc là QUÁN ÂM thì vừa khó nghe, vừa chói tai lại vừa có vẻ Bá Đạo nữa, vì ...

 

      Âm QUÁN dễ làm cho người ta liên tưởng và hiểu lầm thành...


    * QUÁN 冠 : là Bao trùm, Phủ trùm, như từ Quán Quân 冠軍 là Bao trùm cả Tam quân, là Hạng Nhất. Ngày xưa chỉ có những cuộc thi đua so tài trong quân đội, nên từ Quán Quân là Hạng Nhất được sử dụng thông dụng cho đến hiện nay. Nếu hiểu nhầm QUÁN THẾ ÂM là chữ QUÁN 冠 nầy, thì QUÁN THẾ 冠世 có nghĩa là Bao trùm cả thế giới, là Hạng Nhất ở trên đời nầy ! Nên tôi nói có vẻ Bá Đạo là thế, không thích hợp với Mẹ Hiền Quan Âm chút nào cả ! Còn như hiểu nghĩa... 

 

    * QUÁN 貫 là Quán Triệt 貫徹, Quán Xuyến 貫穿, là Xuyên suốt, thì QUÁN THẾ 貫世 là Xuyên suốt lo toan cho cả thế giới, nên có vẻ ôm đồm hết mọi việc của người đời. Mẹ Hiền Quan Âm chỉ Cứu khổ cứu nạn để giúp cho con người thoát khỏi bể khổ bến mê, chớ không phải ôm đồm làm hết mọi việc cho người đời. Còn nếu phát âm theo dân Nam Kỳ Lục Tỉnh chúng tôi không phân bịêt có "g" hay không "g" mà đọc là QUÁNG thành QUÁNG ÂM thì lại càng tội lỗi hơn ! Cho nên...

      Thiết nghĩ, QUAN THẾ ÂM BỒ TÁT là tên gọi của Phật Bà Quan Âm đã hơn ngàn năm nay, đã thành TẬP QUÁN NGÔN NGỮ là thói quen của tiếng nói, đã ăn sâu vào tâm thức của mọi người kể cả những người không phải là tín đồ Phật Giáo thuần túy như tôi, nhưng trong đời sống ở làng quê thôn xóm với ngôi chùa ở đầu thôn hay cuối làng, mọi người đã quen rồi với từ Quan Âm Bồ Tát, nay bỗng dưng lại đổi thành Quán Âm Bồ Tát; Mẹ Hiền Quan Âm thành Mẹ Hiền Quán Âm, nghe chua xót và ngỡ ngàng làm sao ấy ! Đã là thói quen của TẬP QUÁN NGÔN NGỮ, sao ta không duy trì giữ nguyên mà lại thay đổi một cách không cần thiết như thế ? Vì mọi người, mọi tín đồ bình dân đâu cần biết đến cái phép tu tập, cái lối tu tập hay cái con đường tu tập của các bậc cao tăng chính giác mà chi, họ chỉ biết Quan Âm Bồ Tát là Mẹ Hiền Quan Âm cứu khổ cứu nạn mà thôi !    

   Nhớ...
        Khoảng giữa năm 1994, dân Sài Gòn đọc được một bài đăng trên báo Sài Gòn Giải Phóng của Giáo Sư Lương Duy Thứ, Trưởng Khoa Trung của Đại Học Tổng Hợp vừa chuyển sang thành Đại Học Khoa Học Xã Hội & Nhân Văn (Vốn là Đại Học Văn Khoa Sài Gòn cũ), nội dung bài báo đề cập đến việc nên dùng từ "CHÚNG CƯ 眾居" thay thế cho từ " CHUNG CƯ " với lý do CHUNG CƯ là từ kép được thành lập theo văn phạm Hán Việt, vì Tính Từ đứng trước Danh Từ cho nên cả 2 từ phải đều là Hán Việt. Thế mà từ CHUNG 終 Hán việt không có nghĩa là Chung chạ mà có nghĩa là Cuối cùng. Nên CHUNG CƯ 終居 không phải là nơi nhiều người ở chung mà là nơi ở Cuối Cùng, tức là mồ chôn hay nghĩa địa. Vậy phải đổi từ CHUNG CƯ 終居 thành CHÚNG CƯ 衆居 thì mới ổn.Vì CHÚNG 衆 là Quần Chúng 群眾, nên CHÚNG CƯ 衆居 mới là nơi Nhiều người cùng ở chung. Sau đó, các báo, đài đều hưởng ứng dùng từ CHÚNG CƯ thay thế cho CHUNG CƯ, nhưng , chỉ một thời gian sau và mãi cho đến hiện nay, đã hơn 20 năm qua , thì... đâu vẫn hoàn đấy ! Tập thể Quần Chúng nói tiếng Việt vẫn thích dùng từ CHUNG CƯ hơn là CHÚNG CƯ ! Tại sao ? Vì CHUNG CƯ là từ viết tắt của nhóm từ 4 chữ "CÙNG CHUNG CƯ NGỤ", hơn nữa từ CHÚNG CƯ nghe nó chỏi cái lổ tai làm sao ấy !. Nên, trước mắt tất cả báo đài đều quảng cáo cho các CHUNG CƯ CAO CẤP, chớ không phải CHÚNG CƯ nữa, như CHUNG CƯ CAO CẤP Phú Mỹ Hưng chẳng hạn !  

 

       Trở lại với Phật hiệu QUAN THẾ ÂM BỒ TÁT, thiết nghĩ giới Phật tử quần chúng bình dân đã quen miệng với các cách gọi thân thương là :
    - Quan Âm Bồt Tát,
    - Phật Bà Quan Âm,
    - Mẹ Hiền Quan Âm....
đã thành một Tập Quán Ngôn Ngữ rồi, nếu bây giờ phải gọi Bà Quan Âm là Bà QUÁN Âm thì nghe rất chướng tai và... không giống ai cả ! Nên, theo thiển ý thì...
     Khi tu tập hay khi nghiên cứu về giáo lý cao siêu của Phật Giáo thông qua các phép, các cách hay các con đường tu tập thì qúy Tỳ Kheo Đại Đức Thượng Tọa hay Hòa Thượng ... muốn gọi sao thì gọi, nhưng khi thuyết giảng giáo pháp trước quần chúng nhân dân thì nên giữ theo lối gọi truyền thống trước đây là QUAN THẾ ÂM BỒ TÁT, chứ đừng cho máy phóng thanh cứ oang oang là " QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT" như chọc vào tai của muôn vạn người nghe một cách bá đạo và khó chịu vô cùng !

       Trên đây chỉ là những suy nghĩ cá nhân của người viết thông qua những phản ánh của bạn bè thân hữu chung quanh, xin chân thành gởi đến các vị chức sắc trong Giáo Hội Phật Giáo và quảng đại thiện nam tín nữ trong và ngoài nước để cùng nhau trao đổi và góp ý về tên gọi của một vị Bồ Tát rất gần gũi thân thương với tất cả chúng sinh còn chìm đắm trong biển khổ !

         Nam Mô Đại Từ Đại Bi Cứu Khổ Cứu Nạn QUAN THẾ ÂM Bồ Tát Ma Ha Tát !

 

                                                                                        
                                                                                           Đỗ Chiêu Đức

 

 

 Tùng Thiện Vương và các thi nhân đời Đường  

 

                   

                 DCD_VuongDuyTungThienVuongLybach.jpg

              VƯƠNG DUY     TÙNG THIỆN VƯƠNG        LÝ BẠCH

 


           Tùng Thiện vương là con trai thứ 10 của Minh Mạng, sinh ngày 24 tháng 10 năm Kỷ Mão (tức 11 tháng 12 năm 1819) tại cung Thanh Hòa trong cấm thành Huế. Mẹ ông là Thục tần Nguyễn Thị Bửu (阮氏寶), người Bình Chương, Gia Định, con gái của Tư không Nguyễn Khắc Thiệu (阮克紹), rất giỏi chữ nghĩa.

           Thuở lọt lòng, ông được ông nội đặt tên là Hiện (晛). Đến năm 1832, khi đã có Đế hệ thi, ông được cải tên là Nguyễn Phúc Miên Thẩm (阮福绵审).

           Ông nội ông là Gia Long rất vui mừng, thưởng liền 10 lạng vàng. Khi còn nhỏ, tính hay khóc, Thục tần rất lo mà không biết thế nào. Bỗng có đạo sĩ nói rằng: "Đây là sao Thái Bạch Kim Tinh giáng sinh, làm lễ tiễn thì khỏi.". Sau làm lễ, quả nhiên khỏi hẳn.

          Năm 1839, ông được phong làm Tùng Quốc công (從國公), mở phủ ở phường Liêm Năng, bên bờ sông An Cựu, Huế.

         Năm 1854, ông được gia phong Tùng Thiện công (從善公). Năm 1858, ông mua 12 mẫu ruộng ở xã Dương Xuân, làm nhà ở gọi là Phương Thốn thảo đường.

         Năm 1865, ông giữ chức Tả Tôn Nhân phủ, trong thời gian này xảy ra sự biến giặc Chày vôi. Trước đó, ông đã gả con gái là Thể Cúc cho Đoàn Hữu Trưng, một thanh niên ở làng An Truyền (tức làng Chuồn). Năm 1866, Hữu Trưng ngầm làm cuộc nổi dậy nhằm lật đổ Tự Đức. Việc thất bại, Hữu Trưng và nhiều người bị hành hình. Mặc dù trước đó, Hữu Trưng đã lấy cớ vợ cư xử trái lễ với mẹ chồng mà trả về để tránh liên lụy cho nhà vợ, Miên Thẩm cũng trói cả con gái và cháu ngoại, quỳ dâng sớ xin chịu tội.

         Tự Đức không kết tội chỉ nói ông: "Chọn rể không cẩn thận để mất thanh danh, nay trừ bổng trong tám năm". Suốt những năm bị trừ bổng ấy, ông lên ngôi chùa cổ Từ Lâm hoang tàn ở xã Dương Xuân làm nơi cư ngụ, vợ con phải canh tác trồng cây quả đem ra chợ bán để có cái ăn hàng ngày.

         Ông mất ngày 30 tháng 3 năm Canh Ngọ (tức 30 tháng 4 năm 1870), lúc 51 tuổi. Thụy là Văn Nhã (文雅). Năm 1878, ông được Tự Đức gia tặng là Tùng Thiện Quận vương (從善郡王).

        Năm 1936, Bảo Đại mới truy phong ông là Tùng Thiện vương (從善王), tước vị mà ngày nay người ta quen gọi.

        Tùng Thiện Vương là bạn thơ chí tình của Cao Bá Quát

                                                                         ( Nguồn gốc :  Wikipedia VN )

 

       Vua Tự Đức, ông vua rất có văn tài đã từng khen :


                  "Văn như Siêu, Quát vô tiền Hán           文如超适無前漢,
                   Thi đáo Tùng, Tuy thất thịnh Đường"     詩到從绥失盛唐。


      Sau đây ta hãy thử so sánh thơ của Tùng Thiện Vương với các nhà thơ lớn của các đời Đường, để thấy được cái hay của mỗi bên và để thấm thía hơn với lời bình phẩm nhận xét của ông vua tài hoa văn nghệ : " Thi đáo Tùng,Tuy thất thịnh Đường !".

 

                          
DCD_Lieu.jpg1. 

        柳                         LIỄU
去歲春殘黃鳥歸,      Khứ tuế xuân tàn hoàng điểu quy,
秋容憔悴月明知.      Thu dung tiều tụy nguyệt minh tri.
東風昨夜吹何處,      Đông phong tạc dạ xuy hà xứ ?
更惹新愁上曉眉.      Cánh nhạ tân sầu thướng hiểu my.

                                                          Tùng Thiện Vương

CHÚ THÍCH :
  * Khứ Tuế : là Năm Ngoái, năm trước, giống như chữ Khứ Niên vậy.
  * Hoàng Điểu : là Con chim vàng, chỉ chim Hoàng Oanh.
  * Nhạ : là Vây đến, Đụng đến, Ghẹo đến... cũng có nghĩa là Nhuốm lấy, Rước lấy...
  * Hiểu My : là Chân mày buổi sáng( chưa kịp vẽ )


Diễn Nôm :
                          LIỄU
         Năm ngoái xuân tàn oanh vội bay,
         Dáng thu tiều tụy mảnh trăng soi.
         Đêm qua gió cuốn về đâu nhỉ ?
         Lại rước thêm sầu liễu sáng nay !

Lục bát :
         Xuân tàn oanh vội bay về,
         Nét thu tiều tụy não nề trăng soi.
         Đêm qua gió thổi nhà ai,
         Sáng nay sầu đượm nét ngài ủ ê !

                                       Đỗ Chiêu Đức

 

 

    * Sau đây là bài " Mộ xuân quy cố sơn thảo đường 暮春歸故山草堂 của Tiền Khởi 錢起 đời Đường :


           谷口春殘黃鳥稀,     Cốc khẩu xuân tàn hoàng điểu hi,
           辛夷花盡杏花飛。     Tân di hoa tận hạnh hoa phi.
           始憐幽竹山窗下,     Thủy lân u trúc sơn song hạ,
           不改清陰待我歸。     Bất cải thanh âm đãi ngã quy.


CHÚ THÍCH :
  * Cốc : là Sơn Cốc, là Thung lủng núi. Nên Cốc Khẩu là Đường đi vào thung lủng núi.
  * Hoàng Điểu : chỉ Chim Hoàng oanh.
  * Tân Di Hoa : là Hoa của cây Mộc lan, còn gọi là Vọng Xuân Hoa 望春花, nở trước hoa Hạnh.
  * Lân : ở đây không có nghĩa là Tội nghiệp, mà là Thương, là Thích.
  * Thanh Âm : là Hình dung từ, chỉ Cây cối xanh tươi mát mẻ.

 

DIỄN NÔM :
         Cửa núi xuân tàn oanh biếng ca,
         Tân Di hoa rụng hạnh la đà.
         Thương thay song cửa rừng tre trúc,
         Mát mẻ như xưa đợi đón ta.
Lục Bát :
         Xuân tàn núi vắng oanh ca,
         Mộc lan rụng hết hạnh hoa bay đầy.
         Trước song rừng trúc phủ dày,
         Thanh u mát mẻ đợi ngày đón ta !

                                            Đỗ Chiêu Đức

          Cũng là chim hoàng oanh, nhưng khi xuân tàn chim hoàng oanh của Tùng Thiện Vương bay về tổ chỉ còn lại nét thu tiều tụy dưới bóng trăng soi, lại không biết gió xuân tối đêm qua thổi về đâu, nên sáng nay lại rước thêm nổi sầu bâng quơ lên mi mắt ! Còn Tiền Khởi đời Đường thì khi xuân tàn đã vắng tiếng chim hoàng oanh thì ông quay về bên song cửa sổ giữa rừng tre trúc mát mẻ luôn luôn sẵn sàng chào đón ông về khi ngoài trời hoa Mộc Lan đã tàn và hoa hạnh đang la đà bay theo gió !
          Mỗi người mỗi vẻ đều nên thơ và có nét thi vị riêng của mình.

DCD_Sen.jpg               

 2. 

     淥水                 LỤC THỦY

淥水青山常在,     Lục thủy thanh sơn thường tại,
孤雲野鶴同飛。     Cô vân dã hạc đồng phi.
短艇柳邊客釣,     Đoản đĩnh liễu biên khách điếu,
小橋月下僧歸。     Tiểu kiều nguyệt hạ tăng quy.

                                                     Tùng Thiện Vương


CHÚ THÍCH :


 * Lục Thủy : là Dòng nước trong. Chữ LỤC 淥 có 3 chấm thủy 氵, có nghĩa là Trong trẻo. Chữ LỤC 綠 có bộ Mịch 糸 là sợi tơ mới có nghĩa là Màu Xanh. 
 * Đoản Đĩnh : là chiếc xuồng con.


DIỄN NÔM :

                 Nước biếc núi xanh còn đó,
                 Mây đơn hạc lẻ cùng bay.
                 Xuồng con thả câu bờ liễu,
                 Sư về cầu nhỏ trăng lay !
Lục Bát :
             Núi xanh nước biếc còn đây,
             Hạc đơn mây lẻ cùng bay ven trời.
             Xuồng con bờ liễu câu hời,
             Dưới trăng cầu nhỏ sư hồi thiền môn.

                                                      Đỗ Chiêu Đức


           

          Thi Tiên Lý Bạch đời Đường cũng có một bài LỤC THỦY KHÚC, nhưng mượt mà ướt át hơn của Tùng Thiện Vương nhiều. Mời xem bên dưới :   

      

*  Sau đây là bài LỤC THỦY KHÚC của Lý Bạch đời Đường : 


              淥水曲                Lục Thủy Khúc


           淥水明秋月,     Lục Thủy minh thu nguyệt
           南湖採白蘋。     Nam hồ thái bạch tần.
           荷花嬌欲語,     Hà hoa kiều dục ngữ,
           愁殺盪舟人。     Sầu sát đãng chu nhân.
                        李白                          Lý Bạch


CHÚ THÍCH :
 * Lục Thủy Khúc :Là Tên của một khúc hát xưa, có nghĩa là Khúc hát về Dòng Nước Trong.
 * Nam Hồ : là Phía nam của Động Đình Hồ.
 * Bạch Tần : Một loại rau nổi trên mặt nước có hoa màu trắng như rau muống, rau ngổ vậy.
 * Hà Hoa : là Hoa Sen, tức là Liên Hoa 蓮花 đó.
 * Sầu Sát : chữ SÁT 殺 đứng sau Động từ là Trạng từ chỉ Mức độ, có nghĩa như Rất, Rất là. Nên Sầu Sát có nghĩa là Rất buồn, là Buồn muốn chết !

 * Đãng Chu Nhân : là Người chèo thuyền, người bơi xuồng.

NGHĨA BÀI THƠ :
          Dòng nước trong trẻo làm cho trăng thu như sáng hơn lên, ta thả thuyền ở phía nam Hồ Động Đình để hái rau bạch tần. Nhìn thấy bông sen nở trên hồ thật đẹp thật sống động như muốn nói chuyện cùng ta, làm cho ta cảm thấy buồn muốn chết đi được vì ta không thể nào đối thoại được với hoa.

DIỄN NÔM :

                     LỤC THỦY KHÚC


                Nước trong sáng trăng thu,
                Bạch tần hồ nam hái,
                Sen đẹp như muốn nói,
                Sầu chết người đãng chu !
Lục bát :
               Nước trong làm sáng trăng thu,
               Rau tần tìm hái bên hồ phía nam.
               Lá xanh bông trắng nhị vàng,
              Tựa như muốn nói sầu sang người chèo !

                                                          Đỗ Chiêu Đức

 

           Nhưng bài thơ của Tùng Thiện Vương là bài thơ 6 chữ, lại làm cho ta nhớ đến bài "Quy Sơn Tác 歸山作" của Cố Huống 顧況 đời Đường :


               心事數莖白髮,    Tâm sự sổ kinh bạch phát,
               生涯一片青山。    Sanh nhai nhất phiến thanh sơn 
               空林有雪相待,    Không lâm hữu tuyết tương đãi,
               古道無人獨還。    Cổ đạo vô nhân độc hoàn.


CHÚ THÍCH :
  * Quy Sơn : là Về núi, ý nói đi ở ẩn.
  * Kinh : là Sợi. Sổ Kinh : là Mấy sợi.
  * Sanh Nhai : là Mưu sinh để sinh sống.  

 

DIỄN NÔM :
                  Tâm sự, lơ thơ tóc bạc,
                  Sinh nhai, một dãy núi xanh.
                  Bầu bạn, núi không tuyết trắng,
                  Đường về, một bóng vắng tanh.


         Âm điệu của thơ 6 chữ vừa dứt khoát vừa khẳng định một cách mạnh mẽ, chính xác, cứng rắn nhưng cũng không kém phần thi vị. 

 3.

   金井怨          KIM TỈNH OÁN


美人照金井,   Mỹ nhân chiếu kim tỉnh,
井底華顏冷。   Tỉnh để hoa nhan lãnh..
空房夜不歸,   Không phòng dạ bất quy,
月轉梧桐影。   Nguyệt chuyển ngô đồng ảnh.

                                               Tùng Thiện Vương


CHÚ THÍCH :
 * Kim Tỉnh : Giếng vàng, là giếng của các nhà quyền qúy, trên mặt miệng giếng có dát vàng. Trong Kiều khi chuyển mùa Nguyễn Du cũng đã viết :
                     Thú quê thuần hức bén mùi,
                 Giếng vàng đã rụng một vài lá ngô.

 * Hoa Nhan : là dung nhan của tuổi hoa niên, chỉ nét mặt son trẻ.


DIỄN NÔM :
                    Người đẹp soi giếng vàng,
                    Dưới giếng dung nhan lạnh.
                    Phòng không cũng chẳng màng,
                    Trăng soi ngô đồng ảnh.
 Lục Bát :
                Săm soi người đẹp giếng vàng,
                Lạnh lùng nhan cắc ngỡ ngàng tái tê.
                Phòng không đêm chẳng buồn về,
                Ánh trăng lay động đã xê ngô đồng !
 

                                                          Đỗ Chiêu Đức    

 

   * Sau đây là bài KIM TỈNH OÁN 金井怨 của Tào Nghiệp 曹鄴 đời Đường :


               西風吹急景,    Tây phong xuy cấp cảnh,
               美人照金井。    Mỹ nhân chiếu kim tỉnh.
               不見面上花,    Bất kiến diện thượng hoa,
               卻恨井中影。    Khước hận tỉnh trung ảnh !


DIỄN NÔM :
                  Gió tây thổi bàng hoàng,
                  Người đẹp soi giếng vàng.
                  Chẳng thấy hoa trên mặt,
                  Chỉ hận ảnh ngỡ ngàng !

Lục Bát :
                  Gió tây vi vút lạnh tràn,
                  Bâng khuâng người đẹp giếng vàng săm soi.
                  Nét hoa đâu chẳng thấy cười,
                  Âu sầu lại hận ảnh người giếng kia !

                                                      Đỗ Chiêu Đức

 

           

DCD_Girl.jpg

Một người đẹp soi bóng xuống giếng nước xong, thấy dung nhan mình lạnh lẽo buồn bã nên không muốn về phòng, thơ thẩn để nhìn bóng ngô đồng đang lay chuyển như tâm sự của mình đang lay chuyển vậy; còn một người đẹp soi xuống giếng xong lại hận cho dung nhan của mình đã tàn phai đã già nua theo năm tháng trong lúc gió tây đang giục vù thổi mạnh.
          Mỗi bài đều nêu lên một trạng thái tâm lý độc đáo và rất nhân bản thực tế của phái đẹp.

 

                 Âu sầu lại hận ảnh người giếng kia          

 4.

       南溪  V                    NAM KHÊ


亂山深處一溪橫,     Loạn sơn thâm xứ nhất khê hoành, 
十二年前駐馬情。     Thập nhị niên tiền trú mã tình 
流水自知人事異,     Lưu thủy tự tri nhân sự dị, 
潺湲不作昔來聲。     Sàn viên bất tác tích lai thinh

                                                    Tùng Thiện Vương


CHÚ THÍCH :


 * Khê : Ta nói là Khe, là dòng nước từ trong núi chảy ra, là con sông nhỏ được hình thành bởi các dòng suối, mà ta quen gọi là SƠN KHÊ 山溪.
 * TRÚ : là Trú đóng, là dừng lại để nghỉ ngơi, ăn uống, cắm trại... khác với Đình Mã 停馬 là chỉ dừng chân một chút rồi đi.  

 * Sàn Viên : từ Tượng Thanh, chỉ tiếng Róc ra róc rách của nước chảy.

 

 DIỄN NÔM :
                          Khe Suối Nam


                 Ngổn ngang ngàn núi dòng khe cũ,
                 Dừng ngựa mười năm tình ấp ủ.
                 Nước chảy như tình người đổi thay,
                 Róc ra róc rách không như cũ !
Lục Bát :
               Vắt ngang trong suối dòng khe,
               Mười hai năm trước ấp e hàm tình.
               Nước trôi nhân sự điêu linh,
               Chẳng còn róc rách hàm tình như xưa !

                                                     Đỗ Chiêu Đức

 

* Sau đây là bài Di Gia Biệt Hồ Thượng Đình 移家别湖上亭 của Nhung Dục 戎昱 đời Đường :


          好是春風湖上亭,     Hảo thị xuân phong hồ thượng đình,
          柳條藤蔓系離情。     Liễu điều đằng mạn hệ ly tình.
          黃鶯久住渾相識,     Hoang oanh trú cửu hồn tương thức,
          欲別頻啼四五聲。     Dục biệt tần đề tứ ngũ thinh.
 
CHÚ THÍCH :
     DI GIA : là Dời nhà, dọn nhà, đổi chỗ ở.
     BIỆT HỒ THƯỢNG ĐÌNH : Chia tay với cái đình ở trên hồ.
     ĐẰNG MẠN : là dây leo, dây chùm gởi.
     HỆ : là Trói, buộc, ràng buộc.
     HỒN 浑 : HỒN có 3 chấm Thủy, nghĩa gốc là NƯỚC ĐỤC. Nghĩa bóng là ĐẦN ĐỘN. Ở đây HỒN là TRẠNG TỪ nên có nghĩa là : Rất, cả thảy. 
     HỒN TƯƠNG THỨC : Rất là quen biết nhau.
     TẦN 频 : là Thường, là Liên Tục.
     TẦN ĐỀ : Hót liên tục.
 

DCD_ho.jpg


DIỄN NÔM :
              Gió xuân hây hẩy trước hồ đình,
              Cành liễu dây leo buộc lấy tình.
              Oanh vàng quen biết nên ly biệt,
              Hót liền mấy tiếng đoạn làm thinh !
   Lục bát :          
              Gió Xuân mát mẻ hồ đình,
              Dây leo nhành liễu buộc tình biệt ly !
              Oanh vàng quen biết từ khi...
              Chia tay hót tặng người đi mấy hồi !

                                                       Đỗ Chiêu Đức

 

             Cả hai bài thơ, cuối câu 2 và cuối câu 4 đều cùng gieo vần TÌNH 情 và THINH 聲 giống nhau, cùng sử dụng thủ pháp Nhân Cách Hoá sự vật giống nhau, cùng tả tình như nhau, nhưng mỗi bài lại nêu lên một tình huống trái ngược lẫn nhau; Tùng Thiện Vương cho là nước biết được nhân sự thay đổi cho nên cũng thay đổi tiếng róc rách khi chảy, còn Nhung Dục thì bảo là con chim oanh vì ở lâu nên như là rất thân thiết, cho nên khi sắp chia tay lại hót liên hồi như để tiễn biệt.

                      

5.
   聞蟬             Văn thiền


送君曾此地,    Tống quân tằng thử địa, 
一別忽經年。   Nhất biệt hốt kinh niên. 
愁殺長亭柳,   Sầu sát trường đình liễu, 
秋風起暮蟬。   Thu phong khởi mộ thiền.

                                    Tùng Thiện Vương - Miên Thẩm


CHÚ THÍCH :
 * Văn Thiền : Nghe tiếng Ve kêu.
 * Tằng : Từng, đã từng.
 * Sầu Sát : là Buồn thúi ruột, buồn muốn chết.
 * Mộ Thiền : Tiếng ve kêu trong buổi chiều tà.


 DIỄN NÔM :
                     Nghe Tiếng Ve Kêu


                   Nơi nầy từng đưa bạn,
                   Bỗng chốc đã tròn năm.
                   Buồn sao bờ dương liễu,
                   Ve sầu gió thu căm !
Lục Bát :
                   Tiễn người đi ở nơi đây,
            Biệt ly thoáng chốc đã đầy một năm.
                   Gió thu nổi lạnh căm căm,
            Trường đình vẳng tiếng ve ngâm chiều tà !

                                                            Đỗ Chiêu Đức

 

               Bài " Văn Thiền " của Tùng Thiện Vương lại là cho ta nhớ đến bài " Ỷ Hồ " của Thi Phật Vương Duy...

 

  * Sau đây là bài "Ỷ Hồ 欹湖" của Thi Phật Vương Duy 王維 đời Đường :


              吹簫凌極浦,    Xuy tiêu lăng cực phố,
              日暮送夫君。    Nhựt mộ tống phu quân. 
              湖上一回首,    Hồ thượng nhất hồi thủ,
              山青卷白雲。    Thanh sơn quyển bạch vân.


CHÚ THÍCH :
 * Lăng : là Lướt, là Vượt lên trên.
 * Cực Phố : Ở cuối bờ, cuối bãi.


DIỄN NÔM :
                     Thổi tiêu cuối tận bờ,
                     Tiễn chàng chiều ngẩn ngơ.
                     Bên hồ quay nhìn lại,
                     Núi xanh mây trắng mờ !
Lục Bát :
                Thổi tiêu vẳng tận bến bờ,

                Trời chiều lòng thiếp ngẩn ngơ tiễn chồng.
                Quay đầu lòng những bâng khuâng,
                Núi xanh quyện lấy bạch vân ngỡ ngàng !

                                                           Đỗ Chiêu Đức 

                     

 

DCD_Ho_2.jpg

 " Ôi, cảnh biệt ly sao mà buồn vậy !" Cả 2 bài thơ đều tả cảnh ly biệt của người vợ tiễn chồng. Một nàng đến nơi tiễn chồng hồi năm trước để chỉ còn thấy những cành liễu buồn nơi trường đình năm cũ và tiếng ve cuối mùa đang rít tàn hơi trong gió thu hiu hắt; còn một nàng thì thổi tiêu ra tận bờ hồ để tiễn chàng đi, nhưng khi người đà khuất bóng vẫn còn lưu luyến nhìn theo để chỉ còn thấy " Núi xanh quyện lấy bạch vân ngỡ ngàng " mà thôi !

        

6.
         夜泊月瓢                   Dạ bạc Nguyệt Biều

     竹陰涼處夜停船,   Trúc âm lương xứ dạ đình thuyền, 
     水月江風未忍眠。   Thuỷ nguyệt, giang phong, vị nhẫn miên, 
     隔岸鐘樓天姥寺,   Cách ngạn chung lâu Thiên Mụ tự, 
     聲聲捎破遠汀煙。   Thanh thanh sao phá viễn đinh yên.
                                                      Tùng Thiện Vương 
CHÚ THÍCH :
 * Nguyệt Biều : là một làng cổ thuộc phường Thuỷ Biều, nằm ở cửa ngõ phía Tây Nam của thành phố Huế, cách trung tâm thành phố Huế 7km. Phường Thuỷ Biều có ba mặt giáp sông Hương. Làng Nguyệt Biều xưa nổi tiếng về thi ca khoa bảng.

NGHĨA BÀI THƠ :

                              Đêm Đậu Thuyền ở Bến NGUYỆT BIỀU

          Dưới bóng tre yên lặng, ở nơi mát mẻ, chiếc thuyền đậu lúc ban đêm, Trăng dưới nước, gió trên sông, chưa đành ngủ, Bờ bên kia, có lầu chuông Thiên Mụ, Dội vang từng tiếng, phá tan làn khói ngoài xa, trên mặt sông.

DIỄN NÔM :
                    Dưới bóng mát tre đêm đu thuyn,
                     Gió trăng sông n
ước ng nào yên.
                     Cách b
Thiên M lu chuông vng,
                     Văng v
ng xua tan khói sóng thuyn !
L
c Bát :
                    D
ưới bóng tre, đêm đu thuyn,  
                    Trăng soi sông n
ước ng yên được nào.
                    Cách b
Thiên M chuông cao,
                    Ngân nga khói sóng tan vào h
ư không.
                                                                       Đỗ Chiêu Đức

                   DCD_ThienMu.jpg

                                      Cách b Thiên M chuông cao,         

* Bài thơ nầy của Tùng Thiện Vương lại làm ta nhớ đến bài "Phong Kiều Dạ Bạc" 楓橋夜泊 của Trương Kế 張繼 đời Đường :

DCD_nguyetlac.jpg

 


                 月落烏啼霜滿天,   Nguyệt lạc Ô đề sương mãn thiên
                 江楓漁火對愁眠。   Giang phong ngư hỏa đối sầu miên.
                 姑蘇城外寒山寺,   Cô Tô thành ngoại Hàn San Tự,
                 夜半鐘聲到客船。   Dạ bán chung thinh đáo khách thuyền.

 

DIỄN NÔM :
                     Trăng tà lạnh, tiếng quạ kêu sương xuống
                     Giấc sầu miên, sông vắng, đối lửa chài
                     Chùa Hàn San ngoại thành Cô Tô ấy
                     Nửa đêm buồn, chuông vẳng đến thuyền ai !

                                                                     Đỗ Chiêu Đức
Lục Bát :                      
                           Trăng tà, tiếng quạ kêu sương,
                     Lửa chài, cây bến, sầu vương giấc hồ.
                           Thuyền ai đậu bến Cô Tô,
                     Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San.

                                                                            Tản Đà

            Một người vì thuyền đậu dưới bóng tre, có trăng thanh gió mát mà không đành lòng ngủ đi trước cảnh trí hữu tình. Thức để ngắm nhìn và để đắm mình vào cảnh đẹp khi thêm vào đó là tiếng chuông của chùa Thiên Mụ bên kia sông ngân nga vang động làm lung linh và tan biến những làn khói sóng trên sông Hương thơ mộng... Còn một người vì ưu thời mẫn thế, nằm nhìn cây bến lửa chài mà sầu không chợp mắt để rồi lại chìm đắm vào tiếng chuông văng vẳng vọng từ chùa Hàn San ở ngoại thành Cô Tô mà viết nên một bài thơ tuyệt tác...
           Cả 2 bài thơ đều đề cập đến tiếng chuông một cách mầu nhiệm nên thơ, đã điểm xuyết chấm phá cho một bức tranh đêm  êm ả tuyệt đẹp trên bến sông với những làn khói sóng tan biến theo tiếng chuông chùa Thiên Mụ. Còn tiếng chuông kia vẳng đến lúc nửa đêm như vuốt ve như khuyên lơn an ủi giữa cảnh lửa chài hiu hắt, lúc trăng lặn qụa kêu sương xuống đầy trời dưới hàng phong lặng lẽ, xoa dịu thêm lòng người lữ thứ trong một đêm dài không sao chợp mắt....

 Lời Kết :

          Qua các so sánh nêu trên, ta thấy thi tài của Tùng Thiện Vương Miên Thẩm qủa không thua sút với các thi nhân nổi tiếng như Lý Bạch, Vương Duy, Trương Kế...dưới đời nhà Đường, chả trách vua Tự Đức đã dám cả quyết mà phê rằng :


                   "Văn như Siêu, Quát vô tiền Hán           文如超适無前漢,
                   Thi đáo Tùng, Tuy thất thịnh Đường"     詩到從绥失盛唐。

 

          Xin được nghiêng mình trước các bậc tiền nhân lỗi lạc trong đất nước có bốn ngàn năm văn hiến. Thiết nghĩ, nếu biết phát huy hết cái sức mạnh tiềm ẩn của dân tộc thì Việt Nam sẽ không thua một đất nước nào trên thế giới nầy cả !


                                                                                        Đỗ Chiêu Đức

                                                                                         Xuân 2018

__________________________________________________________________________________________________________________________________________________ 

       

MỘC là CÂY


       Theo âm dương ngũ hành thì Đông phương Giáp Ất Mộc. Nên hành Mộc thuộc hướng đông. Mộc 木 là tên gọi chung của tất cả cây cỏ lá hoa, nên ta lại có từ Thảo Mộc 草木 để chỉ chung cho các loài thực vật. Cỏ cây hoa lá sinh sôi nẩy nở được là nhờ ánh nắng của ba tháng mùa xuân, nên ông bà ta lại có câu :


                  Hướng dương hoa mộc tảo phùng xuân       向陽花木早逢春
Có nghĩa :
             Hoa cỏ nào hướng về ánh nắng mặt trời thì sẽ đón nhận mùa xuân sớm ngay từ ánh nắng ban đầu của mùa xuân !


     Mộc là Cây cỏ thực vật có hình dáng hẵn hoi, nên chữ Mộc cũng thuộc dạng chữ Tượng Hình theo diễn tiến của chữ viết như sau :

 

  Giáp Cốt Văn        Kim Văn           Đại Triện             Tiểu Triện          Lệ Thư

 

             dcd_mar24_5words.jpg 

Ta thấy :

    Từ Giáp Cốt Văn cho đến Kim Văn và Đại Triện đều là hình vẽ của một cây con có hai lá mầm đưa lên trên và hai nhánh rể ăn xuống dưới; cho đến Tiểu Triện thì các nét vẽ được nối lại cho liền lạc và khi đến chữ Lệ thì các nét đã được kéo thẳng ra thành các biểu tượng của chữ viết như ngày hôm nay : MỘC 木 là Cây Cối.


     MỘC 木 còn là Kiều Mộc 喬木 là loại cây có thân cao to thẳng đứng. Chương Chu Nam trong Kinh Thi có bài :
                        南有乔木,     Nam hữu kiều mộc,
                        不可休思.       Bất khả hưu tư.
Có nghĩa :
              Phía nam có cây kiều mộc, mà...
              Ta không thể nghỉ ngơi dưới cây nầy được !

 

      Kiều Mộc là cây cao bóng cả, tại sao lại không thể hóng mát dưới cây được ? À thì ra còn hai câu sau nữa :
                       漢有游女,     Hán hữu du nữ,
                       不可求思。     Bất khả cầu tư.
Có nghĩa :
           Bên dòng sông Hán có cô gái đang bơi lội trên đó, mà ta không thể cầu xin nhớ nhung được ( Ý nói : Không thể tỏ tình để yêu nàng được ).


     Xin được diễn Nôm bài Kinh Thi đó theo Ca dao của ta như sau :


                        Phía nam cao ngất có cây,
                 Ta không thể hóng mát ngay dưới tàn.
                        Bên sông Hán thủy có nàng,
                 Thầm thương trộm nhớ ai màng đến ta !

                          dcd_mar24_girl.jpg dcd_mar24_text2.jpg 

Người mà chàng yêu dấu, có thể gặp mà không thể cầu. Đối tượng mà chàng trai theo đuổi chẳng ở đâu xa, chỉ ở bên kia sông thôi, có thể nhìn thấy nàng nhưng không thể tiếp cận với nàng được, chỉ mãi mãi tương tư tưởng nhớ về nàng và biết sẽ mãi mãi không bao giờ có được nàng. Vì sao ? thì người đọc tự suy diễn và tự hiểu lấy !


       Ngoài Kiều Mộc 喬木 ra, ta còn có từ Cù Mộc 樛木, cũng là một loại cây to nhưng thân uốn lượn bên dưới thẳng bên trên, cành lá xum xuê như cây sồi, cây da... Chương Chu Nam Quốc Phong trong Kinh Thi cũng có bài :


                     南有樛木,    Nam hữu cù mộc, 
                     葛藟累之。    Cát lũy luy chi.
                     乐只君子,    Lạc chỉ quân tử,
                     福履绥之。    Phúc lý tuy chi.

 

Có nghĩa :
                     Phương nam cù mộc một cây,
                Kóc kèn bìm bịp mọc đầy leo quanh.
                     Vui thay quân tử chí thành,
                Trên hòa dưới thuận yên lành tề gia.


      Cù Mộc cũng là cây cao bóng cả, chỉ người chồng và vợ lớn, còn Cát Lũy 葛藟 là Dây sắn, dây bìm bịp, kóc kèn leo quanh cây Cù Mộc, được ví như vợ bé vợ mọn. Cô Kiều đã mượn ý nầy để ví với thân phận lẻ mọn của mình khi về với Thúc Sinh là :


                          Sắn Bìm chút phận con con,
                Khuôn duyên biết có vuông tròn cho chăng?

và...
       Khi khuyên Thúc Sinh về thăm Hoạn Thư là vợ cả, cô Kiều cũng đã biết thân biết phận của mình mà nói với Thúc đừng có :


                    Mặn tình Cát Lũy, nhạt tình tào khang.

 

      Trong đoạn kết của Truyện Kiều, cụ Nguyễn Du lại mượn hình tượng của cây Cù Mộc để ví với cái gia đình vinh hiển của Kim Trọng là :


                       Thừa gia chẳng hết nàng Vân
                    Một cây Cù-Mộc, một sân quế hòe, 


  
   Một sân Quế Hòe chỉ Thúy Vân sanh nhiều con trai và đều thành đạt.


     Trong Cung Oán Ngâm Khúc, Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều cũng cho nàng cung nữ ngao ngán cho cái thân phận phải chờ đợi của mình là :

 

                        Ngán thay cái én ba nghìn,
                  Một cây Cù-Mộc biết chen cành nào ?   
 

                                     dcd_mar24_tree_man.jpg dcd_mar24_text.jpg 

 Mộc 木 là Cây, nhưng song mộc liền nhau thì không phải là Cây nữa mà là LÂM 林 là Rừng, theo như câu nói của các ông Đồ Nho ngày xưa :


                  Song mộc thành lâm        雙木成林 
   và...
                  Tam mộc thành sâm        三木成森 
Có nghĩa :
             Ba cây chồng lên nhau là Rừng Rậm.


   Nên...
                 Độc mộc bất thành lâm      獨木不成林
Có nghĩa :
               Một cây thì không thành rừng được.


như ông bà ta đã nói :
                       Một cây làm chẳng nên non,
                  Ba cây chụm lại nên... hòn núi cao.

 

      Nhưng trong chữ Nho thì có tới.. 5 cây lận, 5 chữ Mộc ghép lại thành một Từ. Đó là từ :
SÂM LÂM 森林 : có nghĩa là Rừng Rậm âm u che khuất cả ánh sáng mặt trời, như câu hát mở đầu bài " Chiều Trong Rừng Thẳm " của tác giả Anh Việt :


                Trong rừng xa vắng âm u nhuộm ánh sương mờ...

                Tiếng gió rít lên . . . ngàn cây xác xơ...


làm cho tôi nhớ lại hồi nhỏ hay nghe các cô chú lớn tuổi hơn sửa lời hát lại thành :


                Cô mười cô chín hai cô anh muốn cô nào?
                Lén lén dắt đi... đừng cho má nó hay !...

 

      Mộc 木 là Cây, Nhưng nếu ghép với bộ Nhân 亻 là Người ở bên trái thì đọc là HƯU 休 theo phép Hội Ý là Người đứng hay ngồi dựa vào cây, nên có nghĩa là Nghỉ Ngơi. Từ đó ta có các nghĩa phát sinh là Hưu Trí, về Hưu, nghỉ Hưu ...

                           dcd_Mar24_moc.jpg 

 Mộc 木 là Cây, Nhưng nếu thêm một nét ngang ngắn phía trên để chỉ phần ngọn, thì đọc là VỊ 未, có nghĩa là CHƯA, chỉ phần cây còn chưa lớn. Vị Ngộ 未遇 là Chưa gặp, ý chỉ Chưa gặp thời, như một câu trong bài Kẻ Sĩ của Nguyễn Công Trứ là :


                               Lúc Vị Ngộ hối tàng nơi bồng tất
có nghĩa là :
        Khi chưa gặp thời còn ở ẩn trong gian nhà cỏ. Và ta lại nhớ đến câu thơ của La Ẩn là :


                 Ngã Vị công thành khanh Vị giá         我未功成卿未嫁
là....
                 Ta Chưa đậu đạt nàng Chưa gả !


       Nhưng nếu nét ngang ngắn nằm ở phía dưới nét ngang dài, thì ta có chữ MẠT 末, có nghĩa là Cuối, là Tận Cùng. Như Mạt Lộ 末路 là Cuối đường, là cùng đường. Anh Hùng Mạt Lộ 英雄末路 là Anh hùng đã đến bước đường cùng. Từ đó ta có các từ như Lê Mạt là Cuối đời Lê; Mạt Vận là Vận cùng, là Hết Thời rồi....

Và...
       Nếu trên đầu chữ MỘC 木 có thêm một nét phẩy về phía bên trái như một bông lúa trổ nặng oằn đầu xuống 禾, thì đọc là HÒA, có nghĩa là Cây Lúa, như ông bà xưa đã dạy :


                   Học giả như HÒA như đạo,         學者如禾如稻,
                   Bất học giả như cảo như thảo.   不學者如稿如草,
có nghĩa :
     Người có học thì như Cây Lúa, hạt lúa, còn...
     Người không có học thì như cọng rơm cọng cỏ.


    Cây lúa hạt lúa nuôi sống con người thì giá trị cao hơn là cọng cỏ cọng rơm chỉ nuôi sống có trâu bò mà thôi !

                    dcd_Mar24_6words.jpg


                                VỊ là Chưa           MẠT là Cuối                  HÒA là Cây Lúa

 

       Ngoài ra, nếu phía dưới phần rể của  Mộc 木 là Cây có thêm một nét ngang ngắn nữa, thì đọc là BỔN 本, có nghĩa là Cái Gốc cây, cái Cội Cây, như ông cha ta đã dạy :


                       MỘC BỔN Thủy Nguyên        木本水源
là...
                       Cây có cội, nước có nguồn.


       Nên BỔN hiểu rộng ra là cái nguồn gốc, cái Vốn Liếng lúc ban đầu. BỔN là Tiền vốn, nên khi khai trương buôn bán hay khi Tết nhứt, giới thương buôn hay chúc nhau câu :


                      Nhứt BỔN vạn lợi               一本萬利
có nghĩa :
      Một đồng vốn, một muôn ( mười ngàn ) đồng lời ! Quả là tham lam quá độ, trong khi người Việt Nam ta chỉ chúc nhau có :


                      Một đồng Vốn Bốn đồng lời ...  mà thôi !

 

     BỔN 本 là Vốn, cả đến khi dùng làm Phó Từ Bổn Lai 本來 cũng có nghĩa Vốn Dĩ, Vốn Là, như trong thành ngữ Bổn Lai Diện Mục 本來面目 : là Mặt Mũi Vốn Có, là Mặt mũi gốc, là Bộ mặt thật. Hai câu chót trong bài kệ : Bồ Đề bổn vô thọ, Minh kính diệc phi đài 菩提本無樹,明鏡亦非臺 của Lục Tổ Huệ Năng là:


                   BỔN LAI vô nhất vật,       本來無一物,
                   Hà xứ nhạ trần ai ?          何處惹塵埃 ?
Có nghĩa :

               Vốn dĩ không có vật gì cả, thì chỗ nào để mà nhuốm bụi trần đây ?


       Mộc là cây, nhưng Mộc Nhĩ 木耳 không phải là Lổ Tai Cây, mà là Nấm Mèo, một loại nấm có hình dạng giống như là Lổ Tai của con mèo. Cũng như Mộc Ngư 木魚 không phải là Con cá bằng cây, mà là cái Mỏ của các nhà sư dùng để gỏ lốc cốc khi tụng kinh niệm Phật. Và Mộc Kê 木雞 không phải là Con gà gỗ, mà là Hình Dung Từ chỉ sự Ngẩn Ngơ như con gà bằng gỗ, đứng Đực ra một chỗ. MỘC NGẪU 木偶 : là Hình Cây, là con rối, có nghĩa như là Bù Nhìn, thường dùng để chỉ người không linh động, phải giựt dây mới nhúc nhích ! Còn đối với dân bợm nhậu thì ta có từ Mộc Tồn. Mộc Tồn 木存 không phải chỉ Cây Còn mà là chỉ... Con Cầy, một loại chó nhỏ như con chồn thịt rất ngon, nhậu rất bắt.

Mộc là Cây, nhưng cây cũng dùng để xẻ thành ván, nên Mộc cũng có nghĩa là Ván, như trong thành ngữ Mộc Dĩ Thành Chu 木已成舟. Ta nói là Ván Đã Đóng Thuyền, như trong lời nói của Vương Viên Ngoại an ủi Kim Trọng khi chàng trở lại Vườn Thúy tìm Kiều :


                          Bây giờ Ván Đã Đóng Thuyền,
                   Đã đành phận bạc khôn đền tình chung.


      Nhưng cũng có những chiếc thuyền không cần phải đóng, chỉ khoét bọng thân cây lớn là ta đã có ngay một chiếc Thuyền Độc Mộc. Còn Cầu Độc Mộc thì chỉ cần một thân cây bắt ngang qua mương rạch là ta đã có ngay một Độc Mộc Kiều 獨木橋, với câu tục ngữ : " Anh đi đường cái quan của anh, còn tôi qua cầu độc mộc của tôi ".Ý chỉ việc ai nấy làm, không nên chen vào việc làm của người khác . Người Hoa nói là : Nễ tẩu nễ đích dương quan đạo, ngã qúa ngã đích độc mộc kiều 你走你的陽關道,我過我的獨木橋 ! Và như câu thơ đầu tiên của Thế Lữ trong bài Giây Phút Chạnh Lòng :

 

                        Anh đi đường anh, tôi đường tôi,

                        Tình nghĩa đôi ta có thế thôi !...

 

     Mộc còn là tên gọi chung cho Hoa Thảo Thọ Mộc 花草樹木, ta nói là Cỏ Cây Hoa Lá, là những thực vật khô héo úa tàn trong mùa đông lạnh lẽo, chỉ hồi sinh và sống lại trong ánh nắng ấm áp của mùa xuân mà thôi. Nên ông bà ta cũng thường nhắc nhở con cháu bằng câu :


                 Khô mộc phùng xuân do tái phát,      枯木逢春猶再發,
                 Nhân vô lưỡng độ tái thiếu niên.        人無兩度再少年。
Có nghĩa :
          Cây khô khi gặp mùa xuân còn tái phát để xanh tươi trở lại, chớ...
          Con người thì không có hai lần được trẻ lại bao giờ. Cho nên phải cố gắng mà trân trọng lấy tuổi xuân của mình để phát huy hết những ưu thế của tuổi hoa niên như bài thơ Vãn Xuân 晚春 của Hàn Dũ 韓愈 sau đây :


             草木知春不久歸,     Thảo mộc tri xuân bất cửu quy,
             百般紅紫鬥芳菲。     Bách ban hồng phấn đấu phương phi.
             楊花榆莢無才思,     Dương hoa du giáp vô tài tứ,
             惟解漫天作雪飛。     Duy giải mạn thiên tác tuyết phi.


Có nghĩa :

                   Cây cỏ biết xuân sắp " bái bai "(bye-bye).
                   Muôn hồng ngàn tía trổ khoe hay.
                   Vô tài nở trắng hoa dương liễu,
                   Chỉ biết đầy trời giả tuyết bay !


        Vãn Xuân 晚春 là xuân sắp tàn, nàng xuân sắp từ biệt để ra đi, nên tất cả các loài hoa đều cố gắng nở bung ra để khoe hết cái đẹp của mình trong mùa xuân; chỉ có du giáp ( như hoa lau của ta ) và dương liễu không có hương sắc gì đặc biệt, chỉ biết nở hoa trắng xóa để giả làm tuyết bay mỗi khi có cơn gió xuân thổi đến mà thôi ! Mùa xuân mà giả làm tuyết bay thật không hợp thời chút nào cả, nhưng khả năng chỉ có thế, và chỉ biết làm hết sức của mình mà thôi. Hàn Dũ muốn khuyên ta hãy cố gắng thi thố hết khả năng của mình để đừng uổng phí tuổi xuân, mặc dù cái năng lực của mình không bằng được người, không đáp ứng được thực tế trước mắt, nhưng ít ra cũng tạo được một cảm giác đẹp như hoa dương liễu giả tuyết bay trắng cả trời xuân. Còn hơn không có gì cả !

                   dcd_Mar24_duonglieu_tuyet.jpg 

                             Vô tài nở trắng hoa dương liễu,

                             Chỉ biết đầy trời giả tuyết bay !

 

          Mộc là Thảo Mộc 草木, là cây cỏ, tuy vô tri vô giác, mềm mại hiền lành, nhưng nếu ta biết khéo lợi dụng thì Cây Cỏ sẽ có sức mạnh còn hơn là thiên binh vạn mã nữa ! Xin mời đọc về tích của thành ngữ Thảo Mộc Giai Binh 草木皆兵 sau đây sẽ rõ :


          Công Nguyên năm 383, Tiền Tần Vương Phù Kiên sau khi thống nhất một dãy ven sông Hoàng Hà, định tập trung đủ 90 vạn quân sẽ đem quân đánh ụp tiêu diệt nước Đông Tấn, bèn phái em là Phù Dung làm tiên phong chiếm lấy thành Thọ Dương. Phù Dung đánh lấy thành một cách dễ dàng, biết Đông Tấn binh yếu lại thiếu lương thực, mới đề nghị với Phù Kiên nhanh chóng  đánh chiếm  Đông Tấn. Phù kiên không đợi binh lực tập trung đầy đủ, lập tức đem quân tấn công Đông Tấn ngay.
       Tướng Đông Tấn là Tạ Thạch biết được binh lực của Tần chưa tập trung đầy đủ, bèn dùng kế khích tướng  thách Phù Kiên nếu muốn phân cao thấp thì hãy lui binh một dặm, mình sẽ đem binh qua sông Phì Thủy quyết một trận hơn thua, bằng nếu sợ thua thì hãy đầu hàng ngay đi. Phù Kiên cả giận, định giả vờ lui binh, đợi cho binh Tấn qua sông nửa chừng sẽ quay lại đón đánh một trận cho tan tác binh nhung. Nào ngờ, lòng binh Tần đã chán nản vì chinh chiến lâu ngày, nay thấy sứ giả quân địch vừa rời trại thì chủ tướng bèn ra lịnh lui binh, nên lòng càng hoảng sợ mạnh ai nấy chạy người ngựa ngổn ngang dẫm đạp lên nhau hổn loạn thành một khối. Phù Kiên ra lệnh dừng lại thì đã không còn kịp nữa. Bên kia sông Tạ Thạch thấy thế bèn thừa cơ hạ lịnh quân sĩ cấp tốc sang sông truy sát. Quân Tần thấy quân Tấn qua sông ráo riết càng hoảng sợ hơn dẫm đạp lên nhau mà chạy trốn, đến nỗi nghe cơn gió thổi qua cây cỏ lào xào cũng tưởng là quân Tấn đã đuổi đến nơi rồi.  Sự kiện nầy đưa đến câu thành ngữ THẢO MỘC GIAI BINH
草木皆兵, có nghĩa : C cây cũng đều là binh lính cả ! Điều nầy làm ta nhớ lại đầu tháng 4 năm 1975 với DI TẢN CHIẾN THUẬT của Miền Nam, dân quân của Vùng 1 và Vùng 2 Chiến Thuật chỉ biết cắm đầu cắm cổ chạy trối chết, làm hỗn loạn cả Miền Trung, Cộng Sản Bắc Việt bất chiến tự nhiên thành, chiếm trọn Miền Trung một cách dễ dàng và uy hiếp Sài Gòn trong chớp mắt... 
        Còn trận đánh trên quân Tần cũng đại bại. Phù Dung chết trong đám loạn quân, còn Phù Kiên trúng tên bị thương may mà chạy thoát được. Sử gọi trận đánh nầy là PHÌ THỦY CHI CHIẾN
淝水之戰. 
         Tạ Thạch cũng như Cộng Sản Bắc Việt đã biết lợi dụng cái nhược điểm của kẻ địch để làm cái thuận lợi cho sự chiến thắng của mình, cũng như biết lợi dụng thời cơ biến cỏ cây hoa lá của núi rừng Tây Nguyên có sức mạnh như là thiên binh vạn mã vậy ! Âu cũng là cái khí số của quân dân Miền Nam đã đến hồi mạt vận, nên mới dẫn đến cái chiến thuật sai lầm làm cho Miền Nam chết một cách tức tưởi, và ngay cả cấp chỉ huy của Bắc Việt cũng không ngờ được là chiến thắng đến một cách nhanh chóng như thế.

                                    dcd_mar24_word_grp.jpg 

 Sang qua sử VN, chữ Mộc 木 còn làm cho ta nghĩ đến chữ LÊ 梨 là Cây Lê là Trái Lê, là chữ đồng âm với chữ Lê là họ LÊ 黎 trong bài Sấm trên cây Gạo làng Diên Uẩn như sau :


         Tương truyền, năm 1009, sau 73 năm tồn tại, cây gạo làng Diên Uẩn bị sét đánh nhưng không chết. Theo ghi chép của sử sách ( Việt Sử lược, Đại Việt Sử Ký toàn thư, Việt Sử tiêu án, Khâm định Việt Sử Thông Giám cương mục ), tại chỗ sét đánh trên thân cây có bài thơ sấm mà có ý kiến cho rằng tác giả chính là sư Vạn Hạnh. Bài sấm như sau :               

                    樹根杳杳      Thụ căn diểu diểu

                    木表青青      Mộc biểu thanh thanh

                    禾刀木落      Hòa đao mộc lạc

                    十八子成      Thập bát tử thành

                    東阿入地      Đông a nhập địa

                    木異再生      Mộc dị tái sinh

                    震宮見日      Chấn cung kiến nhật

                    兑宮隠星      Đoài cung ẩn tinh

                    六七年間      Lục thất niên gian

                    天下太平      Thiên hạ thái bình

Có nghĩa :

        "Thụ căn diểu diểu", chữ căn nghĩa là gc, gc tc là vua, ch diu đồng âm vi yu là Non nt, nên hiu là yếu. "Mc biu thanh thanh", ch biu là b ngoài, nghĩa là ngn, ngn tức là bề tôi, chữ thanh là Màu xanh, âm gn ging vi ch thnh nghĩa là thnh; Hòa, đao, mc, ghép li là ch Lê ; Thp, bát, t là ch Lý ; Đông A là ch Trn ; nhp địa là phương Bc vào cướp: "Mc d tái sinh" là h Lê khác li sinh ra. "Chn cung kiến nhật", chấn là phương Đông, kiến là mọc ra; nhật là thiên tử. "Đoài cung ẩn tinh", "đoài" là phương tây, "ẩn" cũng như lặn, "tinh" là sao, nghĩa là thứ dân. Mấy câu này ý nói là vua thì non yếu, bề tôi thì cường thịnh, họ Lê mất, họ Lý nổi lên, thiên tử ở phương đông mọc ra thì thứ nhân ở phương tây lặn mất, trải qua 6, 7 năm thì thiên hạ thái bình.

 Cách CHIẾT TỰ chơi chữ của bài thơ :

      Câu 3: chữ Hòa (禾) + bộ Đao (刂 ) + chữ Mộc (木) bên dưới, ghép lại thành chữ Lê (梨) là Trái Lê, đồng âm với chữ (黎) là họ LÊ. Câu 3 tiên đoán : Lưỡi đao mỏng như lá lúa đốn ngã cây, có nghĩa nhà Tiền Lê ( Lê Đại Hành ) sẽ mất.

      Câu 4: chữ Thập (十) + chữ Bát (八) thành chữ Mộc 木, + chữ Tử (子) bên dưới thành chữ Lý (李). Câu 4 tiên đoán nhà Lý sẽ lên thay nhà Lê.

      Câu 5: chữ Đông (東) ghép với chữ A (阿) thành chữ Trần (陳). Câu 5 tiên đoán họ Trần vào nước Việt làm vua.

      Câu 6: cây khác lại sinh. Sấm ra đời thời Lê. Cây lê khác lại sinh, tiên đoán nhà Hậu Lê ( Lê Lợi ) kế tục nhà Trần.

      Câu 7: phương Đông có mặt trời, ứng vào nhà Mạc khởi xuất từ phía Đông (Hải Dương) thay nhà Hậu Lê.

      Câu 8: sao ẩn mình phía tây. Có các ý kiến khác nhau về câu này. Có ý kiến cho rằng câu này chỉ chúa Trịnh đóng phủ ở phía Tây kinh thành Thăng Long, " ẩn mình " là không ra mặt xưng vua nhưng lại nắm thực quyền hơn vua. Có ý kiến cho rằng " phía Tây " trong câu 8 là ám chỉ nhà Tây Sơn.

     Câu 9 và câu 10: Có ý kiến cho rằng " lục thất " chỉ nhà Nguyễn, triều đại cuối cùng của Việt Nam. Nhưng cũng có ý kiến cho rằng chưa có lời giải đáp cụ thể cho 2 câu này.

         Tổng quát, bài thơ được giải mã mang nội dung tiên đoán việc nhà Lý nối nghiệp nhà Tiền Lê, cũng như tên các triều đại kế tục tiếp theo trong lịch sử Việt Nam suốt từ thế kỷ 11 đến thế kỷ 20, từ khi nhà nước Phong kiến trung ương tập quyền ở Việt Nam hình thành ổn định tới khi kết thúc thời phong kiến.

         Điều đáng lưu ý là Việt sử lược ra đời thời Trần nhưng không chép 2 câu: "Đông a nhập địa, Mộc dị tái sinh" liên quan tới chính nhà Trần và nhà Hậu Lê. Các nhà nghiên cứu căn cứ vào đây mà cho rằng :
         Bài sấm này được Vạn Hạnh Thiền Sư làm ra để tạo dư luận cho Lý Công Uẩn lên ngôi một cách thuận lợi theo ý trời.

         Hai câu này do người đời sau (Trần, Hậu Lê) sáng tác xen thêm vào cho đủ các đời vua từ Ngô, Đinh, rồi đến LÊ ( tiền ), LÝ, TRẦN, LÊ ( hậu ), còn Tây Sơn và Nguyễn thì hãy còn mơ hồ.

          dcd_mar24_TSVanHanh.jpg         

 

         Mộc 木 là một trong Ngũ hành 五行 : Kim, MỘC, Thủy, Hỏa, Thổ, theo Kinh Dịch là 5 tố chất tạo nên tất cả mọi sự vật trong vũ trụ nầy. Như Mộc Vương 木王 là Vua Cây, ý chỉ trong mùa Xuân thì lấy cây cỏ làm chủ tể tượng trưng cho sức sống đang hồi sinh một cách mãnh liệt. Mộc Hành 木行, ta nói là Hành Mộc, chỉ Mộc Đức là cái đức của mùa xuân, của trời đất cho cây cối đâm chồi nẩy lộc. Mộc Khí 木气 là cái hơi hám, mùi hương của cỏ cây hoa lá, là cái Can Khí 肝气 điều hòa trong lá gan của con người. Mộc Tinh 木星 là Sao Mộc, theo chiêm tinh học thì đây là vì sao may mắn cho ai có lưu tinh là Mộc Tinh trong năm. Bài vị cúng sao trong ngày vía Ngọc Hoàng của mồng 9 Tết hằng năm ghi : Đông phương Giáp Ất Mộc Đức Tinh quân chi vị 東方甲乙木德星君之位. Khác với... 

        Mộc Tinh trong Thái Dương Hệ hiện nay là Jupiter, đứng ngôi thứ 5 và là một hành tinh lớn nhất trong Thái Dương Hệ, lớn hơn cả Địa Cầu có màu xanh của cây cỏ.

                  DCD_MAR24_MOCtINHtHAIdUONGhE.jpg 

               Mộc Tinh 木星 trong Thái Dương Hệ là Jupiter

 

         Ngoài nghĩa là cây, Mộc 木 còn có nghĩa là LÁ, như trong thành ngữ Mộc Lạc Quy Bổn 木落歸本. Có nghĩa như là Diệp Lạc Quy Căn 葉落歸根, ta nói là Lá Rụng Về Cội. Hay như 2 câu trong bài thơ Đăng Cao của Đỗ Phủ là :


                 無邊落木蕭蕭下,       Vô biên lạc mộc tiêu tiêu hạ,
                不盡長江滾滾來。      Bất tận Trường Giang cổn cổn lai.
Có nghĩa :
                      Rạt rào lá đổ bên trời thẳm,
                     Cuồn cuộn Trường Giang nước chảy dài !

 

     Hay như 2 câu đầu trong bài Tảo Hàn Giang Thượng Hữu Hoài của Mạnh Hạo Nhiên :

 

                  木落雁南渡,      Mộc lạc nhạn nam độ,

                  北風江上寒.      Bắc phong giang thượng hàn.

Có nghĩa :

                  Lá rụng nhạn xuôi nam,

                  Trên sông gió bấc tràn.

 Mộc là Cây, mà cây hiện diện trong tất cả các mặt của đời sống, từ cây ngô, cây khoai, cây lúa cho gạo thóc để nuôi sống con người , cho đến nhà cửa vật dụng chung quanh đời sống nhất nhất đều bằng... Mộc, như muổng, đủa, bàn, ghế, tủ, giường, phòng ôc ... kể cả cỏ cây hoa lá để điểm tô làm đẹp thêm cho đời sống con người đngều có gốc... Mộc cả ! Ngạn ngữ Trung Hoa xưa có câu :


                 Nhất niên thọ đạo,       一年樹稻,
                 Thập niên thọ mộc,      十年樹木,
                 Bách niên thọ nhơn.     百年樹人!
Có nghĩa :
              - Vì lợi ích trong một năm thì trồng lúa,
              - Vì lợi ích của mười năm thì trồng cây,
              - Vì lợi ích của trăm năm thì phải đào tạo con người !

                                  DCD_MAR24_lastpic.jpg 

                 Đời sống của con người không thể rời xa chữ Mộc được, kể cả khi chết đi rồi vẫn còn phải nằm trong Quan Mộc 棺木, mà ta quen gọi là Quan Tài 棺材, là cái hòm đựng thây người chết ! Nhớ khi xưa, các danh hài Tùng Lâm và Phi Thoàng đã từng đố nhau : Trên Mộc dưới Thổ là ...  Cái Quan tài chưa chôn, trên Thổ dưới Mộc là ... Cái quan tài đã chôn rồi và câu đố hóc búa là : Trên Thổ giữa Mộc dưới Thổ là... " Thằng Thổ mang guốc " !

 

        Người xưa để lại 4 chữ " Cái Quan Luận Định 蓋棺論定 " ý nói : Khi nắp quan tài đã đóng lại rồi thì mới biết chắc chắn con người đó là như thế nào, mới luận định một cách chính xác thị, phi, thành, bại, hơn thua, anh hùng hay tiểu nhân, có công hay có tội... Nắp quan tài chưa đóng thì còn chưa biết ai như thế nào và ai đã hơn ai !?

 

       Xin được khép lại bài phiếm " Mộc là Cây " ở đây khi... nắp quan tài còn chưa khép lại và mùa xuân chỉ mới bắt đầu mang sức sống mới đến với tất cả hoa lá cỏ cây !

 

Đỗ Chiêu Đức____________________________

Phiếm về...

               TUẤT CHÓ CẨU KHUYỂN 

                      dcd_2018dog.jpg
     

 

       Tuất là ngôi thứ mười một của Địa Chi, cầm tinh con Chó, mà chó thì chữ Nho gọi là Cẩu, mà chữ cẩu lại nằm trong bộ Khuyển, và năm khuyển lại là năm Tuất. Cứ thế, vòng vòng trở lại cắn đuôi con ... khuyển. Năm Tuất nói chuyên con CHÓ, con CẨU, con KHUYỂN là nói chuyện bao đồng về con vật bốn chân nầy để nghe chơi đỡ buồn khi trà dư tửu hậu.

        KHUYỂN là một trong 214 bộ của CHỮ NHO ... DỄ HỌC theo diễn tiến của chữ viết như sau :

    Giáp Cốt Văn  Kim Văn     Đại Triện     Tiểu Triện    Lệ Thư    

       

dcd_cauwords.jpg

 Ta thấy :

       Giáp Cốt Văn là hình tượng của con chó được nhìn từ góc độ sau ra trước, đuôi chó cong lên đang cất cao đầu vểnh hai tai như đang sủa trăng, đến Kim Văn ( Chung Đỉnh Văn ) thì mình chó được đơn giản hóa bằng một nét vẽ hót vào như ... bụng chó, đến Đại Triện thì các nét  được viết bằng nhau. Tiểu Triện thì nét chữ đã thành hình bằng các nét biểu tượng và đến chữ Lệ ở cuối đời Tần thì các nét chữ đã được kéo thẳng ra như chữ viết hiện tại 犬.

      KHUYỂN 犬 là Chó nói chung, con vật bốn chân được thuần hóa rất sớm, cùng với con ngựa thành một cặp Khuyển Mã 犬馬, cùng sống chung và cùng tiến hóa với con người.

      Bộ Khuyển 犬 khi ghép với các bộ khác để tạo chữ mới (18 chữ), thường  được đặt nằm bên tay phải, như chữ  THÚ 獸 là từ chỉ chung các con vật bốn chân. Ta có thành ngữ Phi Cầm Tẩu Thú 飛禽走獸 có nghĩa : Loài chim thì bay loài thú thì chạy. Nhưng ...

      Thường thì bộ Khuyển 犬 được đặt nằm bên phía trái của chữ ( khoảng 198 chữ ) và được viết cách điệu 犬 thành 犭để viết cho nhanh và chữ được ghép sẽ đẹp hơn, tiêu biểu là chữ CẨU 狗.

      CẨU 狗 nguyên nghĩa là Con Chó Nhỏ, thường dùng trong văn nói, sau thông dụng với KHUYỂN, rồi tùy theo tập quán của từng vùng quen sử dụng CẨU hay KHUYỂN mà ta có các từ như : Liệp Cẩu 獵狗 là Chó Săn, Tẩu Cẩu 走狗 là Làm Tay Sai cho ai đó, Cảnh Khuyển警犬 là Chó Cảnh Sát, Quân Khuyển 軍犬 là Chó Quân Đội ...

                        Năm nay 2018, Thiên Can nhằm ngôi thứ 5 là chữ Mậu, hợp với Địa Chi ngôi thứ 11 là Tuất, nên ta có năm MẬU TUẤT 戊戌. Mậu Kỷ thuộc Thổ, biểu tượng là màu Vàng. Con chó mà màu vàng dân Nam Kỳ Lục Tỉnh chúng tôi gọi nó là con Phèn, có thể là do những vùng đất mới khai phá khi nước rút đi còn để lại một lớp bùn màu vàng đậm, bà con ta gọi là đất phèn. Phải qua vài mùa nước chắc cho sạch phèn thì đất mới trồng tỉa được. Đời sống của dân miệt vườn miệt ruộng luôn gắn liền với các con Phèn, con Mực, con Vện, con Vá ... mà người nước ngoài học nói tiếng Việt luôn đau đầu vì các tên gọi nầy ...

      Con chó màu vàng thì gọi là con Phèn, màu đen thì gọi là con Mực, có sọc vằn vện đen trắng lẫn lộn thì gọi là con Vện, có đốm đen đốm trắng thì gọi là con Vá, và nếu toàn một màu trắng thì gọi là con Chó Cò như các câu vè về 12 con giáp :

 

                       Tuổi Tuất là con Chó Cò,

                 Nằm khoanh trong lò lổ mũi lọ lem.

 

      Theo Tử vi Đẩu số thì con chó hợp với con ngựa con cọp thành một bộ Dần Ngọ Tuất tam hạp. Chó và Ngựa hợp nhau vì cùng tiến hóa với con người, chớ Cọp thì làm sao mà hợp cho được. Chúa sơn lâm chỉ cần gầm lên một tiếng là chó và ngựa qụy xuống không còn chạy nổi nữa ! Trừ phi nó là con cọp ... lạc đường đi xuống đồng bằng như câu ông bà ta thường nói :

            Hổ lạc bình dương bị khuyển khi   虎落平陽被犬欺

Có nghĩa :

       Cọp mà đi lạc xuống đồng bằng thì cũng bị chó khinh khi, dễ ngươi, như anh hùng thất thế bị kẻ tiểu nhân khi dễ vậy. 

                 Tứ Hành Xung thì có Thìn Tuất Sửu Mùi, bốn cung nầy đều thuộc thổ và đều ở trung ương. Mậu Kỷ cũng thuộc thổ ở trung ương, nên Năm Mậu Tuất 2018 nầy là con chó hoàn toàn bằng đất, đất cả Thiên can lẫn Địa chi. Bản thân con chó đất đã khó bảo toàn còn mong gì phù hộ giúp đỡ cho ai được nữa ! Tháng Tuất là Tháng 9 âm lịch trong năm, người Quảng Đông phát âm Cửu và Cẩu giống nhau, nên họ gọi tháng 9 là tháng Chó, là tháng bắt đầu ăn thịt chó cho ấm vì trời đã cuối thu sắp sang đông.  Nhớ khi xưa trên đường Nhân Vị ( sau 1963 đổi thành Trần Hoàng Quân, sau 1975 đổi thành Nguyễn Chí Thanh ) đoạn bên hông nhà thương Chợ Rẩy bên kia đường Quận 11 là các quán lề đường bán thịt chó ngon nổi tiếng Sài Gòn Chợ Lớn với chiêu bày " Hương Nhục 香肉 " là Thịt Thơm. Theo giới ăn nhậu thì thịt chó dính răng của đêm trước, sáng hôm sau xiả ra miếng thịt vẫn còn thơm ! Thật vậy, hễ đèn đường nổi lên là cả khu vực nầy bát ngát mùi Hương Nhục mà không cần phải có :

 

                    Con chó khóc đứng khóc ngồi 
                    Bà ơi đi chợ mua tôi đồng riềng... gì cả !

 

       Còn giờ Tuất là từ 7 đến 9 giờ tối, giờ của cuối canh một, là giờ của anh chàng họ Sở hẹn với Thúy Kiều " Ba mươi sáu chước chước gì là hơn ? " để bỏ trốn khỏi lầu xanh bằng một bức tiên mai, với rành rành TÍCH VIỆT có hai chữ đề. Cô Kiều đã qúa thông minh nên mắc bẫy :

                        Lấy trong ý tứ mà suy.

               Ngày hai mươi mốt Tuất Thì phải chăng ?

Vì 2 chữ TÍCH VIỆT 昔越 chiết tự ra thành 廿一日走戌 trấp nhất nhựt tẩu tuất. Có nghĩa : Ngày hai mươi mốt sẽ bỏ trốn vào giờ Tuất.


       Trong " Lục Súc Tranh Công " giữa trâu, chó, ngựa, dê, gà, lợn thì con chó cũng đã kể lể rằng :

 

        .... Đêm năm canh, con mắt như chong, 
             Đứa đạo tặc nép oai khủng động. 
             Ngày sáu khắc, lỗ tai bằng trống, 
             Đứa gian tham thấy bóng cũng kinh.

             Lại đến ngày kỵ lạp tiên sinh,
             Cũng ra sức săn chồn, đuổi sóc.
             Bao quản chui gai, lước góc,
             Chi này múa mỏ, lòn hang....

      Rất thực tế, toàn là những việc tầm thường chung quanh cuộc sống với con người : Canh nhà giữ cửa, đề phòng kẻ gian trôm cắp, chui gai lướt góc, đuổi sóc săn chồn ... không có thành tích chiến công to lớn như những con vật khác, nhưng con chó rất thân mật. sát sao và gần guĩ với con người, nhất là lòng trung thành của chó với chủ nhà thì không có con vật nào dám so bì cả, kể cả con ... người, có lắm người lòng trung thành cũng không bằng được chó !  Thế nên, thành ngữ đầu tiên ca ngợi chó là bốn chữ Trung Trinh Bất Nhị 忠貞不二, Có nghĩa là Lòng trung thành của chó luôn luôn bền vững, không có hai lòng, dù cho có xa cách bao nhiêu năm trường, khi gặp lại chủ cũ, con chó vẫn còn nhớ để vẩy đuôi chào mừng như thường. Có rất nhiều truyện kể cả Đông lẫn Tây, khi chủ chết đi, chỉ có con chó là còn quanh quẩn chung quanh mộ của chủ, và lắm con còn nằm chết luôn bên mộ chủ nữa mới thật là cảm động !

  dcd_trungtrinhbatnhi.jpg                 

      Trung Trinh Bất Nhị

 

      Một lòng với chủ, theo chủ hết lòng, nên ta còn có thành ngữ : Kiệt Khuyển Phệ Nghiêu 桀犬吠堯. Có nghĩa : Con chó của vua Kiệt sủa vua Nghiêu. Kiệt là hôn quân bạo chúa của đời nhà Hạ; Nghiêu là một minh quân nhân đức của đời cổ đại. Thành ngữ nầy có xuất xứ từ Chiến Quốc Sách, chỉ nêu lên lòng trung thành của chó luôn luôn hết lòng vì chủ, không cần biết đến việc chủ tốt hay là xấu, chỉ biết một mực trung thành với chủ, cũng như những người luôn đi theo ca ngợi Tổng thống Donald Trump vậy, chỉ biết có ông Trump là số một mà thôi ! Theo Chiến Quốc Sách ...

         Vào thời vua Cảnh Đế đời Tây Hán, có danh sĩ giỏi mưu lược là Trâu Dương, theo về và làm việc dưới trướng của Ngô Vương Lưu Tị. Sau Lưu Tị định làm phản, Trâu Dương nhiều lần can gián, nhưng Tị vẫn không nghe, Dương bèn bỏ Tị theo về với Lương Hiếu Vương Lưu Võ. Mưu thần tâm phúc của Lưu Võ là Công Tôn Ngụy có lòng đố kỵ Trâu Dương, bèn đem việc trước đây Dương theo Ngô Vương định làm phản nói cho Hiếu Vương nghe. Vương giận, nên bắt Trâu Dương giam vào ngục, định sẽ xử tử hình. Trong ngục, Trâu Dương viết một bức thơ nổi tiếng để lại trong văn học, đó là " NGỤC TRUNG THƯỢNG LƯƠNG VƯƠNG THƯ 獄中上梁王書 " Có nghĩa : Thơ viết trong ngục gởi đến Lương Vương. Nôi dung bức thơ nêu ra rất nhiều nhân vật lịch sử bị nghi oan, thậm chí bị bức hại đến chết trong ngục tối, thực ra họ đều là những trung thần liệt sĩ. Cuối thơ, ông nêu lên câu " Kiệt Khuyển Phệ Nghiêu 桀犬吠堯 " với hàm ý : Ai vì chúa nấy, lúc đó tôi đang theo phò Ngô Vương, nên phải hết lòng với Ngô Vương mà bài bác ông, bây giờ tôi theo về với ông rồi thì tôi cũng sẽ hết lòng với ông mà thôi ! Trước đây tôi " sủa " ông, bây giờ  tôi sẽ " sủa " người khác. OK !

     dcd_trietkhuyenphephieu.jpg       


    Kiệt Khuyển Phệ Nghiêu

 

       Một con chó nữa rất nổi tiếng trong văn chương, đó là con chó xanh trong thành ngữ BẠCH Y THƯƠNG CẨU 白衣蒼狗. Có nghĩa là Áo Trắng Chó Xanh. Theo tích sau đây :

       Thư sinh Vương Qúy Hữu đời Đường , có vợ là Liễu Thị, gia cảnh cơ hàn, nên vợ chồng rau cháo có nhau. Sau vì qúa nghèo túng bửa đói bửa no, nên Liễu Thị mới bỏ chồng mà đi. Bà con lối xóm đều không biết nội tình, ngỡ là Vương Qúy Hữu đuổi vợ đi, nên xúm nhau trách móc chàng. Nhà thơ Đỗ Phủ thấy vậy mới làm một bài Thất ngôn trường thiên minh oan cho Vương, gọi là " Khả Thán Thi 可嘆詩, có nghĩa : Bài thơ đáng Than Thở , nói lên sự đời, tình đời hay đổi thay, biến ảo khôn lường. Mở đầu bài thơ là 4 câu :

 

            天上浮云似白衣,    Thiên thượng phù vân tự bạch y,

            斯须改变如苍狗。  Tư tu cải biến như thương cẩu.

            古往今来共一时,  Cổ vãng kim lai cộng nhất thì,

            人生万事无不有 !   Nhân sinh vạn sự vô bất hữu !

Có nghĩa :

         Đám mây nổi ở trên trời tựa như là tà áo trắng,

         Chỉ trong phút chốc đã biến thành con chó màu xanh.

         Từ xưa đến nay cũng đều giống như thế cả,

         Muôn việc trên đời không có gì là không có cả !

 

     Hai câu thơ đầu đã được Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều mượn để diễn ý trong Cung Oán Ngâm Khúc rất hay là :

                       Lò cừ nung nấu sự đời,

            Bức tranh vân cẩu vẽ người tang thương !

                Thành ngữ trên có thể nói trại đi thành BẠCH VÂN THƯƠNG CẨU hay Thương Cẩu Bạch Y gì cũng được.

            dcd_bachythiencau.jpg

        Trong văn chương ta còn thấy một cái ... đuôi chó nữa, đó là câu Cẩu Vĩ Tục Điêu 狗尾續貂. Có nghĩa là lấy đuôi của con chó nối thay cho đuôi của con điêu. Điêu 貂 là một loài chồn sóc, to như con rái cá, lông đuôi dài màu vàng có khoan đen rất đẹp. Xưa kiểu phục sức của nhà Hán, mũ của các quan Thị-trung thường-thị hầu cạnh bên vua đều cắm đuôi con điêu, đúc con ve vàng đeo vào cho đẹp, vì thế gọi các kẻ quyền quý là "nhị điêu" , hoạn quan gọi là "điêu đang" . Thành ngữ Cẩu Vĩ Tục Điêu 狗尾續貂 có tích như sau :

        Sau khi Tấn Võ Đế Tư Mã Viêm chết, con trai là Tư Mã Trung nối ngôi là Tấn Huệ Đế. Huệ Đế bất tài, lại không rành việc triều chính, nên tất cả quyền hành đều lọt vào tay của Giả Hậu. Giả Hậu lại tính tình rất hung ác nham hiễm, nên Triệu Vương Tư Mã Luân mượn cớ nầy đem quân vào cung giết Giả Hậu, rồi tự phong mình làm tướng quốc. Vì muốn mua chuộc triều thần để mở rộng thế lực của mình, cho nên Tư Mã Luân phong quan tước bừa bãi, cả những  đứa trẻ 12, 13 tuổi cũng  được phong Hầu Tước. Khi vây cánh đã vững, bèn phế Huệ Đế đi để xoán ngôi vua. Theo quy định lúc bấy giờ, các vương công đại thần đội mão đều được trang sức bằng đuôi của con điêu. Nhưng vì Tư Mã Luân phong quan tước quá nhiều, nên không đủ đuôi điêu để làm mão, phải dùng đở đuôi chó để thêm vào, nên dân gian mới có câu vè nhạo rằng :" Điêu bất túc, cẩu vĩ tục 貂不足,狗尾续 ". Có nghĩa : Đuôi điêu không đủ, nên lấy đuôi chó nối vào. Vì thế thành ngữ Cẩu Vĩ Tục Điêu 狗尾續貂 có nghĩa là lấy tạm đồ dõm,đồ hạng hai để thay cho đồ tốt, đồ hạng nhất. Dùng rộng ra là đem cái dở mà nối liền với cái hay, như cô Kiều đã rất khiêm nhường nói với Thúc Sinh, khi Thúc sinh làm thơ vịnh cô đang tắm là :

                        Hay hèn ví cũng nối ĐIÊU,

                  Nỗi quê nghĩ một hai điều ngang ngang.

và vì ...

                        Lòng còn gởi áng mây vàng,

nên ...         Họa vần xin hãy chịu chàng hôm nay !

 

       Còn một con chó nổi tiếng trong Truyện Phong Thần là con HẠO THIÊN KHUYỂN 昊天犬 của Nhị Lang Thần Dương Tiễn. Theo sách Sưu Thần Ký 搜神记 thì ...

       Hạo Thiên Khuyển là một con chó nhỏ truyền kỳ của dân gian, lang thang kiếm ăn, bửa đói bửa no, chẳng những bị người đời đánh đuổi, mà còn lo sợ bị chó sói xé thịt. May sao mỗi lần gặp nạn đều được Nhị Lang Thần Dương Tiễn lúc bấy giờ là một tiểu đạo đang tu tập cứu giúp. Nói cũng lạ qua ba lần gặp nạn, con chó nhỏ nầy đều được Dương Tiễn cứu giúp kịp thời, nên Dương nghĩ rằng chắc nó có duyên với mình, mới dạy cho nó cách tu luyện và dẫn theo bên mình. Đến khi viên mãn thì cả chó lẫn người đều tu thành chánh qủa. Chiến công hiển hách của Hạo Thiên Khuyển được nhắc đến 2 lần trong Tây Du Ký, Lần thứ nhất là Hồi thứ Sáu khi Tôn Ngộ Không đại náo Thiên cung đánh với Nhị Lang Thần, Hạo Thiên Khuyển đã nhảy đến cắn vào bắp chuối làm cho con khỉ đá phải té nhào. Lần thứ hai là Hồi thứ 36 khi đánh với Cửu Đầu Trùng. Khi Cửu Đầu Trùng bay đến, áp sát mình Nhị Lang Thần, bên hông bỗng nhiên lại mọc ra thêm một cái đầu nữa định cắn Dương Tiễn. Hạo Thiên Khuyển vội vàng nhanh nhẹn phóng lên, sủa " Gâu " một tiếng, cắn đầu của con quái thú rơi xuống đất.

 

           dcd_DuongTien.jpg         

           Tượng  Dương Tiễn và Tạo hình trong Điện Ảnh

 

       Cũng cái con Hạo Thiên Khuyển nầy không chịu yên phận ở trên trời, nên có một lần trốn xuống trần gian để tác yêu tác quái. Lúc đó Lữ Động Tân, một trong Bát Tiên ở núi Bồng Lai, chỉ mới bắt đầu tu đạo, phụng mệnh dùng pháp bảo Bố Họa hồ lô đi thu phục. Khi Hạo Thiên Khuyển đã bị nhốt trong hồ lô rồi, Lữ Động Tân lại động lòng nhân đạo, sợ con chó trong hồ lô sẽ bị đốt thành tro bụi tội nghiệp, nên mới thiện tiện mở nút hồ lô thả nó ra. Không ngờ, vừa ra khỏi hồ lô, Hạo Thiên Khuyển quay đầu cắn cho Lữ Động Tân một phát rồi chạy tuốt. Vì vậy, nên ta lại có thêm một thành ngữ còn thông dụng đến hiện nay Là : CẨU GIẢO LỮ ĐỘNG TÂN, BẤT THỨC HẢO NHÂN TÂM 狗咬呂洞賓, 不識好人心。Có nghĩa : Chó cắn Lữ Động Tân, không biết là người có lòng tốt. Câu nầy thường chỉ được sử dụng có một vế đầu là Cẩu Giảo Lữ Đông Tân, có nghĩa giống như là " Làm ơn mắc oán " của ta vậy !

        Tích trên có xuất xứ từ Hồi 83 & 84 trong quyển truyện Thần thoại Trung Hoa " Bát Tiên Đắc Đạo Truyện 八仙得道傳 " hoặc Đông Du Bát Tiên 東遊八仙 ".

   dcd_caugiaoLudongtan.jpg           


 Cẩu giảo Lữ Động Tân, bất thức hảo nhân tâm 

    

      Chó hay sủa và hay cắn người. Mặc dù người dân Lục Tỉnh có câu " Chó sủa chó cắn ai !", ý nói : Chó chỉ sủa để " hù " người ta mà thôi chớ ít khi cắn ai lắm. Nói thì nói thế, chớ khi thấy con chó sủa quấu quấu, chòm tới nhe nanh múa vút thì ai cũng ... ớn cả, lở mà nó cắn cho một phát thì phải chích ... 60 mũi thuốc ngừa chó dại vào bụng. Nên đi đường mà gặp chó thì ai cũng " ngán " cả, nhất là giới ăn xin ăn mày, chẳng những sợ chó cắn mà còn sợ chó dành cả những thức ăn mà mình xin được trong ... miểng vùa. Vì thế mà trong tất cả những truyện võ hiệp của Kim Dung, ta thấy giới Cái Bang thường có cây gậy đánh chó, gọi là Đả Cẩu Bổng và Đả Cẩu Bổng Pháp là một môn võ công thượng thừa của Bang chủ Hồng Thất Công, một trong Võ Lâm Ngũ Bá, chẳng những dùng để đánh chó mà còn dùng để đánh cả những người xấu ... hơn chó nữa, lại có cả một Đả Cẩu Trận Pháp hẵn hoi. Các chiêu thức của Đả Cẩu Bổng Pháp thường đều có kèm theo một chữ Cẩu hay chữ Khuyển, như :

   * Ác cẩu lan lộ 惡狗攔路 : là Chó dữ chặn đường.
   * Bổng đả song khuyển 棒打雙犬 : là Gậy đánh hai con chó.
   * Bổng đả cẩu thủ 棒打狗首 : là Dùng gậy đánh vào đầu chó.
   * Tà đả cẩu bối 斜打狗背 : là Đánh xéo vào vai chó.

   * Thiên hạ vô cẩu 天下無狗 : là Thiên hạ không còn chó nữa.

      v.v... và... v.v.... Tất cả gồm 36 đường, xin tham khảo thêm trên web : CLB Vovinam Nguyễn Văn Cưng. Những Tuyệt Chiêu Của Đả Cẩu Bổng Pháp.
 

 dcd_HoangDung.jpg           


  Nữ hiệp Hoàng Dung với Đả Cẩu Bổng
 

     Thành ngữ tục ngữ về chó thì thật nhiều, như năm con Gà vừa qua, ta đã biết qua thành ngữ Kê Minh Cẩu Đạo 雞鳴狗盜 là Gà gáy chó trộm để chỉ những tên " Đầu trộm đuôi cướp ". Thành ngữ liên quan tới chó mà Hoa Việt gì đều thông dụng cả là : 

   * Đả cẩu khán chủ 打狗看主 ta nói là : Đánh chó kiên chủ nhà. 

   * Cẩu trệ bất như 狗彘不如 ta nói là : Không bằng heo chó, người Miền Bắc nói là : Không bằng chó lợn. Trệ 彘 là con heo nái, người Miền Bắc gọi là con Lợn Xề.

   * Lang tâm cẩu phế 狼心狗肺 là Lòng lang phổi chó, ta nói là : " Lòng lang dạ sói ".

   * Đả kê mạ cẩu 打雞罵狗 là Đánh gà chưởi chó, ta nói là " Chưởi chó mắng mèo ".  

   * Quải dương đầu mãi cẩu nhục 掛羊頭賣狗肉 : Ta nói là " Treo đầu dê bán thịt chó ". Chỉ các con buôn làm ăn gian dối. 

   * Cẩu chủy lý trưởng bất xuất tượng nha 狗嘴裡長不出象牙 : Ta nói là : " Miệng chó không mọc ra được ngà voi ". 

   * Họa hổ bất thành phản loại khuyển 畫虎不成反類犬 : Ta nói là " Vẽ cọp không xong lại giống chó ", Chỉ sự vụng về, không khéo léo về mọi mặt. Trong Lục Vân Tiên của cụ Đồ Chiểu, dân làng đã khuyên Vân Tiên khi chàng định đi đánh tướng cướp Phong Lai :

                         E khi họa hổ bất thành,

                Khi không mình lại xô mình xuống hang.

   * Cẩu bất thực phân 狗不吃屎 là Chó không ăn cứt, ta nói là " Chó chê cứt " để chỉ sức khỏe không tốt, vì Cứt là món khoái khẩu của chó mà lại chê, chứng tỏ là khẩu vị hoặc sức khỏe có vấn đề. Nếu không thì là " làm bộ chó ". Vì ca dao của ta có câu :

                       Thân em như cục cứt trôi sông,

              Phận anh như con chó đói chạy rông trên bờ !  

còn gì đau khổ hơn là thấy đồ ăn mà mình yêu thích lại không thể " quằm " được !  Như chàng trai thấy cô gái mà mình thương hơ hớ ra đó mà không sao " thương " được, vì môn đang hộ đối, vì thân phận nghèo hèn ... Thật đau khổ và tội nghiệp vô cùng, khi :

 

                       Mây trôi nước chảy hững hờ,
               Cứt trôi chó chạy biết bao giờ gặp nhau ?

Nên đâm ra mơ ước vẩn vơ ...

                       Ước chi cứt dạt vào bờ,
                Để cho con chó đói hết chờ hết mong.

       Nhưng ...

        Qua đến đất Mỹ thì con chó... lên ngôi, về thứ tự ưu tiên trong xã hội Mỹ thì thứ nhất là Đàn bà Lady first mà, thứ nhì là Trẻ em, thứ ba là con Chó và thứ tư mới tới phiên Đàn ông !

         Nuôi chó phải có nhà ở cho chó hẵn hoi, phải nuôi bằng thực phẩm chó đàng hoàng, phải được chích ngừa, phải có bảo hiễm và phải có bác sĩ chó khám bệnh chăm sóc sức khỏe. Phải được tắm rửa làm đẹp như hớt tóc, cắt móng chân ... Khi thiến phải gắn dịch hoàn giả cho chó để khi đi ra ngoài chó khỏi mắc cở. Chưa kể mỗi buổi sáng phải dẫn chó ra đường cho đi đái đi ỉa, rồi phải dùng bao rác hốt sạch những cái mà chó thải ra, chăm sóc chó còn hơn là chăm sóc cho cha mẹ, con cái nữa !

        Thức ăn của chó là dog food, thức ăn của người là hot dog, một loại xúc xích trông giống như bộ phận sinh dục của con chó đực, người Anh gọi là saveloy, mằn mặn ăn không ngon lành gì cả, thua xa lạp xưởng của ta. Các quyển sách cũ lật tới lật lui lâu ngày, các góc sách bị cuốn kèn lại, người Mỹ gọi là tai chó : dog eared. Ghét ai ta mắng là : Đồ chó đẻ ! thì Mỹ lại nói là : Con của con chó cái " Son of a bitch " hay " son of a gun ". Chỉ tánh tham lam bo bo giữ của thì ta nói như Chó Già Giữ Xương, còn Mỹ thì nói Dog in the manger. Nhưng dù đông dù tây gì thì chó vẫn là bạn thân với người Man's best friend, nhưng con chó ở Mỹ thì lại được các cô chủ của nó nâng lên thêm một bậc nữa : Love me, love my dog, có nghĩa : Nếu có yêu tôi thì hãy yêu luôn con chó của tôi nữa ! Cái nầy thì hơi "căng" một chút, chả lẽ mỗi lần hôn em phải hôn luôn con chó của em nữa sao ?!

 

        Không nói chuyện chó tây chó Mỹ nữa, trở lại với con chó tội nghiệp của Việt Nam ta, hễ ghét ai là cứ lấy con chó ra làm đối tượng để chưởi xéo người đó. Ngoài tiếng " Đồ chó đẻ " ra, còn có " Đồ chó chết, Quân chó má, Cái thằng chó, Cái con đĩ chó ..." Có " văn hoá " một chút thì mắng người ta là " Thứ cẩu đầu, Quân Cẩu Trệ " ... Chỉ những kẻ chuyên làm tay sai cho người ác thì là " Thứ cái đồ khuyển ưng, ưng khuyển " như trong Truyện Kiều lúc Hoạn Thư cho người đi bắt Thúy Kiều, 2 câu 1623-1624 là :

                       Sửa sang buồm gió lèo mây,
               Khuyển Ưng, lại chọn một bầy côn quang.

           

          dcd_hophu.jpg   

        Để chỉ những thằng con không ra gì thì bảo là : Hổ phụ sanh khuyển tử 虎父生犬子, có nghĩa : Cha thì hùng dũng oai phong như cọp, còn con thì nhu nhược cụp đuôi như chó ! Nhưng từ " khuyển tử 犬子 " lại là từ khiêm nhường để chỉ " Con của Mình " khi giới thiệu với người khác, như : Đây là khuyển tử, có nghĩa như " Đây là thằng chó con của tôi !". Ngoài ra, ta cũng có từ Khuyển Mã 犬馬 cũng là từ khiêm nhường của các bề tôi nói với vua chúa hoặc chủ cả ngày xưa

: Nguyện làm thân Khuyển Mã để đáp đền, ý nói làm Chó làm Ngựa để báo đáp, nhưng ta lại nói là Làm thân Trâu Ngựa để báo đáp, như cô Kiều trước đêm phải đi theo Mã Giám Sinh đã trối lại với Thuý Vân rằng :

                    Tái sinh chưa dứt hương thề
              Làm thân trâu ngựa đền nghì trúc mai 

                                                       ( câu 707-708 )

      Nhân năm chó, lại nhớ đến một chuyện cười dân gian thuở xưa, chuyện kể ...

      Xưa có một nhà nho thanh liêm, rất được dân làng trong vọng,  thấy các quan lớn quan nhỏ từ Hương quản, Hương tuần, Lý trưởng đến Tri huyện, Tri Châu đều giở trò tham nhũng, hạch sách dân đen, nên ... Một hôm, ông làm một tiệc lớn, mời cả phủ huyện, hương chức hội tề đến dự. Nào tiết canh, dồi chả, thui nướng ... món ngon thơm phức dọn lên, các quan được một bửa chén no say. Có người đứng lên đáp tạ nhà chủ và hỏi các món ăn làm bằng thịt gì ? Nhà Nho thủng thỉnh đứng lên cười đáp : Chó, mâm trên mâm dưới, mâm trong mâm ngoài, tất cả đều là CHÓ cả !

       Chuyện nầy làm ta lại nhớ đến ... Nghe tiếng rao bán thịt chó ngoài đường. Có người trong nhà lớn tiếng gọi : CHÓ ! CHÓ ! Người bán thịt chó cũng không phải tay vừa, cao giọng hỏi lại : Ai CHÓ đó ?! Quả là tám lạng nữa cân, ăn miếng trả miếng.

       Cao cấp hơn là chuyện của Cao Bá Quát ...

       ĐẤU 鬥 là Đánh nhau, nhưng Đấu Khẩu 鬥口 là Cãi lộn nhau, Chưởi lộn nhau như Cao Bá Quát đã diễn tả lại cho vua nghe cuộc cãi cọ rồi ẩu đả nhau giữa hai vị quan trong triều là Phan Văn Nhã và Võ Văn Khải đánh nhau vì chuyện văn chương. Ông Khải xem bài ông Nhã chê kém và nói Văn như thế Chó nó cũng làm được. Thế là sinh sự đánh nhau đến sứt đầu mẻ trán, khi vua hỏi, Cao Bá Quát đã tường thuật lại như thế nầy :

                Bất tri hà sự,                            不知何事,

                Lưỡng tương đấu khẩu.             兩相鬥口。

                Bỉ viết Cẩu,                              彼曰狗,

                Thử diệc viết Cẩu.                     此亦曰狗。

                Bỉ thử giai Cẩu.                         彼此皆狗。

                Dĩ trí đấu ẩu,                            以致鬥毆,

                Thần kiến thế nguy thần tẩu !    臣見勢危臣走!

Có nghĩa :

                Chẳng biết việc chi,

                Hai người cùng Đấu Khẩu với nhau.

                Người nầy nói Chó,

                Người kia cũng nói Chó.

                Cả hai đều Chó.

                Đến nỗi ẩu đả nhau,

                Thần thấy thế nguy nên thần chạy !

               
   

       Cũng Cao Bá Quát, trước khi khởi nghĩa, bị thất sủng, triều đình đưa đi làm Giáo Thụ ở Quốc Oai, vùng đất thuộc Sơn Tây, xa chốn kinh đô thành thị. Học trò ít, cảnh sinh hoạt tiêu điều. Ông đã viết đôi câu đối dán ngoài nhà học như sau :

          Nhà trống ba gian, một thầy, một cô, một chó cái.
          Học trò dăm đứa, nửa người, nửa ngợm, nửa đười ươi. 

 

       Câu đối hắc búa, tương truyền là của ông Tú Cát ra cho Trạng Quỳnh là :

                 Lợn Cấn ăn cám Tốn,

Có nghĩa con lợn đang cấn thai thì ăn thật nhiều, nên phải tốn thêm nhiều cám. Nhưng Cấn 艮 và Tốn 巽 là hai quẻ trong Bát Quái.

        Quỳnh đã ứng khẩu đối ngay là :

                Chó Khôn chớ cắn Càn.

Có nghĩa con chó khôn ngoan thì không cắn càn cắn bậy, mà Khôn 坤 và Càn 乾 cũng là hai quẻ trong Bát Quái. Thế mới tài ! ( Bát Quái là : Càn, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài  八卦是:乾,坎,艮,震,巽,離,坤,兌")。

 

        Chuyện " Chó Đá Quẩy Đuôi " tuy có vẻ hoang đường, nhưng cũng nói lên được cái tinh thần đề cao và kính trọng nhân tài đất nước của dân tộc ta. Đó là truyện của Trạng Lường ...

        Lương Thế Vinh 梁世榮 (1441 - 1496), tục gọi là Trạng Lường, tên tự là Cảnh Nghị, tên hiệu là Thụy Hiên, là một nhà toán học, Phật học, nhà thơ Việt Nam thời Lê sơ. Ông đỗ trạng nguyên dưới triều Lê Thánh Tông và làm quan tại viện Hàn Lâm. Ông là một trong 28 nhà thơ của hội Tao Đàn Nhị Thập Bát Tú 騷壇二十八宿 do vua Lê Thánh Tông sáng lập năm 1495. Tương truyền ...

         Khi Vinh lên 7-8 tuổi đi học ở làng bên, bên đường có con chó đá, hễ Vinh đi qua là nó vẫy đuôi mừng. Lấy làm lạ, Vinh về nhà kể cho cha nghe. Cha Vinh nói: "Nó đã biết mừng thì ắt biết nói, con thử hỏi nó xem vì cớ gì mà nó mừng". Hôm sau, khi chó quẩy đuôi mừng, Vinh bèn hỏi, con chó đá đáp bằng tiếng người, rằng: "Vì ông sẽ là Trạng nguyên, nên tôi mừng ông".

       Lại kể ...

            Theo " Tam khôi bị lục 三魁備錄 "... có ghi lại : Bà mẹ vua Lê Thánh Tông là Thái hậu Quang Thục có lần nằm mơ, thấy đi tới chỗ Thượng Đế. Thượng Đế ban cho bà một tiên đồng làm con, và một tiên đồng để giúp đỡ. Lúc tỉnh dậy, bà có mang Lê Tư Thành (tức vua Lê Thánh Tông). Sau Lương Thế Vinh thi đỗ, Thái hậu xem hình dáng, giống hệt tiên đồng đã thấy trong mộng, bèn kể lại cho vua Thánh Tông hay. Từ đấy, Lương Thế Vinh trở thành một lương thần đắc dụng dưới thời Hồng Đức. Và ...

        Lê Thánh Tông chẳng những là một minh quân mà còn là một nhà thơ có khẩu khí của bậc đế vương, ông làm thơ vừa ca tụng mình vừa nhắc nhở triều thần phải hết lòng phò vua báo quốc. Cái hay của các bài thơ ông làm là không nói thẳng mà mượn một sự việc hay sự vật nào đó để nói lên cái ý muốn của mình. Ta hãy đọc 2 bài thơ CHÓ ĐÁ của ông sau đây sẽ rõ.

   dcd_choda.jpg             


                             Bài 1.

              Quyền trọng ơn trên trấn cõi ngoài, 
              Cửa nghiêm chem chẻm một mình ngồi. 
              Quản bao xương tuyết nào chi kể, 
              Khéo giữ cao lương cũng chẳng nài. 
              Mặc khách thị phi giương tráo mắt, 
              Những lời trần tục biếng vào tai. 
              Một lòng thờ chúa, nghìn cân nặng, 
              Bền vững ai lay cũng chẳng dời.

                              Bài 2.

              Lần kể xuân thu biết mấy mươi, 
              Cửa nghiêm thăm thẳm một mình ngồi. 
              Đêm thanh nguyệt dãi màng trông nguyệt, 
              Ngày vắng ruồi bâu biếng ngáp ruồi. 
              Cắn kẻ tiểu nhân, nào đoái miệng ? 
              Chào người quân tử, chẳng phe đuôi. 
              Phỏng trong sức có ngàn cân nặng, 
              Dầu nhẫn ai lay cũng chẳng dời.

 

        Qủa là giọng điệu khẩu khí của một vì vua có khác !

 

        Trở lại với Đề 36 của hai sòng bài lớn Kim Chung ở Sài Gòn và Đại Thế Giới ở Chợ Lớn trước khi bị Tổng Thống Ngô Đình Diệm đóng cửa (1954). Con CHÓ thuộc nhóm Thất Sanh Ý, là bảy người làm nghề buôn bán, từ số 10 đến số 16 có tên như sau :   

        Số 10 là Giang Từ : con Rồng bay,

        Số 11 là Phước Tôn : con CHÓ.

        Số 12 là Quang Minh : con Ngựa.

        Số 13 là Hữu Lợi : con Voi.

        Số 14 là Chỉ Đắc : con Mèo Rừng.

        Số 15 là Tất Đắc : con Chuột.

        Số 16 là Mậu Lâm : con Ong.

        Một sự trùng hợp ngẫu nhiên rất hợp với dân đánh đề, con chó tên chữ là  Phước Tôn mang số 11, lại là ngôi thứ 11 trong Địa Chi, nên hễ nằm chiêm bao hay đi đâu, hoặc tình cờ gặp được người tuổi Tuất là mua ngay số 11. Sau nầy áp dụng vào xổ số kiến thiết từ 00 đến 99, dân thua đề lại phải thua thêm 2 con nữa là : Con Chó sồn sồn 51 và con Chó già 91 nữa, vì bây giờ 11 đã trở thành con Chó nhỏ rồi. Nhớ bài Vè Thua Đề 36 của thầy giáo Kiến ở ấp Yên Thượng Trị trấn Cái Răng, huyện Châu Thành tỉnh Phong Dinh ngày xưa, có câu :

 

                 Cầm quần mà đánh Thượng Chiêu,

                 Sổ ra Bản Quế mất tiêu cái quần !

 

 Thượng Chiêu là con chim én, một trong Tứ Phu Nhân, số 21.

 Bản Quế là con Ốc, một trong Tứ Trạng Nguyên, số 2.

         Có một ông câu, ban đêm hay đi giăng câu và hò hát trên vàm Ba Láng, không biết là buồn tình vì thua đề hay vì vợ quá mê đánh đề mà sửa lại câu vè của thầy giáo Kiến thành :

 

                 Cầm quần mà đánh Phước Tôn,

                 Sổ ra Bản Quế để  l... chê hê !

 

       Dân chúng mê đánh số đề, không phải chỉ cầm quần, cầm áo, mà cầm cả xe cộ, ghe xuồng, nhà cửa, đất đai ... và bất cứ thứ gì cầm cố được. Số đề mê hoặc dân nghèo như một câu trong bài vè của thầy giáo Kiến :

 

               Phải thời một vốn bỗng liền ba mươi.

 

       Sau nầy đánh theo xổ số Kiến Thiết thì càng mê hoặc lòng tham của con người hơn với : Một đồng trúng bảy mươi ! Trước mắt, dân nghèo trong nước cũng đang vật vả, sống dở chết dở với vé số và số đề được xổ hằng ngày, mỗi ngày nhiều khi đến 2 hay 3 đài xổ nữa là đằng khác !

       Song song với số đề là tệ nạn ăn nhậu, lớn nhậu theo lớn, nhỏ nhậu theo nhỏ, sang thì nhậu nhà hàng, hèn thì nhậu lề đường. Hễ  đỏ đèn là các quán nhậu lại trở nên nhộn nhịp, nhất là các quán lẫu dê, thịt chó bình dân. Dân ăn thịt chó thường kháo nhau về thịt chó là : Nhất bạch nhì hoàng tam khoang tứ đốm. Có nghĩa : Thịt ngon nhất là chó lông trắng, chó Cò. Thứ nhì là lông vàng, chó Phèn. Thứ ba là lông có khoang, chó Vện. Thứ tư là lông có đốm, chó Vá. Thịt chó bổ dương lại thêm vào ba xị đế, nên cảnh " Tửu nhập tâm như cẩu cuồng tại thị 酒入心如狗逛在市 ". Có nghĩa : Uống ba hột rượu vào rồi thì con người dễ mất kiểm soát mà chạy lòng vòng ngoài chợ như con chó hoang, vừa khuấy rối trật tự công cộng vừa cản trở xe cộ giao thông là việc thường xảy ra với dân nhậu nhẹt.

            Chó là Cẩu, ngày xưa đọc đồng âm với âm cửu là số 9. nên ta lại có một câu chuyện dân gian về Chỉ Sự thay cho chữ viết sau đây :

       Ngày xưa, có một anh lính thú ở xa, nhân có bạn được phép về thăm nhà, mới nhờ bạn đem về cho vợ ở nhà trăm quan tiền và một bức thư.
        Giữa đường, anh bạn tò mò giở thư ra xem, không thấy  ghi số tiền gửi là bao nhiêu cả, chỉ thấy vẽ bốn con chó, một hình bát quái, hai con dê và một cái chũm chọe, nên nảy ra cái ý ăn bớt. Về đến nơi, anh ta chỉ giao cho vợ bạn bức thư và bốn chục quan thôi.
        Người vợ xem thư biết thiếu tiền, lên quan nhờ phân xử.  Quan hỏi :
- Chồng chị gửi người ta bốn mươi quan tiền, người ta mang về đưa tận tay cho, còn kiện cáo nỗi gì?
 Người vợ đáp :
- Bẩm quan lớn, anh ta ăn bớt ạ! Chồng con gửi cho con tới một trăm quan kia ạ!
- Sao chị biết?
- Bẩm quan lớn, thư chồng con viết rành rành ra đấy xin quan xem thư, sẽ rõ!
      Quan giở bức thư quái gở kia ra xem, không hiểu gì cả liền hỏi:
- Thế là thế nào? Bức thư không có chữ nghĩa gì cả, sao chị lại biết chồng chị gửi một trăm quan?
- Bẩm quan lớn, chồng con vẽ rõ ràng ra đấy. Bốn con chó là tứ cẩu, cẩu là cửu, tứ cửu là tam thập lục, là ba mươi sáu ( 36 ). Bát quái có tám cạnh, bát bát là tám lần tám vị chi là lục thập tứ, là sáu mươi tư ( 64 ). Sáu mươi tư với ba mươi sáu chả là một trăm quan đó sao?
       Quan cho là phải, bắt anh kia phải trả đủ số tiền. Nhưng ngài còn thắc mắc hỏi chị kia:
- Thế còn hai con dê và cái chũm choẹ là ý thế nào?
      Chị ta sượng sùng không nói. Quan hỏi mãi mới thưa:
- Ðấy là nhà con vẽ đùa thôi ạ !.
- Ðùa thế là có ý gì, phải nói ra cho rõ ràng.
- Bẩm quan lớn, hai con dê và cái chũm chọe là nhà con muốn hẹn con rằng, đến Tết Trùng Dương ( ngày 9 tháng 9, còn gọi là Trùng Cửu ) thì nhà con sẽ về thăm cái chũm chọe, ơ... không, thăm con... đấy ạ!

 

       Đó, ta thấy CHỈ SỰ hay là thế, thú vị là thế, ngày xưa nước ta cũng đã có vô vàn cách Chỉ Sự để truyền đạt ý nghĩa và sự việc một cách độc đáo của riêng mình rồi !

 

       Xin được kết thúc bài phiếm về năm TUẤT là năm con CHÓ, mà chó chữ Nho là CẨU, cẩu lại thuộc bộ KHUYỂN nầy  ở đây.

       À, mà còn quên, để vui Xuân đón Tết, mời tất cả cùng giải đáp câu đố nghe rất trái tai sau đây, đó là câu :

 

             Chó đậu, chuồn chuồn sủa !

                                               ( đố là Trái gì ? )

 

       Cầu chúc cho tất cả mọi người đều có được một mùa xuân Mậu Tuất 2018 Như Ý, An Khang và Thịnh Vượng !

 

                                                                 Đỗ Chiêu Đức

    

                   

Thơ Vịnh :

 

      Mậu Tuất 2018

 

Mậu Tuất là con chó đất quèn,

An thân khuyển mã chẳng bon chen.

Đen thui đen thủi là con Mực,

Vàng khẻ vàng khè ấy chú Phèn.

Trắng nỏn chó Cò co cẳng chạy,

Sặc rằng con Vện vẩy đuôi quen.

Lốm đa lốm đốm ồ em Vá.

Nhà cẩu trung thành  nức tiếng khen !

 

                                  Đỗ Chiêu Đức

 

Câu đối cho năm Mậu Tuất 2018 :

 

      Đinh Dậu gà đi qua, Gát hết thiên tai cùng đón Tết;

      Mu Tuất chó chạy đến, Mừng thêm phúc lộc thảy vui Xuân.

__________________________________________________________________________________________________________________ 

 

                      

 

 

 

 

KHÓC THẦY


                    Mới vừa hai tám chớm xuân
                 Sao thầy nở vội bỏ trần lên tiên !


Ngỡ ngàng làm sao khi nghe tin thầy mất,
Lòng bàng hoàng không nén nổi bi ai.
Tin như sét đánh ngang mày,
Thôi rồi một kiếp trần ai đi về !


  Ngày mười lăm tháng rồi thầy còn nhắn,
  Ý đẹp lời hay phổ biến đến trang nhà.
  Tiếng thầy vọng bên tai còn chưa dứt,
  Bóng hình đà lẫn khuất tựa sát-na.


Nhàn, vô, bất, không, nhớ khi cùng phiếm,
Tĩnh lặng thầy trò trãi nghiệm nhân sinh.
Quy y Phật, Pháp, Tăng cùng bát giới,
An trụ rồi tâm mới hết linh đinh.


   Chân và Vọng theo nhau lòng vô trụ,
   Chứng Đạo Ca vang vọng cỏi mênh mông.
   Hoàng Giác Đại Sư cùng thầy bầu bạn,
   Tứ đại trả về sắc sắc không không !


          Vô minh thực tánh trả về,
     Mong thầy siêu thoát an bề qui chơn.
          Niết bàn chẳng nệ thiệt hơn,
     Hữu duyên, hữu đức, bảo sơn hữu phần !


                                                   Đỗ Chiêu Đức
                                                     Khấp điếu

  

HAI NỮ THI SĨ ĐỜI ĐƯỜNG

 

   A. KÝ PHU của Trần Ngọc Lan.

 

1. Bản chữ Hán cổ của bài thơ :

 

     寄夫                           KÝ PHU

               陳玉蘭                        Trần Ngọc Lan

夫戍邊關妾在吳,     Phu thú biên quan thiếp tại Ngô,

西風吹妾妾憂夫。     Tây phong xuy thiếp thiếp ưu phu.

一行書信千行淚,     Nhất hàng thư tín thiên hàng lệ,

寒到君邊衣到無?      Hàn đáo quân biên y đáo vô ?

DCD_2nuthisi_1.jpg 

                     CHÚ THÍCH :

    * Thú : Đi lính xa. Thú Biên Quan : là Đi lính đóng đồn ở ngoài biên ải.

    * Ngô : Đất Ngô, nước Ngô xưa, chỉ một dãy của tỉnh Giang Tô ngày nay.

    * Tây Phong : là Gió tây, chỉ Gió mùa thu hiu hắt.

 

NGHĨA BÀI THƠ :

                             GỞI CHỒNG

         Chồng đi lính xa tận ngoài biên ải, còn thiếp thì ở lại đất Ngô của xứ Giang Nam. Khi gió tây thổi đến thiếp lại càng lo lắng cho chồng, nên viết thư thăm hỏi, mỗi một hàng thư là cả một ngàn hàng lệ nhỏ, chỉ lo sợ rằng khi cái lạnh của mùa đông ập đến bên chàng thì không biết chiếc áo ngự hàn của thiếp gởi đã đến kịp lúc bên chàng chưa ?

         Tình cảm thật da diết thiết tha. Toàn bài thơ là những tiểu đối khéo léo nêu bật nỗi lòng của người chinh phụ vọng phu : Chàng  phải đi ngoài biên ải xa xôi, còn thiếp thì được ở lại quê nhà. Khi gió tây thổi, thiếp thấy lạnh, nên lại lo cho chàng. Một hàng thơ viết cho chàng là cả ngàn hàng lệ của thiếp đã nhỏ ra. Cuối cùng, là cái lo đáng lo nhất : Khi cái lạnh đến bên chàng thì áo của thiếp gởi có đến kịp lúc hay không ?

         Cả bài thơ bốn câu, câu nào cũng nêu lên tình ý của một CHÀNG một THIẾP, nhưng không phải là "Tình chàng Ý thiếp ai sầu hơn ai" nữa, mà là sự ưu tư lo lắng khoắc khoải của người cô phụ hết dạ thương chồng đang xông pha ngoài biên ải ! Hai điệp từ PHU, ba điệp từ THIẾP càng làm cho bài thơ tha thiết và gần gũi với người  đọc hơn, nhất là câu : " Tây phong xuy thiếp thiếp ưu phu " vừa chơn chất vừa thật thà dễ đi vào lòng người. Câu " Nhất hàng thư tín thiên hàng lệ " càng nhấn mạnh thêm sự thương cảm xót xa của người chinh phụ trông chồng.

      

         Trần Ngọc Lan là nữ thi sĩ đời Đường, không rõ năm sanh năm mất, bà là thê tử của thi nhân Vương Giá 王驾. Giá đậu tiến sĩ năm Đại Thuận nguyên niên 大顺元年, làm quan đến chưc Lễ Bộ Viên Ngoại Lang, mà ta đã biết ông qua bài Xuân Tình 春晴 với 2 câu thơ bất hũ :

 

         蜂蝶紛紛過牆去,   Phong điệp phân phân quá tường khứ,

         卻疑春色在邻家 .    Khước nghi xuân sắc tại lân gia.  

 

 ... mà nhà thơ Tiến Chiến Jean. Leiba đã phỏng dịch rất hay là :

 

                      Tơi bời ong bướm bay qua ngỏ,

                      Những tưởng màu xuân ở xóm ngoài !    

 

DIỄN NÔM :

                  Thiếp ở quê nhà chàng lính thú,

                  Nhớ chàng gió lạnh nói sao vừa.

                  Một hàng thơ viết ngàn hàng lệ,

                  Lạnh đến bên chàng áo đến chưa ?

   Lục bát :

                  Chàng biên tái, thiếp quê nhà,

             Gió tây thổi thiếp thiết tha nhớ chàng.

                  Một hàng thư, lệ ngàn hàng,

             Áo len thiếp gởi kịp chàng mặc chăng ?! 

DCD_2nuthisi_2.jpg                    

   Bản viết tay 2011

                   

      B. KIM LŨ Y của Đỗ Thu Nương.

 

1. Bản chữ Hán cổ của bài thơ :

 

     金縷衣                 KIM LŨ Y

        杜秋娘                   Đỗ Thu Nương

勸君莫惜金縷衣,    Khuyến quân mạc tích kim lũ y,

勸君惜取少年時.    Khuyến quân tích thủ thiếu niên thì.

花開堪折直須折,    Hoa khai kham chiết trực tu chiết,

莫待無花空折枝!    Mạc đãi vô hoa không chiết chi !           

DCD_2nuthisi_3.jpg

 

2. Chú thích :

    * Kim Lũ Y : là áo được dệt bằng những sợi tơ vàng óng. Ý chỉ quần áo hoa lệ đẹp đẽ.

    * Tích : là Tiếc, là thương, là xót, là Tiếc rẻ.

    * Kham : là Nên, là Được, là Đúng lúc.

    * Trực : là Ngay, là Thẳng, là Tức khắc.

    * Đãi : là Đợi, là Lần lừa.

 

3. Nghĩa bài thơ :

                              ÁO TƠ VÀNG

         Khuyên chàng đừng tiếc rẻ những chiếc áo tơ lụa vàng qúi giá, mà hãy nên tiếc nuối lấy tuổi thanh xuân của mình. Cũng như khi hoa đang nở đẹp thì hãy kịp lúc mà bẻ lấy ngay, đừng để cho đến khi hoa rụng rồi thì chỉ bẻ được cái cành không mà thôi !

         Khéo mà ví von khuyên nhủ những chàng công tử phong lưu chỉ biết ăn ngon mặc đẹp, mà không biết tranh thủ lấy tuổi thanh xuân của mình để trao dồi kiến thức, cố gắng học hành để mong có ngày tiến thủ, lập chữ công danh ... Cứ mãi miết ăn chơi trác táng ở lầu xanh, ở các nơi trà đình tửu điếm, để đến khi ăn năn thì đã qúa muộn màng


DCD_2nuthisi_4.jpg
 

3. Tác giả :

        ĐỖ THU NƯƠNG 杜秋娘 ( cuối Thế kỷ 8 ) tên thật là Đỗ Thu, người đất Kim Lăng đời Đường. Bà là một ca kỹ múa giỏi hát hay và giỏi cả thi ca, 15 tuổi đã  được Tiết Độ Sứ Lý Kỹ 李錡 mua về làm tì thiếp. Sau Lý Kỹ tạo phản thất bại, bà bị biếm vào cung. Khi Đường Mục Tông 唐穆宗 (821-826) lên ngôi, phong bà làm Phó Mẫu là giáo tập ở trong cung nuôi dạy Thái Tử. Mục Tông mất, Thái tử bị phế, bà bị thải về quê. Khi Đỗ Mục đi ngang qua Kim Lăng, trông thấy hoàn cảnh của bà vừa già vừa nghèo khổ, ông đã làm bài Đỗ Thu Nương Thi 杜秋娘詩 để kể lại thân thế của bà.

 

4. Diễn Nôm :

                    Khuyên chàng chớ tiếc áo tơ vàng,

                    Hãy tiếc tuổi xuân chớ để tàn.

                    Hoa nở đúng kỳ tua bẻ lấy,

                    Đừng đợi cành không bẻ muộn màng !

    Lục bát :

                        Tiếc chi chiếc áo chỉ vàng,

                Khuyên chàng trân trọng tuổi đang xuân thì.

                        Hoa đang độ, hãy bẻ đi,

                  Đợi khi hoa rụng bẻ gì cành không ?!   
                                   
DCD_2nuthisi_5.jpg

  Bản viết tay năm 2011

 

KIM OANH Phỏng dịch:

 

Gởi Chồng (Ký Phu - Trần Ngọc Lan)​

Thiếp ở khuê phòng chàng ngoài biên ải

Gió Tây lạnh thổi lòng mãi nhớ lo

Viết một hàng thư ngàn hàng lệ nhỏ

Đan áo gởi đến chàng kịp mặc cho.

 

Kim Oanh

----------------------------

Áo Tơ  Vàng

​ ​

(Kim Ly - Thu Nương)​

 

Tiếc gì chiếc áo tơ vàng  

Xin chàng đừng để xuân tàn qua nhanh

Hái hoa đúng độ tươi xanh

Kẻo khi cánh rụng trơ cành còn chi 

Kim Oanh

___________________________________________________________________________________________________________________ 

 

                                                    TIẾT TRÙNG CỬU

                   Lễ Ông Bà ngày xưa của ta

 

         Sau Tết Trung Thu là Tết Trùng Cửu, chữ Tết do chữ Tiết đọc trại ra mà thành. TIẾT 節 là Thời Tiết 時節 chỉ Khí hậu có liên quan đến mùa màng. TIẾT cũng có nghiã là ngày Lễ Tết trong năm. Một năm có mấy cái Tết lớn. Nguyên Đán là cái Tết lớn nhất mở đầu cho một năm nằm trong tháng Giêng, Thanh Minh là Tết nằm trong tháng 3, Đoan Ngọ là Tết của tháng 5, Tháng 8 thì có Tết Trung Thu và Tháng 9 thì ta có Tết Trùng Cu.

         Trùng Cửu, Trùng là Trùng lắp, là lặp lại. Cu là số 9. Nên Trùng Cu 重九 là 2 số 9 được lặp lại, tức là ngày mùng 9 tháng 9 Âm lịch. Theo Kinh Dịch thì số 9 thuộc Dương, nên Trùng Cu còn được gọi là Trùng Dương 重陽. Đây là cái Lễ tiết cuối cùng sau mùa thu hoạch, rồi trời sẽ trở lạnh để vào đông cho đến Tiết Đông Chí về, sẽ lại chuẩn bị để đón mừng năm mới !

DCD_Oct28_1.jpg 

             Ngoài việc được gọi là Tiết Trùng Dương 重陽節 ra, Trùng Cu còn được gọi là Tiết Đạp Thu 踏秋節, có nghĩa là Đạp lên lá vàng khô của mùa Thu, tức là Đi dạo chơi trong mùa Thu trước khi trời trở lạnh. Trong dân gian xưa còn gọi ngày này là Ngày Của Người Già : LÃO NHÂN TIẾT 老人節 hoặc KÍNH LÃO TIẾT 敬老節. Có thể là do sau khi mùa màng được thu hoạch vào mùa Thu, con cháu có nhiều món ngon vật quý để dâng hiến cho Ông Bà, hoặc đã có tiền để chăm lo săn sóc đến đời sống của Ông Bà hơn. Khi ông bà cha mẹ già đã quá cố, thì con cháu cũng nhân dịp Đạp Thu mà kéo nhau lên núi để Tảo Mộ  ( Ở những nơi có đồi núi thì người chết được chôn cất ở trên cao, vùng đồng bằng để trồng trọt canh tác. Cho nên ta thấy Cụ Nguyễn Du tả cảnh Tảo mộ của Tiết Thanh Minh là : " Ngổn ngang gò đống kéo lên, Thoi vàng hồ rắc tro tiền giấy bay, là thế ! ). Vì vậy, mà Tiết Trùng Cu còn được gọi là Tiết ĐĂNG CAO 登高節. Ngoài ra, Tiết Trùng Cu cón được gọi là Tiết THÙ DU 茱萸節, Tiết CÚC HOA 菊花節....

 DCD_Oct28_2.jpg       

             Cây lá và trái Thù Du  ( trái cherry ở Mỹ )

 

        THÙ DU là loại cây ăn trái được thu hoạch vào khoảng cuối tháng 6. Cây lá có tính sát trùng tiêu độc, ngừa phong đón gió, nên trong ngày Lễ Trùng Cửu dân gian hay bẻ một nhánh lá nhỏ giắt bên mình để " trừ tà ", để được bình an khoẻ mạnh nên ngày lễ nầy còn được gọi là Tiết Thù Du là vì thế.  

 DCD_Oct28_3.jpg  

       Hoa Cúc và tục lệ uống rượu Cúc trong ngày Trùng Cửu

 

        Trong bài thơ " Bốn mùa ăn chơi " của người xưa thì câu thứ 3 là " Thu ẩm Hoàng Hoa tữu ". Hoàng Hoa tức là Hoa Cúc đó, loại hoa có màu vàng và nở vào mùa thu, nên được dùng để ủ rượu uống cho ấm vào những ngày cuối thu lạnh lẽo nầy, để ngừa cảm cúm, như ta chích " flu shot " vào mùa nầy ở Mỹ vậy ! Nên Tiết Trùng Cửu còn được gọi là Tiết Cúc Hoa là vì  thế !

         Theo truyền thuyết thì ...

         Vào thời Nam Bắc Triều, người của Nam Triều là Ngô Quân Chi thuộc nước Lương, ghi trong " Tục Tề Hài Ký " rằng :

 Đời Đông Hán, ở huyện Nhữ Nam có một người tên là Hoàn Cảnh, cha mẹ đều chết vì bệnh ôn dịch ở cuối thu, nên anh ta quyết định lên núi tầm sư học đạo để trừ ôn dịch ôn thần. Đạo nhân Phí Trường Phòng dạy cho phép tiên dưỡng sinh và y học. Một năm, sau Trung Thu, đạo nhân gọi Hoàn Cảnh đến mà bảo rằng : Mùng 9 tháng 9 năm nay, ôn thần lại đến gieo rắc bệnh dịch, con hãy về quê mà cứu nhân độ thế. Nói đoạn bèn trao cho anh ta một cây Thanh Long Kiếm, một bao lá Thù Du và một bình Rượu Cúc, căn dặn mọi người phải lên cao mà tránh nạn.

         Đến hôm mùng 9 tháng 9, Hoàn Cảnh gọi hết bà con lối xóm cùng đăng cao lên núi, giắt cho mỗi người một lá Thù Du và uống một ly rượu Cúc, rồi đơn thân độc mã đứng chặn ở sườn núi, chiến đấu và tiêu diệt ôn thần. Từ đó về sau không ai còn bị chết về bịnh dịch nữa, và cũng từ đó về sau mới có tục Đăng Cao, cài lá Thù Du lên áo và uống rượu Cúc trong ngày Tiết Trùng Cu cho  đến hiện nay.

DCD_Oct28_4.jpg

               Trùng Cửu xưa          Trùng Cu nay

 

     Trong văn học, nhất là trong Đường Thi, ngày Trùng Cửu luôn luôn được nhắc đến một cách thân thiết gần gũi qua các thi nhân nổi tiếng như Lưu Trường Khanh với ...   

 

      九日登李明府北樓 CỬU NHẬT ĐĂNG LÝ MINH PHỦ BẮC LÂU

          九月登高望,          Cửu nguyệt đăng cao vọng,

          蒼蒼遠樹低。          Thương thương viễn thọ đê.

          人煙湖草裡,          Nhân yên hồ thảo lý,

          山翠現樓西。          Sơn thuý hiện lầu tê. ( tây )

                       劉長卿                        Lưu Trường Khanh

Diễn nôm :

                  NGÀY CHÍN LÊN BẮC LÂU CỦA LÝ MINH PHỦ

                          Tháng chín lên cao ngắm,

                          Xanh xanh cây cỏ xa.

                          Hồ mờ sương người vắng,

                          Lầu tây núi biếc nhòa !

                                                 Đỗ Chiêu Đức diễn nôm 

 DCD_Oct28_5.jpg

 

      Còn Thi tiên Lý Bạch với ...

 

         九月十日即事      CỬU NGUYỆT THẬP NHẬT TỨC SỰ

          昨日登高罷,           Tạc nhật đăng cao bãi

          今朝再舉觴。           Kim triêu tái cử trường.

          菊花何太苦,           Cúc hoa hà thái khổ,

          遭此兩重陽。           Tao thử lưỡng Trùng Dương .                    

            李白                                       Lý Bạch

Chú Thích :

          Mùng 9 tháng 9 gọi là Tiết Trùng Dương, hái hoa cúc, uống rượu cúc, nhưng...

          Mùng 10 tháng 9 gọi là Tiểu Trùng Dương, lại hái hoa cúc, lại uống rượu cúc.

          Chỉ trong hai ngày, hoa cúc BỊ HÁI, BỊ VÙI DẬP đến 2 lần. Lý Bạch ví thân phận đi đày của mình giống như là hoa cúc liên tiếp bị vùi dập vậy, nên mới hạ 2 câu cuối là : " Cúc hoa hà thái khổ, Tao thử lưỡng Trùng Dương ". Có nghĩa : Hoa Cúc sao mà lại khổ thế, phải gặp cái nạn của 2 lễ Trùng Dương nầy !

          KHỔ 苦 là Khổ sở, Cực khổ. KHỔ cũng có nghĩa là ĐẮNG nữa ! Tân là Cay, nên Tân Khổ là Cay Đắng, Đắng Cay!

       Diễn nôm :

                      Chuyện của ngày mười tháng chín

                            Hôm qua sau leo núi,

                            Sáng nay lại nâng ly.

                            Hoa Cúc sao mà khổ,

                            Trùng Dương đến nhị kỳ !

                                                Đỗ Chiêu Đức diễn nôm

 

        Nhưng nổi tiếng và tiêu biểu nhất cho lễ Trùng Cửu là bài thơ của Thi Phật Vương Duy....

     CỬU NGUYỆT CỮU NHẬT ỨC SƠN ĐÔNG HUYNH ĐỆ    

DCD_Oct28_6.jpg

            Đôc tại dị hương vi dị khách,

           Mỗi phùng giai tiết bội tư thân.

           Diêu tri Huynh đệ đăng cao xứ,

           Thiên tháp thù du thiểu nhất nhân !

                                                      Vương Duy

Chú Thích :

        Khi làm bài thơ nầy Vương Duy chỉ mới 17 tuổi, đang xa nhà đến Trường An để mưu cầu công danh. Nhà ông ở Bồ Châu, phía đông của núi Hoa Sơn, nên mới đề tựa là " Ức Sơn Đông Huynh Đệ ". Bài thơ nổi tiếng với 2 câu đầu mà không có người du tử nào không trầm trồ với 2 từ " dị hương, dị khách ".

 

Nghĩa bài thơ :

               Mùng chín tháng chín nhớ anh em ở phía đông núi.

         Ta một mình ở nơi đất lạ làm người khách lạ, nên mỗĩ lần gặp Lễ Tết là lại nhớ người thân thêm bội phần. Ta biết rằng ở nơi xa xôi kia, anh em ta đang đăng cao trong ngày lễ nầy, và mỗi người đều có giắt một lá Thù Du lên áo, chỉ thiếu có một người không được giắt là ta mà thôi !

 

 Diễn nôm :

                   Xứ lạ quê người làm khách lạ,

                   Mỗi lần lễ tết nhớ khôn nguôi.

                   Anh em mùng chín đăng cao đó,

                   Đều giắt thù du thiếu một người !

   Lục bát  :

                   Đơn thân xứ lạ quê người,

                   Mỗi khi lễ tiết ngậm ngùi nhớ nhau.

                   Quê xa huynh đệ đăng cao,

                   Thù du giắt áo nghẹn ngào riêng ta !

 DCD_Oct28_7.jpg                          

                                                 Đỗ Chiêu Đức biên khảo.

______________________________________________________________________________________________________ 

 

 Cuối tuần kể chuyện vui.

 

                  VƯƠNG AN THẠCH và Chữ SONG HỈ 

 

DCD_Oct28_2_Songhi.jpg

 

 

 

                    

       Sau đây, xin kính mời Quý Thầy Cô, Quý đồng môn Cựu Học Sinh Trung học PTG & ĐTĐ, các bạn Vườn Thơ Thẩn và Các Em học sinh trường TÂN HƯNG cũ, cùng nghe lai lịch của chữ SONG HỈ 囍 rực rỡ đỏ tươi trong các Hôn Lễ Trung Hoa xưa và mãi cho đến ngày nay, bất cứ nơi nào trên thế giới có Lễ cưới của người Hoa, người Việt thì ta sẽ thấy chữ SONG HỈ vui tươi rực rỡ nầy xuất hiện. Nó được viết bằng 2 chữ HỈ 喜 liền nhau, nên gọi là SONG HỈ 囍, ý chỉ đây là ngày vui của 2 HỌ. Nhưng, lúc đầu nó là 2 niềm vui đến cùng một lúc với Văn, Thi Hào và là Tể Tướng VƯƠNG AN THẠCH đời Tống. Xin kính mời Quý vị cùng tiêu khiển với câu chuyện Văn chương lý thú sau đây....

DCD_Oct28_2_VuongAnThach.jpg

Vương An Thạch ( 18-02-1021-- 21-05-1086 ), Tự là Giới Phủ, hiệu là Bán Sơn, được phong là Kinh Quốc Công, nên người đời còn gọi là Kinh Công. Người đất Lâm Xuyên thuộc Vũ Châu đời Bắc Tống. Ông là Thừa Tướng của triều Bắc Tống, lãnh tụ của Tân Đảng ( Đảng Cải Cách ). Âu Dương Tu đã ca ngợi ông như sau :

 

           Hàn lâm phong nguyệt tam thiên thủ, 翰林風月三千首,

           Lại bộ văn chương nhị bách niên.        吏部文章二百年。

           Lão khứ tự lân tâm thượng tại,           老去自憐心尚在,

           Hậu lai thùy dữ tử tranh tiên.             后來誰與子爭先。  

Có nghĩa :
               Ba ngàn bài gió trăng phong nguyệt,
               Hai trăm năm Lại bộ văn chương.
               Già đi tự cảm thương thân phận
               Hậu thế ai người dám sánh ông ?!


         Tác phẩm gồm có " Vương Lâm Xuyên tập, Lâm Xuyên tập Thập di,... ". Ông còn giỏi về thi, từ. Lưu truyền nổi tiếng nhất trong dân gian là 2 câu thơ trong bài " Bạc thuyền Qua Châu ( Thuyền ghé bến Qua Châu ) là :
         Xuân phong hựu LỤC Giang nam ngạn,  春風又綠江南岸,
         Minh nguyệt hà thời chiếu ngã hoàn ?    明月何時照我還。
Có nghĩa :
         Gió xuân lại thổi làm cho bờ Giang nam XANH biếc,
         Trăng bao giờ mới soi sáng trên đường ta về quê ?!

 

    Chữ LỤC 綠 là Hình Dung Từ, có nghĩa là : Màu xanh lá cây. Ở đây được tác giả sử dụng làm Động Từ một cách thật khéo léo và thật gợi hình :
      " Gió xuân lại làm cho XANH cả bờ bãi của xứ Giang Nam."
Có nghĩa :
     Khi gió xuân về tức là mùa xuân cũng đã về làm cho cây cỏ đâm chồi nẩy lộc mang đến màu xanh cho xứ Giang Nam, chớ bản thân gió xuân không thể làm cho xứ Giang Nam xanh lên được. Nên...
     Chỉ một chữ XANH ( Lục ) thôi đã mang lại đầy đủ sức sống của hoa cỏ mùa xuân và như chiếc đủa thần của tạo hóa : Gió xuân thổi tới đâu là mang màu xanh đến nơi đó ngay !

 

        " 囍 " 的来历

LAI LỊCH CỦA CHỮ SONG HỈ

  

         Chữ SONG HỈ lớn màu đỏ, treo ở trước cửa phòng Hoa chúc, chẳng những tạo thêm không khí vui tươi mà còn tượng trưng cho SONH HỈ LÂM MÔN ( Hai niềm vui đến nhà cùng một lúc ). Căn cứ theo ghi nhận của Sử liệu, thì lai lịch của chữ SONG HỈ nầy xuất phát từ Tể Tướng Vương An Thạch đời Bắc Tống, Câu chuyện như sau.....
         Tương truyền năm 20 tuổi, khi từ Lâm Xuyên Vũ Châu đến kinh đô Lạc Dương để ứng thí, khi nghỉ ở khách sạn Mã gia trấn để chờ dự thi. Một hôm, sau buổi cơm tối, ông thả bộ ra phố, khi đi ngang qua nhà Mã viên ngoại, thấy phía trước cửa nhà treo 2 cái lồng đèn kéo quân, bên cạnh có đôi câu đối như sau :


             Tẩu mã đăng, đăng tẩu mã, đăng tức mã đình bộ.

               走  馬   燈,    燈   走   馬,   燈   熄   馬   停   步。
 Có nghĩa :
        Tẩu Mã Đăng là Đèn Chạy Ngựa, ta gọi là Đèn Kéo Quân.
 Nên câu trên có nghĩa : 
         Đèn chạy ngựa, ngựa chạy trên đèn, đèn tắt ngựa ngừng chạy.
 Theo nghĩa của ta thì là :
         Đèn kéo quân, quân kéo đèn, đèn tắt quân ngừng kéo.

 DCD_Oct28_2_denkeoquan.jpg

                                            2 loại Đèn Kéo Quân
  
         Vương An Thạch xem xong trầm ngâm giây lát, bỗng vỗ tay đánh đét một tiếng khen : " Câu đối hay tuyệt, nhưng rất tiếc là không có vế đối lại ! ". Người quản gia nghe thấy vội vàng chạy vào bẩm báo với Mã viên ngoại, nhưng khi Mã viên ngoại ra tới cửa thì Vương An Thạch đã đi xa rồi.
         Sự đời cũng lắm việc trùng hợp ngẫu nhiên, hôm sau khi đi thi, vì văn tài mẫn tiệp,làm bài nhanh nộp quyển sớm, nên được quan chủ khảo chú ý ngợi khen và gọi lên hạch miệng. Ông chỉ ra cột cờ trước sân, nơi có treo lá cờ thêu hình một com hổ bay với đôi cánh vươn ra và đọc :
                Phi hổ kỳ, kỳ phi hổ, kỳ quyển hổ tàng thân.

                飛  虎 旗, 旗  飛  虎,旗    捲    虎  藏    身。
 Có nghĩa :
             Cờ cọp bay, cọp bay trên cờ, cờ cuốn cọp ẩn mình.

 DCD_Oct28_2_phihoky.jpg

                        Phi Hổ kỳ
 
         Vương An Thạch buộc miệng đọc ngay câu đối của Mã viên ngoại :" Tẩu mã đăng, đăng tẩu mã, đăng tức mã đình bộ ", để đối lại.  Quan chủ khảo vô cùng tán thưởng và kinh ngạc trước tài ứng đối mau lẹ và chính xác của Vương An Thạch, và không ngớt lời ngợi khen.
        Rời khỏi trường thi, Vương vô cùng đắc ý, trong lúc hớn hở đi về nhà trọ, thì người Quản gia nhà họ Mã nhận ra Vương và mời về phủ ra mắt viên ngoại. Khi vào đến phòng khách thì đã thấy trên bàn bày sẵn văn phòng tứ bảo, giấy mực hẳn hoi. Mã Viên ngoại đọc ngay câu đối " Tẩu mã đăng..." cho chàng đối . Vương An Thạch chẳng ngần ngừ chút nào cả, hưu bút viết ngay câu đối mà Quan chủ khảo đã ra cho chàng là " Phi hổ kỳ..."  để đối lại. Viên Ngoại vô cùng đẹp dạ, kinh ngạc trước tài ứng đối mau lẹ của Vương và rất vui vẻ mà cho Vương biết rằng, ông ra câu đối nầy là để kén rể, nay mến tài mẫn tiệp của Vương nên quyết định gả con cho chàng. Chọn ngày lành tháng tốt và làm lễ thành hôn ngay tại Mã phủ.
        Trong lúc cô dâu chú rễ sắp làm lễ bái đường, thì có sứ đến tuyên đọc kết quả kỳ thi vừa qua, và cho biết Vương An Thạch vừa đậu Tiến sĩ cập đệ, ngày mai được mời vào cung Quỳnh Lâm dự yến. Mã Viên ngoại vô cùng mừng rỡ, truyền bày thêm tiệc rượu để khoản đãi quan khách. Riêng Vương An Thạch cũng vui mừng vô hạn, đang cơn hứng chí bèn sẵn giấy bút viết ngay HAI chữ Hỉ sát vào nhau dán lên cửa để mừng cho Hai niềm Vui lớn đến cùng một lúc, Hỉ thượng gia Hỉ, Đại tiểu Đăng Khoa cùng một lúc. 

 DCD_Oct28_2_cacchusonghi.jpg

            Các kiểu chữ SONG HỈ


        Từ đó dân gian mới có lệ, chú rể được mặc áo Trạng Nguyên Tiến Sĩ trong ngày cưới và dán chữ SONG HỈ ở khắp nơi trong nhà khi làm lễ Thành hôn cho đến hiện nay. Ngay cả ở nước Mỹ nầy, trước mắt các nhà hàng đều có sẵn chữ SONG HỈ và hình rồng phụng hai bên trong các phòng ăn rộng dành riêng cho cô dâu chú rể đãi khách trong ngày lễ Tân Hôn.

 

                                                             Đỗ Chiêu Đức

____________________________________________________________________________________________ 

 

 

TRỌN BỘ: CHỮ NHO... DỄ HỌC

 

Click hàng chữ dưới đây để đọc trọn bộ:

Chữ Nho Dễ Học - TÂN HƯNG CÁI RĂNG

 

Xin hân hạnh giới thiệu quyển " Chữ Nho... Dễ Học " của Thầy Đỗ Chiêu Đức với quý Thầy Cô và anh chị em bà con gần xa  .

Với tấm lòng của một Thầy giáo dạy văn muốn ghi lại những hiểu biết về chữ nho bằng lời cắt nghĩa tỉ mỉ dễ hiểu ,giọng văn đơn sơ chân chất của người nam kỳ lục tỉnh , gây nhiều thích thú khi đọc được những điển tích xa xưa mà thuở nhỏ mình chưa hề biết hoặc đã hiểu không chính xác nên làm lệch lạc ý tưởng ngoài ý muốn , thí dụ như ý nghĩa khác nhau của  "bàn hoàn "và " bàng hoàng" hay tại sao mình viết " cầm sắt " bằng chữ t .

Quyển sách được chia thành 38 bài , người đọc không nhứt thiết phải đọc theo số bài thứ tự mà vẫn hiểu được tường tận vấn đề ,và bằng lời viết nhẹ nhàng, tự nhiên mà dí dõm gây cho người đọc cảm giác gần gũi thân tình .

" Chữ nho ... dễ học " như quyển tự điển lôi cuốn với nhiều hình minh họa được sưu tầm đẹp mắt, càng đọc càng thấy mình nhỏ bé trước sự hiểu biết uyên thâm mà Thầy đã rất công phu ghi chép lại cho những ai thích tìm hiểu chữ Việt chữ Hoa và chữ Nho.

Xin trân trọng cám ơn Thầy Đỗ Chiêu Đức đã lưu lại cho chúng em một kho tàng quý giá .!

Học trò THCR

_________________________________________________________________________________________________ 

  

TẢI NGUYỆT MINH QUY

                               Thơ Thiền

______________________________________________________________________________ 



              Bài thơ nầy vốn có tựa là " THUYỀN TỬ HÒA THƯỢNG KỆ " 船子和尚偈, vì Đức Thành Thiền Sư, người gốc Tứ Xuyên,  là một cao tăng ở cuối đời Đường, thọ pháp với Dược Sơn Duy Nghiêm Thiền Sư. Ngày thường ẩn cư ở Tú Châu Hoa Đình, làm nghề đưa đò ở bến đò Ngô Giang, thường thả một lá thuyền con trôi theo dòng nước, tùy duyên mà độ nhật, nên người đời mới gọi là THUYỀN TỬ HÒA THƯỢNG 船子和尚 ( là Hòa thượng Chèo thuyền ), còn có hiệu là Hoa Đình Hòa Thượng 華亭和尚. Sư soạn 39 bài PHẤT TRẠO CA 撥棹歌 ( Bài ca Chèo Thuyền ) ca ngợi đời sống của Ngư dân nhưng lại ngụ Thiền lý trong các lời ca đó.

              Dưới đây là bài thứ nhất trong 3 bài Thất Ngôn tuyệt cú, là bài kệ có ý Thiền được nhiều người biết đến nhất :

 

DCD_Taitrangve_1.jpg

 

                             千尺絲綸直下垂,
                             一波才動萬波隨;
                             夜靜水寒魚不食,
                             滿船空載月明歸。

                  Thiên xích ty luân trực hạ thùy,

                  Nhất ba tài động vạn ba tùy .
                  Dạ tĩnh thủy hàn ngư bất thực,
                  Mãn thuyền không tải nguyệt minh qui !

NGHĨA BÀI THƠ :

                           BÀI KỆ của HÒA THƯỢNG CHÈO ĐÒ
             Sợi tơ nhợ câu cá ngàn thước buông thẳng xuống dưới nước, nước bèn nổi lên một dợn sóng, và dợn sóng nầy lan tỏa thành muôn vạn dợn sóng khác tỏa rộng ra. Đêm yên ắng, nước lạnh căm, nên không có cá cắn câu, đành chở đầy một thuyền trăng trống không mà về !



CHÚ THÍCH :
               TY LUÂN : Dây tơ, dây nhợ, là sợi chỉ. Chữ TY là Tơ. LUÂN là Chỉ dùng để may bìa vải lại cho đừng xút xổ , mà bây giờ ta gọi là chỉ " Vắt Xổ " đó, nên LUÂN THƯỜNG là cái GIỀNG MỐI mà ta phải giữ cho cuộc sống có nề nếp. 
              3 chữ cuối của câu 1 là TRỰC HẠ THÙY, nghĩa là BUÔNG THẲNG XUỐNG, THÙY 垂 là rũ xuống.

              TẢI : là Chở, VẬN TẢI là Chuyên chở.

 Ý BÀI KỆ :  

      
        2 Câu đầu lấy ĐỘNG để tả TĨNH, động tác buông câu là động tác thật nhẹ nhàng, dây câu chạm mặt nước cũng là động tác thật nhẹ nhàng, gợn sóng phát sinh lại càng nhẹ nhàng hơn, tuy nhẹ nhàng nhưng lại lan tỏa ra thành muôn vạn dợn sóng khác, Nhất ba động, vạn ba tùy. Một Ý niệm nảy sinh, gây mầm cho muôn vạn Ý niệm khác nảy sinh, đây chính là Ý THIỀN của 2 câu thơ đầu.
        2 câu thơ cuối đều qui về một chữ KHÔNG. Đêm vắng lặng, nước lạnh lẽo, cá chẳng cắn câu, tất cả là nhân tố của cái kết quả : " Chở đầy một thuyền toàn là ánh trăng mà về ! ". Thuyền đầy ánh trăng là " Sắc tức thị Không ". Ánh trăng huyền ảo mông lung đẹp đẽ nhưng lại " Không có gì cả ! ",  là "Không tức thị Sắc" đó!

DIỄN NÔM :

 

DCD_taitrangve_2.jpg

                     BÀI KỆ CỦA HÒA THƯỢNG CHÈO THUYỀN


                    Ngàn thước dây câu vừa thả xuống,
                    Muôn ngàn dợn sóng gợn li ti.
                    Đêm thanh nước lạnh không tăm cá,
                    Chở một thuyền trăng chẳng có chi !


LẠI DIỄN :
                   Ngàn thước nhợ câu thả xuống sông,
                   Một dợn muôn ngàn sóng lăn tăn,
                   Đêm yên nước lạnh im hơi cá,
                   Chở một thuyền về chỉ ánh trăng !


                                                              Đỗ Chiêu Đức.

Mailoc phỏng dịch: 

      Chở Trăng Về

Tơ nghìn thước dây câu sông thả,

Một sóng đầu lan toả vạn sau.

Đêm yên nước lạnh cá đâu!

Thuyền không đầy ấp trăng thâu người về.

                 Mailoc phỏng dịch

Bản dịch Phạm Khắc Trí: 

 

             Tải Nguyệt Minh Quy  

PKT 07/07/2014

 

Ngàn thước dây câu buông thẳng xuống ,

Sóng lan thành vạn sóng lăn tăn  ̣

Đêm thanh , nước lạnh , không tăm cá ,

Thuyền trống , đường về , đầy ánh trăng  ̣

PKT 

 


Mai Xuân Thanh:

Theo Bản Dịch & Diễn Nôm Ý Bài Kệ - ĐCĐ :

1) : Sắc Sắc Không Không

 

Chỉ tơ nghìn thướt thả buông sông

Sóng tỏa một lan  nối vạn vòng

Nước lạnh đêm thanh đâu thấy cá

Thuyền đầy, chở ngập ánh trăng không...

 

Mai Xuân Thanh

Ngày 13 tháng 08 năm 2017

 

2) : Bài kệ : Chỉ chở Trăng không, thấy ngập thuyền

 

Nghìn thước dây, sông thả xuống ngang

Sóng xao cứ một tỏa lan ngàn

Đêm thâu lạnh lẽo nào đâu cá

Thuyền vớt trăng không, ngập ánh vàng

 

Mai Xuân Thanh

Ngày 13 tháng 08 năm 2017

 

Phương Hà: 

Chở ánh trăng về

 

Sợi tơ ngàn thước thẳng buông sông

Sóng một vòng lan tỏa vạn vòng

Nước lạnh trời đêm không gợn cá

Thuyền về chở ngập ánh trăng trong.

 

 Phương Hà phỏng dịch

_______________________________________ 

 

Bốn bài NGŨ NGÔN TỨ TUYỆT

 

1. TƯ QUY của VƯƠNG BỘT.
      VƯƠNG BỘT ( 650-676 ), tự là Tử An. Người đất Giáng Châu Long Môn ( thụộc Hà Tân Sơn Tây hiện nay ). Ông nội là Vương Thông, hiệu là Văn Trung Tử, học giả nổi tiếng cuối đời nhà Tùy. Cha là Vương Phước Chỉ, giữ chức Thái Thường Bác Sĩ, Ung Châu Tư Công đời Đường.
      VƯƠNG BỘT cùng với Dương Quýnh, Lư Chiếu Lân, Lạc Tân Vương văn tài thi tài ngang nhau, người đời xưng là " Sơ Đường Tứ Kiệt ". Bột đứng đầu Tứ Kiệt, nổi tiếng bất hủ với bài " Đằng Vương Các Tự ", để lại một giai thoại văn chương về câu nói " Thời lai phong tống Đằng Vương Các ", và còn để lại rất nhiều ảnh hưởng cho văn học đời sau bằng các thành ngữ còn thông dụng đến hiện nay.
       Sau đây là một bài Ngũ Ngôn Tứ Tuyệt nổi tiếng của ông.


    思歸                     TƯ QUY
長江悲已滯,       Trường Giang bi dĩ trệ,
萬里念將歸。     Vạn lí niệm tương quy. 
況屬高風晚,       Huống thuộc cao phong vãn, 
山山紅葉飛。     Sơn sơn hồng diệp phi.
           王勃                             Vương Bột

dcd_vuongbot_1.jpg 

CHÚ THÍCH :

       Câu 3 & 4 của bài nầy còn có dị bản là :
           Huống PHỤC cao SƠN VIỄN,          況復高山遠,  
           Sơn sơn HOÀNG diệp phi.              山山黃葉飛。
    HUỐNG THUỘC hay HUỐNG PHỤC gì đều có nghĩa là : Hơn nữa, Vả lại...
    CAO PHONG VÃN : là Gió thu trên cao thổi vi vút vào buổi chiều tối, còn ...
    CAO SƠN VIỄN : là Núi cao chập chùng xa xăm diệu dợi.
    BI DĨ TRỆ : là Nỗi sầu cô đọng lại như nước Trường Giang lửng lờ ( như không trôi chảy ).
    NIỆM TƯƠNG QUY : là Chỉ mới có Ý niệm sẽ quay trở về mà thôi. ( Ý nói: Muốn về mà không về được!)
    HỒNG DIỆP hay HOÀNG DIỆP gì cũng đều là lá mùa thu, và cũng đều nên thơ cả ! Có điều, người Việt ta thì hay dùng " Lá Vàng " để chỉ mùa thu, còn người Hoa thì hay dùng " Lá Đỏ ", vì họ có nhiều rừng phong đỏ thắm lúc thu về, còn ta thì lại có :
                   " Lá VÀNG trước gió sẻ đưa vèo ! "...
  hoặc thi vị hơn như Tản Đà :
                  " Trận gió thu phong cuốn lá VÀNG,
                    Lá bay hàng xóm lá bay sang....
       để rồi...
                    Hờ hững ai xui thiếp phụ chàng ! "

dcd_vuongbot_2.jpg

 

DIỄN NÔM :

                    MUỐN VỀ
           Trường Giang sầu nước lửng,
           Muôn dặm muốn về ngang.
           Núi cao ngăn quê cũ ,
           Non non rụng lá vàng !
   Lục bát :
           Trường Giang nước đọng lòng sầu,
           Xa nhà muôn dặm mấy thâu muốn về.
           Núi cao ngăn cách làng quê,
           Muôn chiều lá đổ ủ ê lòng sầu !
                                                 Đỗ Chiêu Đức

2. TUYỆT CÚ của ĐỖ PHỦ : 

        Bài thơ nầy được làm vào cuối xuân năm Quảng Đức thứ 2 đời Đường Đại Tôn ( 764 ), lúc bấy giờ, Thi Thánh Đỗ Phủ đang ở Thành Đô ( Tứ Xuyên ), mặc dù tha hương nhưng cuộc sống đã tạm ổn định, nhớ quê nhưng tâm lý đã khá thoải mái.


      絕句                   TUYỆT CÚ   
   江碧鳥逾白,     Giang bích thủy du bạch,
   山青花欲燃。     Sơn thanh hoa dục nhiên.
   今春看又過,     Kim xuân khan hựu quá,
   何日是歸年.       Hà nhật thị qui niên ?!
              杜甫                               Đỗ Phủ

dcd_DoPhu_3.jpg 

 

 

CHÚ THÍCH :

      Bài thơ nầy được Thi Thánh Đỗ Phủ làm vào mùa xuân năm Quảng Đức thứ hai đời Đường Đại Tôn. Lúc nầy ông đang tạm cư ở Thành Đô, cuộc sống tạm ổn định, mặc dù xa quê nhưng trong lòng cũng tạm thoải mái bớt day dứt, nên lời thơ cũng nhẹ nhàng gợi cảm hơn.
    BÍCH 碧 : là BIẾC. Ta thường hiểu là XANH thì mới BIẾC. Thật sự BÍCH là chỉ cái sắc ÓNG ÁNH, như Cẩm Thạch  " Lên Nước " thì gọi là BÍCH, bất cứ nó ửng lên màu gì đều là " BÍCH " cả !.   
    DU 逾 :là Càng hơn, là Vượt quá.
    DỤC 欲 :là Muốn, là Giống Như.
    NHIÊN 燃 :là Cháy, Ở đây có nghĩa là Rực Rỡ.
    QUÁ 過 :là Qua, là Đi Qua.
    HÀ 何 :Nghi Vấn Từ, có nghĩa là GÌ, NÀO, SAO... Như : HÀ SỰ là Việc gì ?, HÀ NHÂN là Người Nào?, HÀ CỐ là Cớ Sao ?. Trong câu thơ HÀ NHẬT là Ngày Nào ?

 

DỊCH NGHĨA :
        Nước của dòng sông càng xanh biếc thì những cánh chim bay lượn trên sông càng trắng hơn thêm, núi càng xanh hơn thì muôn hoa càng như rực rở hơn lên như muốn bốc cháy. Trước mắt ta mùa xuân lại sắp đi qua nữa rồi, không biết là đến năm nào mới có được ngày quay trở lại quê hương đây ?!.

dcd_DoPhu_4.jpg

 

DIỄN NÔM :         


                     TUYỆT CÚ
             Nước biếc chim càng trắng,
             Núi xanh hoa rực hương.
             Nay nhìn xuân lại hết,
             Biết thuở nào hồi hương ?!


 Thất ngôn :
            Trắng xóa cánh chim làn nước biếc,
            Hoa như rực lửa núi càng xanh.
            Mắt trông xuân lại qua lần nữa,
            Quê cũ năm nào lại gặp anh ?!


                                                Đỗ Chiêu Đức

           

3. KIẾN VỊ THỦY TƯ TẦN XUYÊN của SẦM THAM .


        SẦM THAM 岑參 ( 715-770 ), người gốc Nam Dương ( thuộc Tân Dã, tỉnh Hà Nam hiện nay ), sau thuyên cư về Giang Lăng ( Tỉnh Hồ Bắc hiện nay ), đậu Tiến Sĩ năm Thiên Bảo thứ ba năm 30 tuổi. Ông là thi nhân nổi tiếng đời Đường, chuyên về thơ biên tái 7 chữ, giọng thơ hào hùng, sức tưởng tượng phong phú, đầy màu sắc lãng mạn. Ông mất lúc 56 tuổi.

 

     見渭水思秦川      KIẾN VỊ THỦY TƯ TẦN XUYÊN

            
  渭水東流去,        Vị Thủy đông lưu khứ, 
      何時到雍州。        Hà thời đáo Ung Châu ?
  憑添兩行淚,        Bằng thiêm lưỡng hàng lệ,
      寄向故園流。        Kí hướng cố viên lưu  !

                 岑參                                    Sầm Tham

dcd_samTham.jpg 

CHÚ THÍCH :

      VỊ THỦY 渭水:Còn gọi là Vị Hà, từ Cam Túc chảy qua Thiểm Tây đổ vào sông Hoàng Hà ra biển.
      TẦN XUYÊN 秦川:Địa danh xưa, tức tỉnh Thiểm Tây ngày nay. Trong thơ chỉ đất Quan Trung, là một dãi đất ở trung bộ tỉnh Thiểm Tây.
      UNG CHÂU 雍州:Một trong chín Châu ngày xưa, bao gồm một phần của tỉnh Cam Túc và một dãi của tình Thiểm Tây ngày nay.
      CỐ VIÊN 故园:Vườn Cũ, chỉ Cố Hương, nơi được sanh ra và lớn lên.

DỊCH NGHĨA :
              THẤY DÒNG SÔNG VỊ MÀ NHỚ TẦN XUYÊN
     Dòng sông Vị chảy về đông, không biết bao giờ mới đến được xứ Ung Châu quê ta.( Nay ta thương nhớ quê hương mà không về được, nên...) chỉ còn có nước nhỏ thêm hai hàng lệ nhớ quê xuống sông, nhờ nước sông mang hai hàng lệ nhớ thương nầy về với cố hương quê ta mà thôi !

 

DIỄN NÔM :


             TRÔNG SÔNG VỊ NHỚ TẦN XUYÊN


                   Xuôi đông sông Vị chảy,
                   Ung châu ngang quê nhà.
                   Ta thêm hai hàng lệ,
                   Về tận cố hương xa !

  Gián Cách :
                   Sông Vị chảy về đông,
                   Uông Châu bao giờ đến ?
                   Ta thêm lệ đôi dòng,
                   Gởi cố hương yêu mến !
    Lục Bát :
                  Về đông sông Vị chảy mau,
              Bao giờ mới đến Ung Châu quê nhà ?
                  Nhỏ hai hàng lệ thiết tha,
              Gởi về tận chốn quê xa mịt mùng !


                                                         Đỗ Chiêu Đức

 

4. TĨNH DẠ TƯ của LÝ BẠCH :


       Bài thơ TĨNH DẠ TƯ của Thi Tiên LÝ BẠCH với lời lẽ mộc mạc, giản dị, nhưng lại rất thực tế, nhân bản, dễ đi sâu vào lòng những người tha hương cô thân chiếc bóng, lòng nhớ quê luôn canh cánh khôn nguôi !


    靜夜思                    TĨNH DẠ TƯ
  床前明月光,          Sàng tiền minh nguyệt quang,
      疑是地上霜。        Nghi thị địa thượng sương.
    舉頭望明月,        Cử đầu vọng minh nguyệt,
      低頭思故鄉。        Đê đầu tư cố hương !
                 李白                            LÝ BẠCH

dcd_LyBach.jpg 

CHÚ THÍCH :

    Chữ 靜 được phát bằng 2 âm TỊNH và TĨNH, nhưng nghĩa thì lại như nhau. TĨNH DẠ 靜夜 : là Trong đêm thanh vắng. Đêm vắng lặng.
    NGHI 疑 : là Nghi Ngờ. Ở đây có nghĩa là NGỠ là , Tưởng là. 
    CỬ ĐẦU : là ngước đầu, là ngẩn đầu lên.
    ĐÊ ĐẦU : là Cúi đầu xuống.

 

NGHĨA BÀI THƠ :
                     NỖI NHỚ NHUNG TRONG ĐÊM VẮNG VẺ
       Trước giừơng ta nằm, ánh trăng sáng vằng vặc đang chiếu rọi, ánh trăng huyền ảo mơ màng như có một làn sương mỏng phủ trùm cả đất trời. Trong đêm vắng lặng nầy, ta không sao chợp mắt được. Ngước đầu nhìn lên vầng trăng sáng như thuở nào, nên khi cúi đầu nhìn xuống lại tưởng nhớ đến quê hương !

       Tình cảm mộc mạc mà chân thật biết bao, nên chi bài thơ với những từ rất giản dị lại cũng rất dễ đi vào lòng người suốt trên ngàn năm nay !

 

DIỄN NÔM :     


                     NHỚ QUÊ ĐÊM VẮNG


                 Trước giừơng nhìn trăng sáng,
                 Mông lung ngỡ sương đêm.
                 Ngữa trông vầng trăng bạc,
                 Nhớ quê dạ buồn thêm !
 Lục bát :
                 Trước giừơng nhìn ánh trăng trong,
              Mông lung cứ ngỡ sương lồng bóng mây.
                 Ngữa trông trăng sáng đêm nay,
              Cúi đầu lòng những ai hoài nhớ quê !


                                                   Đỗ Chiêu Đức 

____________________________________________________________________________________________________________________ 

 

 

 

                                                  THƯƠNG HOÀI NGÀN NĂM

 Nhân Hội Cao Niên của Trung Tâm VIỆT MỸ Houston TX tổ chức  wedding  Anniversary  cho các cặp đôi Cao Niên.  Đỗ Chiêu Đức có làm một bài thơ tặng cho " Bà Xã " để kỉ niệm 43 năm ngày cưới.  

DCD_weddingAnni.jpg

 

                        Thương hoài mãi ngàn năm,
                        Trót nên duyên sắt cầm.
                        Vấn vít tình sinh nghĩa,
                        Vợ chồng : Nghĩa trăm năm !


       Một nửa đây rồi một nửa ơi !
       Bốn mươi năm lẻ mấy xa vời ?
       Đồng cam cộng khổ bao năm tháng,
       Thoáng chốc tuổi già đã đến nơi !!!


                     Nhớ hồi son giá mắt em cười,
                     Xao xuyến lòng anh biết mấy mươi.
                     Đôi lứa chung lưng tìm hạnh phúc,
                     Con thơ từng đứa điểm tô đời !


       Rồi những tháng ngày khói lửa,
       Lên đường nhập ngũ phận trai,
       Nuôi dạy con thơ, cha mẹ,
       Thân cò lặn lội đêm ngày !


                     Thương em vất vả lòng luôn nhớ,
                     Tiếng mẹ hát ru vẳng đáy lòng...
                     Ầu ơ...Con cò lặn lội bờ sông,
                     Tuổi xuân mòn mõi má hồng phôi pha !...

          

          Em là hiền phụ,
          Quán xuyến trong ngoài.
          Thờ cha kính mẹ,
          Chẳng chút đơn sai !


                Tào khang là tấm mẵn,
                Cùng chịu cảnh cơ hàn.
                Mong một ngày lại sáng,
                Hết cơ cực lầm than !

                 ................................


         Qua rồi những tháng ngày cay nghiệt,
         Sống chết cận kề thật mỏng manh.
         Hết cơn vận bỉ thời lại thái,
         Đoàn viên dệt lại mộng ngày xanh !

 

 

                 Quê người xây dựng lại,

                 Cuộc sống lứa đôi mình.
                 Bốn mươi năm kỉ niệm,
                 Hạnh phúc lại hồi sinh !

Nay thì...
         Trưởng thành con cái nên danh,
         Yên bề gia thất cho đành lòng nhau.
         " Trải qua một cuộc bể dâu ",
         Giờ là hạnh phúc còn cầu gì hơn ?!


               An bày hiện hữu vuông tròn,
               An cư lạc nghiệp không còn bôn ba.
               Đoàn viên sum họp một nhà,
               Hấp Hôn VIỆT MỸ ông bà đều vui.


         Tào khang nghĩa nặng ai ơi !
         Răng long đầu bạc chẳng rời xa nhau.
         Nội ngoại con cháu lao xao,
         Vui nầy còn có vui nào vui hơn ?!



                 Bền lòng một dạ sắt son,
                 Thong dong đi hết đường trần chông gai.
                 Phu thê đã biết bao ngày,
                 Ngàn năm gắn bó, THƯƠNG HOÀI NGÀN NĂM !!!


                                                                  Đỗ Chiêu Đức 

dcd_weddingAnni_2.jpg

 

  Xin chúc mừng 43 năm ngày cưới của anh chị Đỗ Chiêu Đức- Lương Tố Quyên bằng hai câu thơ tiếp vần với hai câu trong bài Thương Hoài Ngàn Năm:

Một nửa đây rồi một nửa ơi!

Bốn mươi năm lẻ mấy xa vời? " ( ĐCĐ )

 

Thêm ngàn năm tới luôn kề cận

Gắn bó yêu thương mãi chẳng rời. (PH )

 

Dù cho vật đổi sao dời,

Đôi ta kiếp kiếp đời đời bên nhau (QĐ)

 

Bốn ba năm trãi ngọt ngào

Hôn nhân, đằm thắm biết bao ân tình (MXT)

 

Dẫu đã biết ba sinh hương lửa

nhưng nào ai chọn lựa cơ trời

Bốn ba năm nặng nợ rồi

thì xin giữ lấy trọn đời bên nhau (TBT) 

 

Hương ba sinh biết bao thử thách,

 Nghĩa tào khang son sắt sáng ngời.

 Em là một nửa của tôi,

 Bốn mươi năm lẻ tuyệt vời tình ta. (ML) 

 

    Mái ấm gia đình chung cảnh ngộ

    Vượt qua bao gian khổ mới an

    Thương chồng chia xẻ với chàng

     Bách niên giai lão tào khang mặn nồng (MXT)

 

Đời đẹp mảng sương pha màu tóc

Lòng thủy chung hái lộc ân tình

Thời gian ấp bóng ôm hình

Nàng ơi thương gọi là mình với ta. (Mai Thắng)

 

Duyên nợ ba sinh tròn đạo nghĩa

Bốn ba năm hương lửa bền lâu

Xin gìn giữ lấy bên nhau

Răng long tóc bạc nghìn sau vững vàng.(Song Quang)

             

Sách Tăng Quảng ngày xưa có dạy,

Vợ chồng là kim cải nhân duyên :

" Bách thế tu lai đồng thuyền độ,

  Thiên thế tu lai cộng chẩm miên." ( Đỗ Chiêu Đức )

 

GHI CHÚ :

           百 世 修 來 同 船 渡,   Bách thế tu lai đồng thuyền độ,

           千 世 修 來 共 枕 眠.   Thiên thế tu lai cộng chẩm miên.   
   
 Chú Thích :   
         THẾ : là Đời, Kiếp. BÁCH THẾ : là Trăm đời, Trăm kiếp. THIÊN THẾ : là Ngàn đời, ngàn kiếp. VẠN THẾ : là Muôn đời, Muôn kiếp. Khổng Tử được xưng tụng là " VẠN THẾ SƯ BIỂU " : là Người Thầy tiêu biểu của Muôn đời.
         ĐỘ : có 3 chấm thủy, nên có nghĩa là : Đi ngang qua Sông Hồ Ao Biển. Đồng Thuyền Độ : là  Cùng đi chung một thuyền.  
         CHẨM : là Cái Gối để nằm. Cộng Chẩm Miên : là Cùng nằm chung Gối để ngủ.


NGHĨA 2 CÂU trên :    
      
         Cùng tu với nhau một trăm kiếp, mới có cái duyên được đi chung thuyền với nhau. ( đồng hội đồng thuyền ). Cùng tu với nhau một ngàn kiếp mới ngủ chung gối với nhau được ! 

   
         Dù nói cách nào, cũng cho thấy là phải khó khăn vất vả lắm mới thành vợ thành chồng với nhau được, và quan hệ vợ chồng là cái gì đó thiêng liêng cao cả lắm, được gởi gắm vào 2 chữ Nhân Duyên do nơi tiền định, thiên định, chớ không phải sức người mà làm nên được. Nên ta phải biết trân trọng tình nghĩa vợ chồng , không thể động một chút là ly thân, ly dị.... mà phải biết gắn bó nhau để xây dựng hạnh phúc gia đình. Quan hệ vợ chồng là một trong ba cái giềng mối của xã hội phong kiến ngày xưa : Quân Thần, Phụ Tử, Phu Phụ. Nên không thể xem thường được, cho dù trong xã hội ngày nay, đơn vị Gia Đình vẫn là nền tảng chủ yếu của bất cứ xã hội hay quốc gia nào, mà  trong Gia Đình thì không thể vắng bóng cặp đôi nồng cốt là Vợ Chồng cho được.

 

tl_2birds.jpg

 

CHÚC MỪNG! CHÚC MỪNG                        

Đức Khổng Tử Nói Về Mình

 

.

            Mùng 5 tháng 8 Âm lịch là ngày sanh của Đức Khổng Phu Tử. Năm nay nhằm ngày Thứ Năm  17 tháng 9 Dương lịch. Cuộc đời của ông Thánh nầy cũng lắm gian truân chìm nổi cũng như  cuộc đời của bao người khác, Ông mất lúc 73 tuổi, là tuổi thượng thọ lúc bấy giờ, và để lại một câu nói bất hủ thu tóm toàn bộ cuộc đời của ông như sau...

      《論語 · 為政第二》講要.
       ◎子曰:吾,十有五,而志于學,三十而立,四十而不惑,五十而知天命,六十而耳順,七十而從心所欲,不踰矩。

      [Luận Ngữ. Vi Chính đệ nhị] Giảng Yếu.

   Tử viết: Ngô, thập hữu ngũ, nhi chí vu học, tam thập nhi lập, tứ thập nhi bất hoặc, ngũ thập nhi tri thiên mệnh, lục thập nhi nhĩ thuận, thất thập nhi tòng tâm sở dục, bất du củ.

DCD_KhongTu.jpg 

 

Chú thích:

      * Tử Viết: là Khổng Tử Nói rằng.
      * Ngô: là Đại Danh từ Ngôi thứ Nhất: Tôi, Ta, Tao...
       *Nhi: là Thì, Là (Verbe Auxilière).
       *Vu: là Về.. cái gì đó. Ở... việc gì đó.
       *Lập: là Lập Thân, là Đứng vững được trong cuộc sống, là Thành Tài rồi. Có sự nghiệp, có công ăn việc làm rồi.
       *Bất Hoặc: là Không còn Nghi Hoặc, Ngờ Vực gì nữa. Chỉ Kiến thức đã chín chắn, ổn định.
       *Tri Thiên Mệnh: là biết được cái Mệnh Trời, An phận theo cái mình đã có, theo khả năng của mình , mà không đòi hỏi, so bì, bon chen nữa!.
       *Nhĩ Thuận: là Lỗ Tai Xuôi, có nghĩa là đã biết phân biệt một cách rõ ràng, nghe điều gì đó là biết ngay điều đó tốt hay xấu, thiện hay ác, đúng hay sai....
       *Tòng Tâm Sở Dục: Tòng tâm là Theo Lòng Mình. Sở dục là Cái mà Mình Muốn. Tòng Tâm Sở Dục là Làm những cái mà lòng mình muốn làm, có nghĩa Muốn gì thì cứ làm nấy!
       *Bất Du Củ: Du 踰 có bộ Túc là Cái Chân ở bên Trái, nên Du có nghĩa là Trèo qua. Trong Truyện Kiều giảng tích "Tường đông ong bướm đi về mặc ai "bằng câu" Du đông lân nhi lâu kì xứ nữ", tức là "Trèo qua bức tường phía đông để ôm lấy cô gái bên đó.". Nhưng...
        ... trong câu nói trên Du có nghĩa là Vượt qua. Còn...
       *Củ 矩: là Cái Khuôn dùng để kẻ Hình Vuông, là Cái Ê-Ke. Nghĩa bóng là Cái Khuôn Phép. Nên...
       Bất du củ là: Không vượt qua cái khuôn phép đúng đắn bình thường trong cuộc sống. Sẵn nhắc lại chữ...
       *Quy 規: là Dụng cụ dùng để kẻ đường tròn, là Cái Com-pa đó. Nên...
       Không có Quy thì Kẻ không Tròn, không có Củ thì Vẽ không Vuông. Nên Quy củ là cái khuôn phép mà ta phải tuân theo. Nội quy là những điều khoản Quy định của một Tổ chức, Cơ quan... nào đó mà tất cả thành viên trong đó phải tuân hành. Nên câu nói của Đức Khổng Tử...

     Có thể hiểu nghĩa một cách đơn giản như thế nầy:

      Khổng Tử nói rằng: Ta, lúc 15 tuổi, thì chí ở học hành, 30 tuổi thì đã lập thân được, 40 tuổi thì không còn nghi hoặc điều gì nữa, 50 tuổi thì biết đến mạng trời, 60 tuổi thì nghe đã biết điều phải trái, 70 thì có thể làm theo những gì mà trong lòng mình muốn, vì nó không có đi quá lố ngoài khuôn phép nữa .

      Đây là câu nói của Đức Khổng Tử nói về bản thân Ngài, nhưng thường được người đời đem ví với bản thân mình, thậm chí đem... áp dụng chung cho tất cả mọi người, cho nên ta thường nghe nói...

... Ba chục tuổi là tuổi Lập Thân, Năm chục tuổi là tuổi Tri Thiên Mệnh... thậm chí nói Tam Thập Nhi Lập là... Đàn Ông con trai tới tuổi ba mươi là phải lấy vợ, phải lập gia đình, thì mới lập thân được, nhưng vì điều nầy cũng hợp lí và thực tế , cho nên mọi người đều noi theo. Tôi còn nhớ một câu Nho mà Ba tôi thường nói khi... ép tôi cưới vợ là:

                      Nam đại bất hôn như liệt mã vô cương.  男大不婚如烈馬無韁

    Có nghĩa:

       Con trai lớn mà không kết hôn thì giống như con ngựa chứng (Liệt mã là con ngựa xấu, ngựa chứng!) mà không có dây cương vậy (sẽ phóng càn, phóng ẩu, phóng... túng, vì không có ai kềm chế, cưới cho con vợ để có người "cằn nhằn" và xì-tóp bớt lại, thì mới Trụ và mới làm nên sự nghiệp được!). Nên ông bà ta cứ nghĩ...

       Tam thập nhi lập là 30 tuổi thì phải Lập Gia Đình, không lập gia đình thì... Nó sẽ nổi máu "giang hồ" rồi không làm nên cơm cháo gì cả!.  Còn

     Ngũ Thập Tri Thiên Mệnh, là đến tuổi 50 nên an phận mà không còn muốn bon chen nữa, vì số trời đã định như thế rồi ! Sự thật thì ở Mỹ hiện nay, tuổi 50 là tuổi đã chín chắn về mọi mặt, kiến thức đã phong phú, kinh nghiệm sống dồi dào, nghề nghiệp đã vững chắc ổn định, tiềm năng về kinh tế cũng đã có cơ sở, credit đầy đủ... chính là cái tuổi phát triển sự nghiệp tốt nhất của con người.... chớ không phải Tri Thiên Mệnh mà buông xuôi tất cả!!!. Khổng Tử chỉ muốn nói về mình, khi đến 50 tuổi thì biết được mệnh trời, tức là biết được cái hoàn cảnh xã hội chung quanh mình đang sống, biết được cái khả năng và cái tài năng của mình như thế nào, để không đòi hỏi đua đòi những điều quá đáng mà phải biết an phận với cái mà mình đang có trước mắt hợp với sở năng của mình, chớ không phải mê tín buông xuôi cho số phận!. Về...

          Tứ thập nhi bất hoặc: 40 tuổi thì không còn Nghi hoặc gì nữa, Ý nói, tuổi 40 thì sự hiểu biết đã Chính chắn, gặp chuyện gì đó đã biết và dám đưa ra quyết định theo nhận thức của mình, chớ không còn Nghi hoặc chần chừ không biết phải quyết định như thế nào của tuổi 30 nữa! Bất hoặc là thế!

           Lục thập nhi nhĩ thuận là: 60 tuổi thì tai đã xuôi, đã thông. Có nghĩa: Khi nghe điều gì đó thì đã biết ngay là điều đó đúng hay sai, phải hay không phải, nên hay không nên nghe theo, cũng có nghĩa là sự nhận xét phán đoán đã nhuần nhuyễn. Trái với Nhĩ thuận là Nhĩ nghịch là Trái Tai Gai Mắt!

           Thất thập nhi tòng tâm sở dục, Bất du củ là: 70 tuổi thì có thể làm theo những điều gì mà mình đã nghĩ đã muốn làm, vì những điều đó không có vượt quá qua khuôn phép đâu! Ý muốn nói, trong phép tu thân thì đến tuổi 70 đã hoàn hảo lắm rồi, có thể làm theo những gì mình muốn mà không sợ quá đáng! Đây là câu nói hướng thiện, luôn luôn theo hướng phấn đấu tốt mà vươn lên, chớ không phải câu nói Tự hào là mình đã Hoàn thiện không còn sai sót nữa!  Và cũng không có nghĩa là hễ đến 70 tuổi là làm việc gì cũng đúng cả như người đời thường lầm tưởng!

        Vì là câu nói của ông Thánh, cho nên người đời hay lấy đó làm chuẩn mực để phân định tuổi tác của mọi người, mặc dù cái chuẩn mực đó đã bị lệch nghĩa so với Ý chính của câu nói ở lúc ban đầu, như...

       Tuổi 30 thì gọi là " Tuổi Nhi lập ", và hiểu là đã đến tuổi phải Lập Gia Đình, phải Thành Gia Lập Thất, phải Cưới Vợ, phải Ổn Định Sự Nghiệp...

       Tuổi 40 thì gọi là " Tuổi Bất hoặc ", và gọi thì gọi thế, nhưng rất nhiều người không hiểu Bất Hoặc là gì, chỉ nghe người ta gọi thì gọi theo mà thôi! Hoặc chỉ hiểu nghĩa lờ mờ, Bất Hoặc là không còn nghi hoặc gì nữa, mà không biết tại sao lại không còn nghi hoặc, và tại sao lại gọi thế ?!.

       Thông dụng nhất là tuổi 50, được gọi là " Tuổi Tri thiên mệnh ", và thường hay có tâm lí an phận và buông xuôi mà không muốn phấn đấu để vươn lên nữa! Và cũng thường dùng để tự an ủi khi thất bại hoặc trắc trở về mặt sự nghiệp trong độ tuổi nầy!.

       Sáu mươi tuổi thì gọi là " Tuổi Nhĩ Thuận ", Nhĩ thuận là xuôi tai, nhưng lại nghe rất lạ tai, mà không hiểu tại sao gọi thế, cũng như...

      Tuổi 70, thì gọi là " Tuổi Tòng tâm sở dục, Bất du củ! " Rất nhiều người không hiểu câu nói nầy có nghĩa gì cả! Khác với dân gian hay gọi 70 tuổi là tuổi Cổ lai hy, theo Ý của 2 câu thơ trong bài Khúc Giang của Thi Thánh Đỗ Phủ đời Đường là:

                      Tửu trái tầm thường hành xứ hữu,   酒債尋常行處有,
                      Nhân sanh thất thập Cổ lai hy.         人生七十古來稀.

   .... nghe thi vị và hay hơn nhiều!

       Nhưng...

        Vì là câu nói của ông Thánh Khổng nên mọi người đều muốn nhái theo xem có được như... Thánh hay không? Âu cũng là việc tốt mà thôi!

       Theo tài liệu thống kê dân số đời Đường, thì tuổi thọ của con người ta lúc bấy giờ chỉ trên dưới 45 tuổi mà thôi, nên mới bảo là "Thất thập Cổ Lai Hy", chớ bây giờ, nhất là ở nước Mỹ nầy thì 70 tuổi hễ ra đường là thấy liền ngay mấy cụ...

        Càng ngày tuổi thọ con người càng cao, nên ngày Lễ Ông bà càng cần thiết và càng có Ý nghĩa hơn lên!

 Đỗ Chiêu Đức

 

TỪ đời Minh :

 

                       LÂM GIANG TIÊN

                                                            DƯƠNG THẬN

 

         DƯƠNG THẬN 楊慎 ( 1488-1559 Tương đương thời kỳ Văn Hoá Phục Hưng của Phương Tây ). Ông là Văn Học gia đời Minh, tự là Dụng Tu 用修, hiệu là Thăng Am 升庵. Người đất Thành Đô. Đậu Tiến Sĩ hạng nhất năm Chánh Đức thứ 6 đời Minh Võ Tông. Ông là người đất Thục ( tỉnh Tứ Xuyên ) duy nhất đậu Trạng Nguyên dưới triều nhà Minh. Dương Thận tính tình cương trực, gặp việc thì nói thẳng, nên vào đời Minh Thế Tông năm Gia Tĩnh thứ 3 bị biếm đến Vân Nam và mất ở nơi nầy sau hơn ba mươi năm đi đày. Đến năm Thiên Khải đời Minh Hi Tông ( 1621-1627 ) mới được truy phong " Văn Hiến ". Trứ tác của ông còn để lại trong " Thăng Am Tập ".

       Dương Thận là người học rộng biết nhiều, Minh Sử ghi ông là người trứ tác phong phú. Trong " Nhị Thập Nhất Sử Đàn Từ " kể lại lịch sử từ đời Tam Đại cho đến đời Nguyên và cuối đời Minh, văn phong lưu loát, được truyền tụng rộng rãi trong dân gian.

       LÂM GIANG TIÊN là bài từ của ông viết để mở đầu khai quyển cho TAM QUỐC DIỄN NGHĨA của La Quán Trung đã làm tăng thêm sức thu hút của quyển truyện nầy.

       LÂM GIANG TIÊN 臨江仙 là " Tiên trên bến sông ", là TÊN của một THỂ LOẠI " Từ " chuyên tả Thủy Tiên mà thành tên. Với nhịp đôi gồm 58 hoặc 60 chữ, đều gieo thành vần Bằng.

        Bài " Lâm Giang Tiên " của Dương Thận viết để đề từ cho quyển Tam Quốc Chí rất nổi tiếng, gồm có 60 chữ và được gieo vần Bằng như sau :

 

    臨江仙.                           LÂM GIANG TIÊN

              楊慎                                     Dương Thận

 

滾滾長江東逝水,   Cổn cổn Trường Giang đông thệ thủy, 
浪花淘盡英雄。      Lãng hoa đào tận anh hùng.
是非成敗轉頭空。   Thị phi thành bại chuyển đầu không. 
青山依舊在,         Thanh sơn y cựu tại,

幾度夕陽紅。         Kỷ độ tịch dương hồng. 
白髮漁樵江渚上,   Bạch phát ngư tiều giang chử thượng, 
慣看秋月春風。      Quán khan thu nguyệt xuân phong. 
一壺濁酒喜相逢。   Nhất hồ trọc tửu hỉ tương phùng.
古今多少事,         Cổ kim đa thiểu sự,

都付笑談中.           Đô phó tiếu đàm trung !

 

CHÚ THÍCH :

   1. ĐÔNG THỆ THỦY : THỆ là Mất, là Chết. THỆ THẾ 逝世 là Từ trần. Nên Đông Thệ Thủy 東逝水 là Nước chảy mất hút về hướng đông không trở lại.

   2. ĐÀO TẬN : là Đào thãi hết, đào thãi sạch sẽ không chừa ai cả.

   3. CHUYỂN ĐẦU : là Quay đầu nhìn lại, chỉ thời gian rất nhanh.

   4. BẠCH PHÁT : Tóc trắng, chỉ người gìa.

   5. NGƯ TIỀU : là Ngư Ông và Tiều Phu, nhưng ở đây là Động Từ, có nghĩa là : Bắt cá và đốn củi.

   6. CHỬ : là Bãi nước, là Bến nước , là Cồn ở giữa sông.

   7. QUÁN KHAN : đã quen nhìn, đã thường thấy.

   8. THU NGUYỆT XUÂN PHONG : chỉ Thời gian lần lựa, hết thu nguyệt thì tới xuân phong và ngược lại.

   9. TRỌC TỬU : không phải là rượu dơ, mà là rượu thường của giới bình dân uống thường ngày, chưa được tinh chế chắc lọc.

  10. PHÓ : là Phó mặc, là mặc cho.

 

NGHĨA BÀI TỪ :

      

         Sông Trường Giang sóng xô nước cuốn cuồn cuộn chảy về biển đông rồi không bao giờ còn trở lại nữa; cũng như biết bao anh hùng hào kiệt đều như hoa sóng kia tan biến biệt tăm và chịu đào thải theo dòng lịch sử. Bất luận là thị hay phi, là đúng hay sai, là thành hay bại, trong chớp mắt quay  đầu nhìn lại thì đã không còn gì nữa. Chỉ có núi xanh vẫn như cũ đứng trơ gan cùng tuế nguyệt và nắng chiều vẫn biết bao lần hồng lên rồi chợt tắt. Những ông lão đốn củi và đánh bắt cá trên bến nước, họ đã quen rồi với thu nguyệt rồi lại xuân phong, thời gian cứ thế trôi đi. Nên khi gặp nhau thì cứ cùng vui với nhau bên chung rượu lạt. Biết bao nhiêu là chuyện lớn chuyện nhỏ trên đời nầy từ xưa đến nay, chẳng qua cũng chỉ là những chuyện nói cười trong lúc nhậu, là chuyện phiếm chuyện gẫu khi trà dư tửu hậu của người đời mà thôi !

      Thật là cảm khái ! Tam Quốc Chí chẳng những viết lại lịch sử, mà còn viết lại những cuộc đời anh hùng, sự chìm nổi hưng suy của anh hùng, cái khí thế và khí phách của anh hùng, cái thành công và thất bại của anh hùng, cuối cùng đều phải chịu chung sự đào thải vô tình của thời gian và lịch sử. Lịch sử đã sang trang, thời gian đà biền biệt, rốt cuộc họ còn được gì ? Chẳng qua chỉ là những câu chuyện khề khà với nhau khi trà dư tửu hậu của hậu thế mà thôi ! Tất cả đều qui về một chữ KHÔNG to lớn !. 

      Bài Từ rất thực tế và sát sao với cuộc sống, nên có những từ Hán Việt cũng rất sát sao với cuộc sống thực tế, không cần phải diễn Nôm mà ai cũng đã hiểu nghĩa cả rồi. Như : Thị Phi Thành Bại, Thu Nguyệt Xuân Phong ...

 

DIỄN NÔM :

                     LÂM GIANG TIÊN

 

         Trường giang cuồn cuộn nước về đông,

         Sóng xô đào thải hết anh hùng.

         Thị phi thành bại quay đầu : hết !

         Núi xanh vẫn còn đó,

         Bao lượt nắng chiều hồng.

         Ngư tiều đầu bạc trên sông nước,

         Đã quen rồi thu nguyệt với xuân phong,

         Một bầu rượu lạt thắm tình nồng,

         Xưa nay bao thế sự,

         Cười nói cũng như không !

 

Lục bát :

             Trường Giang cuồn cuộn về đông,

         Anh hùng như sóng theo dòng trôi xuôi.

             Thị phi thành bại trên đời,

         Quay đầu là hết núi đồi còn đây.

             Núi xanh sừng sửng tháng ngày,

         Hoàng hôn mấy lượt thêm dài hoàng hôn.

             Ngư tiều đầu bạc ven thôn,

         Trên dòng sông nước vùi chôn tháng ngày.

             Một bầu rượu lạt ngà say,

         Cổ kim thế sự nào ai có lòng ?

             Nói cười nhấp rượu như không !

 

                                                 Đỗ Chiêu Đức.

MAI XUÂN THANH:

Tiên Trên Bến Sông

Trường Giang sóng dữ cuộn xuôi đông,

Chiến sĩ anh hùng thác mạng vong.

Thành bại thị phi ai có biết,

Non xanh nước biếc nắng chiều hồng.

 

 

Tiều phu đốn củi nay đầu bạc,

Bắt cá ngư ông tóc trắng bông

Mấy độ xuân phong thu tuế nguyệt,

Bạn già cạn chén rượu ngon nồng.



Hàn huyên thế sự ngoài tai bỏ,

Say khướt cười khà rốt cuộc không !

Tam quốc ngày xưa nhiều dũng tướng,

Khổng Minh, Mã Ý thuộc nằm lòng...



                                                Mai Xuân Thanh

 

 

Phiếm: 

NƯỚC LÀ THỦY

dcd_nuoc.jpg 

 

                  Nước là chất lỏng có ký hiệu là H₂O, từ Hán Việt là Thủy 水, thuộc dạng chữ Tượng Hình trong CHỮ NHO ... DỄ HỌC, được hình thành theo diễn tiến của chữ viết như sau :

 

       Giáp Cốt Văn  Kim Văn   Đại Triện     Tiểu Triện    Lệ Thư

 dcd_5words.jpg


 Ta thấy:

       Từ Giáp Cốt Văn cho đến Đại Tiểu Triện đều là hình tượng của một dòng nước, 4 chấm 2 bên là tượng trưng cho dòng nước đang chảy. cho nên, có nước là có dòng nước chảy, như suối, khe, sông, biển ... và nơi nào có suối, khe, sông, biển là nơi đó có nguồn sống, có dân cư. Cái quần thể dân cư nầy sinh sống phát triển là nhờ dựa vào nguồn nước. Cho nên ông bà ta có câu " Uống nước phải nhớ nguồn ", và có phải vì thế mà dân ta gọi một Quốc Gia là Một Nước ? Không có nước sẽ không có người sinh sống và cũng sẽ không có quốc gia nào hình thành được cả !

       Nước mất thì nhà tan, quốc phá thì gia vong ! Không có nước sẽ không có nhà, mà không có Nhà thì cũng không thành ... Nước ! Cho nên, ta lại có từ Nhà Nước để chỉ Chính Quyền của một Quốc Gia.

 

       Nước là thủy, thủy là nước. Bên dòng nước là bên dòng sông, nên thủy cũng là sông, như Hương Giang còn gọi là dòng Hương Thủy; tương tự, Tương Giang cũng gọi là Tương Thủy như trong bài thơ " Tảo hàn giang thượng hữu hoài " của Mạnh Hạo Nhiên đời Đường :

                 我家襄水曲,    Ngã gia Tương Thủy khúc,

                 遥隔楚云端.    Dao cách Sở vân đoan.

Có nghĩa :

                   Sông Tương quê cũ vời trông,
              Ngẩn ngơ mây Sở cách ngăn mấy lần.
 

 

      H₂O là phân tử nước do 2 nguyên tử Hidro và 1 nguyên tử oxy kết hợp mà thành, đó là theo công thức Hóa học. Còn theo Âm Dương Ngũ Hành của Kinh Dịch thì Kim sanh Thủy. Nước là do ... vàng sinh ra, và theo một câu trong sách Thiên Tự Văn 千字文 là KIM SANH LỆ THỦY 金生麗水. Có nghĩa:  Khi vàng bị nung chảy thì trở thành một chất lỏng lắp lánh đẹp đẽ. Nhưng căn cứ vào thực tế thì không phải như thế, vì chất lỏng lóng lánh của vàng sẽ rất nhanh đong cứng lại thành chất rắn của kim loại. Nên ...

      KIM SANH LỆ THỦY ở đây là chỉ dòng sông Kim Sa Giang ở tỉnh Vân Nam thuộc nước Sở thời Chiến Quốc. Vì có rất nhiều cát vàng ở trong lòng sông, nên nước sông lắp lánh rất đẹp, vì thế mà dân chúng mới gọi Kim Sa Giang là LỆ GIANG 麗江 hay là dòng LỆ THỦY 麗水, là dòng nước đẹp ! Đẹp vì cái Thần của con sông là vàng là Kim, nên chi vị Thủ Tướng đầu tiên của nước Việt Nam ta là cụ Trần Trọng KIM mới lấy hiệu là LỆ THẦN, là cái THẦN của dòng sông LỆ, chính là KIM đó vậy !

             DCD_ThTTrTrKim.jpg   

            Nội các của Thủ Tướng Lệ Thần Trần Trọng Kim

      Trong mùa xuân thì nước gọi là Xuân Thủy. Từ những băng tuyết trên nguồn tuôn chảy thành những khe suối trong veo vào mùa xuân, rồi chảy thành những dòng sông len lỏi qua thôn xóm mang lại nguồn sống cho dân cư, như trong thơ của Đổ Phủ :

                  一徑野花落,   Nhất kính dã hoa lạc,

                  孤村春水生.     Cô thôn xuân thủy sinh.

Có nghĩa :

                      Bên đường hoa dại rụng đầy, 

               Nước xuân trong vắt đâu đây xóm nghèo.

      Nước xuân trong vắt như ánh mắt của các cô thôn nữ mộc mạc ngây thơ như lời thơ của Thôi Ngọc trong Đường Thi :

            两臉夭桃從镜發,  Lưỡng kiểm yêu đào tòng kính phát,

            一眸春水照人寒。  Nhất mâu xuân thủy chiếu nhân hàn.

Có nghĩa :

                        Má đào ửng đỏ trong gương

                Một làn xuân thủy vấn vương lòng người.

      Xuân thủy là ánh mắt xuân của các cô gái ngây thơ trong trắng, khác với thu thủy là ánh mắt gợn buồn đa sầu đa cảm của các giai nhân tài hoa bạc mệnh như Thúy Kiều :

                        Làn Thu Thủy, nét xuân sơn,

                Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh !

     Thu Thủy là nước mùa thu, trong veo, lạnh lùng mà se sắt dễ làm rung động và cũng dễ làm tê tái lòng người.

 

     Theo Âm Dương Ngũ Hành, thủy thuộc cung Hợi và Tý, có màu đen và nằm ở phương bắc. Bắc phương Nhâm Qúy Thủy mà ! Nên, ở Bắc bán cầu nầy, thường các dòng sông đều phát nguyên từ vùng Tây Bắc và chảy về hướng Đông Nam mà đổ ra biển theo như một câu nói xưa :

                 世間無水不朝東.    Thế gian vô thủy bất triều đông.

Có nghĩa :

        Trên đời nầy không có dòng nước nào mà không chảy về hướng Đông cả !

      Hãy nghe Lý Bạch mở đầu bài Tương Tiến Tửu bằng câu :

             君不見  

                        黃河之水天上來,奔流到海不復回? 

      Quân bất kiến

                 Hoàng hà chi thủy thiên thượng lai bôn lưu đáo hải

                                     bất phục hồi ?

Có nghĩa :

     Bộ bạn không thấy sao, nước sông Hoàng Hà như từ trên trời đổ xuống, chảy cuồn cuộn về biển rồi không quay trở lại nữa ?  

          Nước chảy cuồn cuộn mất hút vào biển đông, cũng như thời gian cứ vùn vụt mất hút về qúa khứ, cho nên ông viết tiếp :

               人生得意須盡歡, Nhân sinh đắc ý tu tận hoan,

               莫使金樽空對月。 Mạc sử kim tôn không đối nguyệt !

Có nghĩa :

                   Đời người đắc ý nên vui thích,

                   Chớ để chai vàng hết dưới trăng !

      Có dịp vui chơi đắc ý thì hãy vui cho đến cùng, đừng để cho cụt hứng nửa chừng mà hết rượu dưới ánh trăng còn đang vằng vặc !

 

      Khác với Tản Đà trong " Thề Non Nước " vì không phải " Nước đi đi mãi không về cùng non ", mà ...

                    Nước đi ra bể lại mưa về nguồn,

      để cho ...
                    Nước non hội ngộ luôn luôn.

      và ...

                    Nghìn năm giao ước kết đôi 
             Non non nước nước không nguôi lời thề !

      " Thề Non Nước " là Hải thệ sơn minh, là " Thề non hẹn biển ". Biển và Non cũng là thế thân của Non và Nước. Nhưng Non và Nước sống động hơn, khắng khít hơn với cái vòng tròn hóa thân của nước, nước chảy ra bể bốc hơi rồi lại mưa về nguồn với non xanh đang mõi mòn chờ đợi !   

           

DCD_TanDa.jpg

 Nước là nguồn tươi mát mang lại sức sống cho con người và vạn vật. Không có nước con người sẽ khô cằn, cỏ cây sẽ héo úa. Nước đem sinh khí đến cho muôn loài. Nên trong ca dao dân gian của ta mới ví :

                       Công cha như núi Thái Sơn,

                Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra !

       Nước trong nguồn chảy ra thì không bao giờ cạn kiệt, cũng như tình mẹ bao la không bờ không bến vậy. Sự mát mẻ của nước còn được ví như trong đêm thanh vắng, êm ả dịu dàng như câu thơ của Đỗ Mục trong bài Thu Tịch :

            Thiên giai dạ sắc lương như thủy    天街夜色涼如水

Có nghĩa :

        Đường phố trong Kinh thành lúc về đêm cũng mát mẻ như nước vậy.

        Trong đêm thanh vắng, nước là những giọt sương khuya mờ ảo mát lạnh mà nên thơ, làm cho lòng người lâng lâng như 2 câu thơ toàn là thanh bằng trong bài Nhị Hồ của Xuân Diệu :

 

                 Sương ngưng theo trăng ngừng lưng trời,

                 Tương tư nâng lòng lên chơi vơi !...

 

       Nước được ví như những tình cảm nhe nhàng, tình yêu nồng thắm làm mát dịu tâm hồn với thành ngữ NHU TÌNH TỰ THỦY 柔情似水 êm ái mát mẻ như nước hồ thu làm say đắm lòng người, nhẹ nhàng trôi chảy như những dòng sông dài êm đềm về tận chốn xa xăm :

                         Sông dài cá lội biệt tăm,

              Phải duyên phu phụ ngàn năm em cũng chờ ...

 

      Nhưng lắm khi ...

            Lạc hoa hữu ý mà lưu thủy lại vô tình, làm cho lỡ vỡ mộng ngày xanh, lỡ làng duyên cá nước ! Như lời than thở của cô gái xóm đông :

                  Cây da tróc gốc, thợ mộc đang cưa,

                  Đôi đứa ta ra đi cũng xứng mà ...

                  Đứng lại cũng vừa.

                  Tại cha với mẹ còn kén lừa suôi gia !

        " Kén lừa suôi gia " nên để lỡ làng " duyên cá nước !"

 

       Nhắc đến duyên cá nước lại nhớ đến câu NHƯ NGƯ ĐẮC THỦY 如魚得水 với tích của Lưu Bị trong Thục Thư thời Tam Quốc :

       Lúc bấy giờ, Lưu Bị đang nương nhờ vào Lưu Biểu ở Kinh Châu, đóng quân ở Tân Dã để cầm cự với quân Tào Tháo. Nhờ sự tiến cử của Từ Thứ và lòng thành của Lưu Bị phải Tam cố thảo lư 三顧草廬 ( 3 ln đến cu cnh gian nhà c nơi Nga Long Tiên Sinh ở ) mới gặp được mặt Khổng Minh Gia Cát Lượng, bất chấp sự phản  đối quyết liệt của Quan Vũ và Trương Phi. Lưu Bị nói rằng : " Cô chi hữu Khổng Minh, do ngư chi hữu thủy dã 孤之有孔明,猶鱼之有水也 ". Có nghĩa : " Ta mà có được Khổng Minh, thì như là cá mà gặp được nước vậy !". Khiến cho Quan Trương 2 người đành im hơi, không dám phản đối nữa !

 

                  dcd_tamcothaolu.jpg
                                      Tam cố thảo lư
 

       Còn " Cá Nước " bây giờ thường được dùng để chỉ về duyên đôi lứa, tình yêu trai gái khi gặp được đối tượng xứng ý vừa lòng :

                       Đôi ta như lúa đòng đòng,

                 Như cá gặp nước thỏa lòng mẹ cha. 

     hoặc ...

                       Tình anh như nước lên cao,

                   Tình em như cá lội vào nước anh ...    

 

      Nước là Thủy, đi với Sơn thì thành SƠN THỦY 山水, mà Sơn Thủy là ... Phong cảnh. Nhớ hồi nhỏ đến rạp hát xem các họa sĩ vườn vẽ phong cho gánh hát, bà con cứ nói là : " Đi coi cái thằng cha đó vẽ SƠN THỦY !". Thực tế thì phong cảnh cũng phải có sơn có thủy có núi có nước thì mới đẹp, và ít nhất thì cũng phải có nước, phải có những dòng sông con rạch với những ngọn dừa lả bóng như đồng bằng sông Cửu Long thì mới là cảnh đẹp được ! Trong văn chương cổ điển thì ca ngợi  cảnh đẹp bằng Sơn Minh Thủy Tú 山明水秀, Thanh Sơn Lục Thủy 青山綠水, là non xanh nước biếc như trong ca dao của ta :

 

                   Đường vô xứ Nghệ quanh quanh,

                Non xanh nước biếc như tranh họa đồ.  

                         Ai vô xứ Nghệ thì vô !   

 

      Khi Dương Qúy Phi bị bức tử ở Mã Ngôi Pha rồi, Đường Minh Hoàng chỉ còn lại một mình chạy vào đất Thục, mà lòng vẫn không nguôi thương nhớ đến Dương Phi. Bạch Cư Dị đã viết trong Trường Hận Ca là :

             Thục giang thủy bích Thục sơn thanh,  蜀江水碧蜀山青,

             Thánh chúa triêu triêu mộ mộ tình !    聖主朝朝暮暮情。

Có nghĩa :

                  Sông Thục kia nước xanh biêng biếc,

                  Núi Thục kia biêng biếc non xanh.

                  Ngày sầu đêm thức năm canh,

                  Não lòng thánh chúa tình thành chiêm bao !

 

      Nước ướt át là thế, tình tứ là thế, dịu dàng là thế. Thế nhưng, khi gặp phải phong ba bão tố thì nước lại trở nên cuồng nộ hung hăng, nhấn chìm tất cả xuống lòng sông, lòng biển, lòng đại dương một cách vô tình không thương xót.

       Người con gái chết đuối đầu tiên thời thượng cổ là con gái của Viêm Đế : Nữ Oa ( Trung Hoa cổ xưa gọi các cô gái chưa chồng là  Nữ Oa, như ta gọi các cô gái con của vua Hùng là Mỵ Nương vậy ). Trong một lần đi chơi ở biển đông, Nữ Oa đã bị chết bởi một trận ba đào cuồng nộ. Ức lòng vì chết trẻ, hồn Nữ Oa đã hóa thành con chim Tinh Vệ, hàng ngày tha sỏi đá cỏ cây để lắp bằng biển đông cho hả giận.

        Trong Truyện Kiều lúc lập đàn tế  Thúy Kiều trên sông Tiền Đường, cụ Nguyễn Du cũng đã mượn tích nầy để tả nổi oan khiên của cô Kiều :

                      Tình thâm bể thảm lạ điều,

                Nào hồn Tinh Vệ biết theo chốn nào ?

      Trong truyện Sãi Vãi, khi bàn về chữ MUỐN, cụ Nguyễn Cư Trinh cũng cho ông Sãi nói rằng :

                  Đá Tinh Vệ muốn lắp sao cho cạn biển,

                  Đất nghỉ phù muốn đắp để nên non ...

 

                  dcd_datinhve.jpg  

                 Đá Tinh Vệ muốn lắp sao cho cạn biển,

      

       Không phải chỉ riêng chim Tinh Vệ, mà những người Việt Nam vượt biên tìm tự do sau 1975 cũng muốn lắp cho cạn biển Đông, cũng như những người Syria tị nạn hiện nay muốn lắp cho cạn Địa Trung Hải vậy. Nước đã nhấn chìm biết bao sinh linh, biết bao là hy vọng, biết bao niềm mơ ước để đến được bến bờ tự do, để đến được miền đất hứa, để xây dựng một cuộc sống mới trong hòa bình thịnh vượng. Hết ý thức hệ rồi lại đến chiến tranh khủng bố làm rối loạn, xáo trộn cuộc sống yên bình của cư dân địa cầu, và ... để cho nước lại có dịp dìm chết những dân thường vô tội, vì chẳng đặng đừng mới phải bỏ quê Cha đất Tổ, nơi chôn nhau cắt rốn để ra đi !         

       Hơn 2000 năm trước, Tuân Tử đã ghi lại lời nói giữa Khổng Tử và Lổ Ai Công là : Quân dã, chu dã; thứ nhân dã, thủy dã. Thủy tắc tải chu, thủy tắc phúc chu. 君者,舟也;庶人者,水也。则载舟,水则覆舟. Có nghĩa : " Vua là thuyền, dân là nước. Nước có thể chở thuyền thì nước cũng có thể lật thuyền ". Đó là 2 mặt của nước, khi bình thường trôi chảy thì nước có thể chở thuyền đi muôn ngàn dặm; còn lúc ba đào dậy sóng thì nước sẽ nhấn chìm thuyền trong chớp mắt mà thôi. Nếu biết lợi dụng cái ưu thế " Nước " của mình, thì tất cả những dân tị nạn sẽ không phải bỏ đi đâu cả, cứ nhấn chìm cái " Thuyền " mình đang chở là được ngay !

        Nhưng, thực tế cũng đâu phải dễ, vì muốn cho thuyền chìm thì nước cần phải có cuồng phong yễm trợ, không có gió to thì nước làm sao có thể dậy sóng để nhấn chìm thuyền cho được ! 

 

             dcd_nuocthuyen.jpg   

           Nước có thể chở thuyền, cũng có thể lật thuyền.
     

       Nước mang đến cái lợi mà cũng mang đến tai họa nữa. Cái lợi  do nước mang đến cho con người gọi là THỦY LỢI 水利. Trước tiên, nước là thức uống không thể thiếu trong đời sống hàng ngày. Ta có thể ba ngày không ăn chớ không thể 3 ngày không uống nước. Nước dùng để tưới tiêu, nước dùng để tắm gội, nước dùng để giặt giũ, nước dùng để nấu ăn ... Cái LỢI của nước thật to lớn vô cùng, nhưng người đời thường chỉ biết THỦY LỢI là dẫn thủy nhập điền, là đưa nước vào với ruộng đồng cho tiện việc tưới tiêu, tăng gia sản xuất mà thôi ... Thậm chí sau 1975, hễ nhắc đến từ THỦY LỢI là thanh niên ở thành thị đều xanh mặt, vì đi làm công tác Thủy Lợi là đi ... Đào Đất !

       Còn tai họa lớn nhất do nước đem đến là Lũ Lụt, là THỦY HỌA 水禍. Nước lụt cuốn trôi tất cả nhà cửa, đồ đạc, xe cộ, trâu bò, gia súc... Ruộng đồng tan hoang, vườn tược xơ xác, nhà cửa điêu tàn... như đồng bào miền Trung của ta hằng năm phải gánh chiụ :

                  Trời rằng, trời hành cơn lụt mỗi năm,

              Khiến đau thương thấm tràn ngập Thuận An... 

       Còn đồng bào Nam Kỳ Lục Tỉnh vùng An Giang Châu Đốc thì lạc quan hơn. Bà con gọi mùa lũ lụt hằng năm bằng " Mùa Nước Nổi ". Mùa nước nổi cũng là mùa len trâu ( đọc truyện của nhà văn Sơn Nam ) bà con xoay qua đánh bắt thủy sản, mọi người đều hối hả đua nhau đặt dớn, bơi xuồng giăng câu, thả lưới... ai cũng vui đón mùa nước nổi về để được thưởng thức các món ngon như : Lẩu cá linh, canh chua nấu bằng bông điên điển, cá lóc bọc lá sen nướng hay chuột đồng nướng trui là những món đặc sản ngon nổi tiếng của Đồng Tháp trong mùa nước nổi.

 

           dcd_batca.jpg

            Đặt dớn bắt cá    Đặt trúm bắt chuột, lươn.

 

       Cơn lụt lớn nhất của nhân loại là cơn Đại Hồng Thủy trong  Thánh Kinh Cơ  Đốc, nhưng cơn lụt để lại nhiều huyền thoại nhất là cơn Đại Hồng Thủy do sông Hoàng Hà gây nên, khiến Cổn phải bị tội vì suốt 9 năm mà không trị được thủy. Con ông Cổn là Hạ Vũ phải mất thêm mười ba năm đôn đốc toàn dân phá núi khai kinh dẫn nước từ cao xuống thấp, lại mở rộng thêm cửa song cho nước chảy ra biển, mới chấm dứt được cơn hồng thủy, nên cửa biển mới được gọi là Vũ Môn, nơi mà theo tương truyền cá chép nào vượt qua được sẽ hóa thành rồng (nên còn gọi là Long Môn) Nhưng không phải con cá nào cũng muốn hóa rồng cả. Ta hãy nghe cô gái Nam Bộ hát trên sông nước như sau :

                         Khá khen con cá hóa long,

                Hóa long không hóa, hóa lòng thương anh !

             ...qủa là tình nghĩa thắm thiết biết bao nhiêu !

 

       Trở lại chuyện Hạ Vũ trị thủy, trong qúa trình làm cái công việc của một Công Trình Sư thủy lợi, tương truyền ông đã sáng chế ra  Viên Quy 圓規 ( compasses ), Phương Củ 方矩 là Thước vuông góc ( Rectangular ) ta quen gọi là cái " Ê-Ke " ( Không có QUY thì vẽ không TRÒN, không có CỦ thì kẻ không VUÔNG. Nên QUY CỦ 規矩 là cái nguyên tắc phải tuân theo để làm việc, không có QUY CỦ 規矩 sẽ bị méo mó mà chẳng làm nên cơm cháo gì cả !) và ông cũng quy  định lại thước tấc để đo đạc và vẽ đường cho ... nước chảy ! Trong Tây Du Ký, Ngô Thứa Ân đã huyền thoại hóa cây thước nầy thành Cây  Định Hải Thần Châm của Đông Hải Long Vương để dằn dưới rốn biển cho biển  đừng dao động, bị Tề Thiên  Đại Thánh Tôn Hành Giả lấy làm binh khí và gọi nó là Như Ý Kim Cô Bổng mà ta quen gọi là cây Thiết Bản của Tề Thiên, chính là cây thước đo đạc dùng để trị thủy của Hạ Vũ ngày xưa đó. Vì trị thủy mang lại cuộc sống ổn định cho dân chúng, nên mọi người tôn xưng ông là ĐẠI VŨ 大禹 ( là ông VŨ vĩ ĐẠI : xin đừng nói lái ) và vua Thuấn nhường ngôi cho ông để lập nên nhà HẠ. Nhà Hạ truyền được 471 năm, qua 17 đời vua, đến vua Kiệt 桀 vì si mê Muội Hỉ, hoang dâm vô độ, dân tình khốn khổ, nên bị Thành Thang tiêu diệt, lập nên nhà Thương.

         Vua VŨ vì giúp dân trị thủy, thoát khỏi thãm họa do lũ lụt gây nên mà được nhường ngôi vua. Còn vua KIỆT 桀 vì ham mê nữ sắc mà mất ngôi vua. nên sử sách ví cái họa của nữ sắc như là cái họa do nước mang đến. Vì thế mà có thành ngữ HỒNG NHAN HỌA THỦY 紅顏禍水. Và cái HỌA THỦY của HỒNG NHAN nầy còn được chứng minh dài dài qua các triều đại kế tiếp, như ...

        Nhà Thương truyền được 526 năm, đến đời vua Trụ, vì si mê Đắc Kỷ giết hại công thần, mà bị Châu Võ Vương tiêu diệt, lập nên nhà Châu. Nhà Châu truyền 803 năm, đến đời U Vương lại vì si mê Bao Tự muốn cho nàng cười mà phải đốt Phong Hỏa Đài để gạt chư hầu rồi ... bị mất vào tay nước Tần sau đó. Đến thời Chiến Quốc, Ngô vương Phù Sai cũng bị mất nước vì mê Tây Thi, Hạng Võ Sở Bá Vương cùng Ly Cơ tự vẫn trên bến Ô Giang, Đường Minh Hoàng vì Dương Qúy Phi mà phải chạy loan An Lộc Sơn ẩn mình nơi đất Thục  ... Nên sử sách  đều cho là Muôi Hỉ, Đắc Kỷ, Bao Tự, Tây Thi, Ly Cơ, Dương Qúy Phi ... đều là Hồng Nhan Họa Thủy, mà không biết rằng tại các hôn quân đó qúa ... mê gái rồi tự làm cho mình mất nước, mắc cở và quê qúa nên mới đổ thừa cho HỒNG NHAN là HỌA THỦY ! Nhưng ...

          Họa Thủy thì họa thủy, thi sĩ thì vẫn cứ yêu người đẹp như thường, gần ba ngàn năm sau, Xuân Diệu đã viết :

 

                   Tôi yêu Bao Tự mặt sầu bi,

                   Tôi mê Ly Cơ hình nhịp nhàng,

                   Tôi muốn tôi là Đường Minh Hoàng,

                   Trong cung nhớ nàng Dương Qúy Phi !

 

       
         Muội Hỉ            Đắc Kỷ           Bao Tự           Tây Thi
 
        Sự thật thì " Đằng sau sự thất bại của người đàn ông, lúc nào cũng có bóng dáng của một người đàn bà !". Đây gần như là sự thật hiễn nhiên, không sai bao giờ !.

       Nhưng dù cho thánh hiền, vua chúa, hiền nhân quân tử hay anh hùng hảo hán ... gì gì đi nữa, thì cũng phải chịu chung cái quy luật của thời gian. Thời gian sẽ cuốn trôi và xóa nhòa tất cả như bài đề từ của Hứa Thận đời Minh cho quyển Tam Quốc Chí của La Quán Trung như sau :

 

      滾滾長江東逝水,   Cổn cổn Trường Giang đông thệ thủy, 
      浪花淘盡英雄。      Lãng hoa đào tận anh hùng.
      是非成敗轉頭空。   Thị phi thành bại chuyển đầu không. 
      青山依舊在,         Thanh sơn y cựu tại,

      幾度夕陽紅。         Kỷ độ tịch dương hồng. 
      白髮漁樵江渚上,   Bạch phát ngư tiều giang chử thượng, 
      慣看秋月春風。      Quán khan thu nguyệt xuân phong. 
      一壺濁酒喜相逢。   Nhất hồ trọc tửu hỉ tương phùng.
      古今多少事,         Cổ kim đa thiểu sự,

      都付笑談中.           Đô phó tiếu đàm trung !

 

NGHĨA BÀI TỪ :

         Sông Trường Giang sóng xô nước cuốn cuồn cuộn chảy về biển đông rồi không bao giờ còn trở lại nữa; cũng như biết bao anh hùng hào kiệt đều như hoa sóng kia tan biến biệt tăm và chịu đào thải theo dòng lịch sử. Bất luận là thị hay phi, là đúng hay sai, là thành hay bại, trong chớp mắt quay  đầu nhìn lại thì đã không còn gì nữa. Chỉ có núi xanh vẫn như cũ đứng trơ gan cùng tuế nguyệt và nắng chiều vẫn biết bao lần hồng lên rồi chợt tắt. Những ông lão  đốn củi và đánh bắt cá trên bến nước, họ đã quen rồi với thu nguyệt rồi lại xuân phong, thời gian cứ thế trôi đi. Nên khi gặp nhau thì cứ cùng vui với nhau bên chung rượu lạt. Biết bao nhiêu là chuyện lớn chuyện nhỏ trên đời nầy từ xưa đến nay, chẳng qua cũng chỉ là những chuyện nói cười trong lúc nhậu, là chuyện phiếm chuyện gẫu khi trà dư tửu hậu mà thôi !

      Thật là cảm khái ! Tam Quốc Chí chẳng những viết lại lịch sử, mà còn viết lại những cuộc đời anh hùng, sự chìm nổi hưng suy của anh hùng, cái khí thế và khí phách của anh hùng, cái thành công và thất bại của anh hùng, cuối cùng đều phải chịu chung sự đào thải vô tình của thời gian và lịch sử. Lịch sử đã sang trang, thời gian đà biền biệt, rốt cuộc họ còn được gì ? Chẳng qua chỉ là những câu chuyện khề khà với nhau khi trà dư tửu hậu của hậu thế mà thôi ! Tất cả  đều qui về một chữ KHÔNG to lớn !. 

 

DIỄN NÔM :

 

         Trường giang cuồn cuộn nước về đông,

         Sóng xô đào thải hết anh hùng.

         Thị phi thành bại quay đầu : hết !

         Núi xanh vẫn còn đó,

         Bao lượt nắng chiều hồng.

         Ngư tiều đầu bạc trên sông nước,

         Đã quen rồi thu nguyệt với xuân phong,

         Một bầu rượu lạt thắm tình nồng,

         Xưa nay bao thế sự,

         Cười nói cũng như không !

 

Lục bát :

             Trường Giang cuồn cuộn về đông,

         Anh hùng như sóng theo dòng trôi xuôi.

             Thị phi thành bại trên đời,

         Quay đầu là hết núi đồi còn đây.

             Núi xanh sừng sửng tháng ngày,

         Hoàng hôn mấy lượt thêm dài hoàng hôn.

             Ngư tiều đầu bạc ven thôn,

         Trên dòng sông nước vùi chôn tháng ngày.

             Một bầu rượu lạt ngà say,

         Cổ kim thế sự nào ai có lòng ?

             Nói cười nhấp rượu như không !

 

       Xin được kết thúc bài Phiếm luận về NƯỚC theo dòng đào thải của thời gian ở nơi đây !

 

NNA_DCDGSMailoc.jpg
ÔB Đồ Đỗ Chiêu Đức - Tố Quyên & ÔB GS Mailoc tại Đại Hội PTGĐTĐ XXI-Houston Texas May 2017 

                                                        Đỗ Chiêu Đức. 

 

MAO ỐC VỊ THU PHONG SỞ PHÁ CA 

                                    ĐỖ PHỦ

 

       ĐỖ PHỦ 杜甫  ( 712-770 ) tự là Tử Mỹ 子美, thường tự xưng là Thiếu Lăng Dã Lão 少陵野老( Ông già ở vùng hoang dã của đất Thiếu Lăng ). Thi Tiến Sĩ mãi không đậu. Từng đãm nhận chức Kiểm Hiệu Công Bộ Viên Ngoại Lang, nên người đời thường gọi ông là Đỗ Công Bộ. Ông là nhà thơ hiện thực vĩ đại của đời Đường, hợp cùng với Lý Bạch thành một cặp Lý Đỗ của thời Thịnh Đường. Từ đời Tống về sau mọi người đều xưng tụng ông là Thi Thánh. Thơ của ông vạch trần mâu thuẫn của xã hội đương thời, tỏ nỗi cảm thông sâu sắc với đời sống cơ cực của dân nghèo trong chiến tranh loan lạc ( loạn An Lộc Sơn ). Ông để lại nhiều bài thơ tuyệt tác, nhất là luật thi của ông luôn luôn rất nghiêm cẩn thâm thúy với một kỹ thuật siêu việt tự nhiên và rất đa dạng. Ông để lại " Đỗ Công Bộ Tập ", gồm hơn 1400 bài thơ.

        Sau đây là một bài thơ tiêu biểu của ông khi chạy loạn An Lộc Sơn ...

DCD_MaoOc_1.jpg   dcd_maooc_2.jpg

                 

 

茅屋為秋風所破歌        MAO ỐC VỊ THU PHONG SỞ PHÁ CA 

 

八月秋高風怒號,          Bát nguyệt thu cao phong nộ hào, 

卷我屋上三重茅。          Quyển ngã ốc thượng tam trùng mao. 
茅飛度江灑江郊,          Mao phi độ giang sái giang giao. 

高者掛罥長林梢,          Cao giả quải quyến trường lâm sao, 

下者飄轉沈塘坳。          Hạ giả phiêu chuyển trầm đường ao. 
南村群童欺我老無力,    Nam thôn quần đồng khi ngã lão vô lực, 

忍能對面為盜賊。          Nhẫn năng đối diện vi đạo tặc. 
公然抱茅入竹去,          Công nhiên bão mao nhập trúc khứ,

脣焦口燥呼不得,          Thần tiều khẩu táo hô bất đắc. 

歸來倚杖自歎息。          Qui lai ỷ trượng tự thán tức. 
俄頃風定雲墨色,          Nga khoảnh phong định vân mặc sắc,

秋天漠漠向昏黑。          Thu thiên mạc mạc hướng hôn hắc. 
布衾多年冷似鐵,          Bố khâm đa niên lãnh tự thiết. 

嬌兒惡臥踏裏裂。          Kiều nhi ác ngọa đạp lý liệt. 
床頭屋漏無乾處,          Sàng đầu ốc lậu vô can xứ,

雨腳如麻未斷絕。          Vũ cước như ma vị đoạn tuyệt. 
自經喪亂少睡眠,          Tự kinh táng loạn thiểu thụy miên

長夜霑溼何由徹!          Trường dạ chiêm thấp hà do triệt. 
安得廣廈千萬間,          An đắc quảng hạ thiên vạn gian, 

大庇天下寒士俱歡顏,    Ðại tí thiên hạ hàn sĩ câu hoan nhan,

風雨不動安如山!          Phong vũ bất động an như san. 
嗚呼!                        Ô hô !

何時眼前突兀見此屋,    Hà thời nhãn tiền đột ngột kiến thử ốc, 

吾廬獨破受凍死亦足!    Ngô lư độc phá thụ đống tử diệc túc.

                      杜甫                                          Đỗ Phủ

 

1. CHÚ THÍCH :

    * THU CAO 秋高 : Không phải mùa thu ở trên cao, mà là gần cuối thu. Tháng 7 là SƠ THU 初秋 là Đầu thu. Tháng 8 là TRUNG THU 中秋 là Giữa mùa thu. Tháng 9 là THÂM THU 深秋 là Tàn thu. Ở đây THU CAO chỉ thời gian cuối Tháng 8 là gần Cuối Thu rồi.

    * NỘ HÀO 怒號 : là Gào Thét. Chỉ gió rít như thét gào.

    * TAM TRÙNG MAO 三重茅 : là 3 lớp cỏ tranh. Chữ TAM ở đây là phiếm chỉ, có nghĩa là NHIỀU, chứ không nhất thiết phải là 3.

    * QUẢI QUYẾN 掛罥 : Bị cuốn dính treo tòn ten.

    * LÂM SAO 林梢 : là Ngọn cây. Chữ LÂM ở đây là Cây, chớ không phải chỉ Rừng.

    * ĐƯỜNG AO 塘坳 : là những ao chuôm nước đọng.

    * NHẬP TRÚC KHỨ 入竹去 : là Chạy vào trong khóm tre, rừng tre.

    * THẦN TIÊU KHẨU TÁO 脣焦口燥 : là Môi khô miệng khản. Ta còn nói là Miệng đắng môi khô.

    * NGA KHOẢNH 俄頃 : là Trong khoảnh khắc.

    * BỐ KHÂM 布衾 : là Cái mền bang vải thô.

    * ÁC NGỌA 惡臥 : là Cái tật ngủ xấu ( hay đạp lung tung ).

    * SÀNG ĐẦU ỐC LẬU 床頭屋漏 : là Đầu giường mưa dột, ở đây chỉ cả nhà bị mưa dột, vì VÔ CAN XỨ 無乾處 : là không nơi nào khô cả. 

    * VŨ CƯỚC NHƯ MA 雨腳如麻 : Những giọt mưa như là những sợi tơ sợi gai, VỊ ĐOẠN TUYỆT 未斷絕 : là chưa chịu dứt hẵn.

    * TÁNG LOẠN 喪亂 : Chỉ Chạy loan An Lộc Sơn.

    * TRIÊM THẤP 霑溼 : là Ướt át, là Thấm ướt.

    * QUẢNG HẠ 廣廈 : là Nhà cao cửa rộng.

    * ĐẠI TÍ THIÊN HẠ 大庇天下 : là Che chở hết khắp thiên hạ ...

    * ĐỘT NGỘT 突兀 : là Bỗng nhiên, là Bất chợt.

    * THỤ ĐỐNG TỬ 受凍死 : Chịu lạnh mà chết.

    

2. NGHĨA BÀI THƠ :

                 BÀI CA GIÓ THU THỔI TỐC MÁI NHÀ TRANH

 

          Cuối tháng tám gần tàn thu, gió thu thét gào cuốn đi mấy lớp cỏ tranh trên mái nhà của ta. Cỏ tranh bay cả sang Hoán Hoa Khê rơi rớt cả trên bờ phía bên kia, những cọng bay cao thì vắt vẻo trên đầu cành cây, những cọng bay thấp thì rơi rớt trên ao chuôm gần đó.

          Mấy đứa trẻ ớ xóm nam khinh khi ta gìa yếu không làm gì được chúng, nên nở nhẫn tâm làm giặc trước mặt ta, chúng chẳng uý kỵ gì cả ôm lấy cỏ tranh của ta chạy vào trong rừng trúc. Ta lại miệng đắng môi khô không nạt nỗi để ngăn cản chúng lại, đành than thở một mình mà chống gậy trở về nhà.

        Một lát sau gió ngừng mây tạnh, mây trên bầu trời chuyển đen như mực. Trời cuối thu ảm đạm dần dần tối đen xuống theo bóng đêm. Tấm vải thô làm mền đắp lâu năm vừa lạnh vừa cứng như sắt, cũng bị đứa con thơ xấu tánh khi ngủ đạp rách tả tơi. Khi mưa xuống thì từ đầu giường đến cuối giường, cả nhà đều không có chỗ nào là khô ráo cả, từng sợi mưa lất phất vẫn không ngừng rơi xuống. Từ lúc có loạn An Lộc Sơn đến giờ, ta luôn ngủ rất ít, đêm dài dằng dặc, nhà dột cột xiêu làm sao chịu được tới sáng đây.

        Làm sao để có được ngàn vạn căn nhà cao cửa rộng, để kẻ sĩ khắp nơi trong thiên hạ được che chở yên thân, để họ được vui khi ngoài trời mưa gió mà trong nhà vẫn vững như bàn thạch ? Ôi ! Biết đến bao giờ trước mắt bỗng nhiên có được những ngôi nhà như thế. Khi đó thì dù cho căn nhà tranh nầy của ta có bị gió thu thổi cho tơi tả và ta có bị lạnh cóng mà chết thì ta vẫn cam lòng !

 

3. BỐI CẢNH SÁNG TÁC :

        Bài thơ được sáng tác năm 761 ( Năm thứ 2 Thượng Nguyên đời Đường Túc Tôn ). Mùa thu năm 759, Đỗ Phủ từ quan đến Tần Châu ( Cam Túc ), rồi lần lừa lưu lạc đến Đồng Cốc ( Thành Huyện ), Ba Lăng. Mùa xuân năm 760, nhờ bạn bè thân hữu giúp đỡ mới cất được một mái nhà tranh ở Hoán Hoa Khê ( Thành Đô, Tứ Xuyên ), tạm gọi được là đã có chỗ yên thân. Nào ngờ đến cuối thu tháng tám của năm 761, giông gió nổi lên làm tốc mái nhà, lại phải chịu đựng cơn mưa đêm ập đến, ướt át suốt đêm không ngủ được, đêm dài khoắc khoải, cảm khái muôn vàn mà viết nên bài thơ hiện thực được nhiều người biết đến nầy.

 

4. BỐ CỤC CỦA BÀI THƠ :

          Đây là bài thơ Trường thiên Thất ngôn Cổ phong, câu dài ngắn tùy tình tiết, nhưng chủ yếu là thơ 7 chữ, gieo vần tự do cả trắc lẫn bằng theo diễn tiến và ý thơ của tác giả.

          Toàn bài thơ đi một mạch từ câu đầu đến câu cuối, nhưng ta cũng thấy được 4 ý chính sau đây :

    A. Từ câu đầu đến câu thứ 5 : Nỗi thống khổ của người nghèo trong cơn mưa bão ban đêm.

    B. Từ câu 6 đến câu 10 : Sự bất lực của tuổi gìa trước lũ trẻ nghịch ngợm vô tri.

    C. Từ câu 11 đến câu 18 : Nỗi vất vả khổ cực của những người nghèo phải chiụ cảnh mưa bão trong đêm.

    D. Từ câu 19 đền câu 24 : Cái ước mơ kỳ vọng cho mình và cho tất cả mọi người cùng khổ.

        Ba đoạn đầu là tự sự, miêu tả thực tế và kể lể nỗi niềm của những người nghèo khổ trong đêm mưa giông bão với nhà dột cột xiêu; đoạn cuối nêu lên cái ước mơ lý tưởng hóa cuộc đời, muốn thăng hoa cuộc sống của kẻ sĩ nghèo khó.

 

5. NHẬN XÉT :

        Bài thơ kể lại cảnh nghèo khó trong cơn giông bão cuối thu, mấy gian nhà tranh bị gió cuốn tốc cả nóc, lại thêm cơn mưa đêm ập xuống làm ướt át cả nhà không sao ngủ được . Từ đó, Đỗ Phủ  đã nói lên cái cảm khái và bất lực trước cái nghèo, cái gìa của mình rồi liên hệ đến những kẻ sĩ cơ hàn như mình, những dân chúng phải lưu lạc thất tán trong cơn binh biến do An Lộc Sơn gây nên còn đang âm ỉ chưa thôi. Rồi ước mơ sao cho có được một nơi chốn yên thân cho tất cả mọi người nghèo khó. Đây chính là cái ưu thời mẫn thế, còn nghĩ đến dân đến nước của nhà thơ. Không phải đương không mà mọi người tôn xưng ông là Thi Thánh, thơ của ông luôn luôn diễn tả và phản ánh trung thực của cuộc sống thực tế trước mắt, như những câu :

                 Chu môn tửu nhục xú,    朱門酒肉臭,

                 Lộ hữu đồng tử cốt.        路有童子骨。

Có nghĩa :

        Trong cửa son của nhà giàu thì rượu thịt thừa mứa đến thối rữa; còn ở ngoài đường thì xương của những đứa trẻ bị chết đói rẫy đầy.

       Trong khi cảm khái trước cảnh nhà dột cột xiêu lại gặp phải mưa đêm của mình, ông cũng nghĩ đến những người cùng cảnh ngộ, những người cùng khổ. Vì cái cái khổ của mình cũng là cái khổ chung của dân của nước trước cảnh chiến tranh loan lạc do An Lộc Sơn gây nên. Không phải chỉ riêng căn nhà tranh của ông bị tốc nóc mà tất cả những căn nhà tranh của " thiên hạ hàn sĩ " đều tốc nóc cả !

     ... và cảm khái làm sao khi trong bài Xuân Vọng ông đã hạ một câu mở đầu bất hũ là :

                 Quốc phá sơn hà tại,     國破山河在,

Có nghĩa là :

            Nước tuy mất nhưng núi sông vẫn còn đó !

      dcd_maooc_3.jpg DCD_Maooc_4.jpg 

 

               6. DIỄN NÔM :

                 GIÓ THU TỐC MÁI NHÀ TRANH

 

                Tháng tám tàn thu gió thét gào,

                Cuốn phăng mấy lớp mái tranh cao.

                Tranh bay tơi tả trên sông vắng,

                Vắt vẻo trên cành cây trước ao.

                Rải rác bên bờ chuôm nước đọng,

 

                Bất lực thân già đành trơ mắt,

                Lặng nhìn lũ trẻ ngang nhiên cướp,

                Ôm tranh lủi mất xóm tre xa,

                Môi khô giọng khản thét không ra,

                Chống gậy về nhà ngồi than thở.

 

                Cơn gió trở, phút giây mây xám,

                Phủ đầy trời hắc ám tối đen,

                Nhà nghèo xót cảnh mưa đêm,

                Con thơ mền rách càng thêm nỗi niềm.

                Giường ướt dột khắp nơi tơi tả,

                Mưa từng cơn vẫn rả rít rơi,

                Từ ngày loan lạc đến nay,

                Đêm đêm khó ngủ ai hoài thở than.

 

                Mong ước được ngàn gian nhà trống,

                Chở che cho hàn sĩ bốn phương,

                Vững như bàn thạch mưa tuôn,

                Yên lòng nghèo khó những luôn ước thầm.

                Bao giờ bỗng được như lòng,

                Nhà tranh ta đổ cũng không tiếc gì.

                Thân này lạnh chết có chi !

 

                                                     Đỗ Chiêu Đức

                                                        diễn nôm    

CHỮ NHO DỄ HỌc....bài 37
 Vị trí của các bộ thủ  
 
Click hàng chữ dưới đây: 
 

 

 CHỮ NHO ... DỄ HỌC  (36)                        

    Các bộ 14, 15, 16, 17 nét                               

                                 

Click here: https://drive.google.com/drive/folders/0B6-GwvjUy0dHUjA2VUVXMjdRckE?usp=sharing 

Sau khi trang bài hiện ra, double left click để đọc toàn bài 

NGÀY XUÂN ĐỌC THƠ TIỀN CHIẾN

dcd_ngayXuan.jpg 

 

                                               Tôi muốn tắt nắng đi,

                                                    Cho màu đừng nhạt mất,

                                                    Tôi muốn buộc gió lại,

                                                    Cho hương đừng bay đi !

                                                                    Xuân Diệu

        NGÀY XUÂN ĐỌC THƠ TIỀN CHIẾN là chỉ nói cho " xôm tụ " thôi, chẳng lẽ đọc Thơ Đường mãi, thay đổi không khí, ta đọc thơ Thời Tiền Chiến. Nhưng nói là đọc thơ Thời Tiền Chiến cho oai thôi, chớ chỉ điểm qua vài bài có vẻ Xuân và hoa Đào hoa Mai của Nguyễn Bính và Jean Leiba mà thôi !

       Nào, bạn đã thấy Xuân về như thế nào chưa ? Nếu chưa, hãy nghe Nguyễn Bính nói đây :

 

                    Đã thấy xuân về với gió đông,

                    Với trên màu má gái chưa chồng.

                    Bên hiên hàng xóm cô hàng xóm,

                    Ngước mắt nhìn trời đôi mắt trong !

 

Gợi cảm và làm xao xuyến rạo rực lòng người biết bao với " Gió đông, với màu má gái chưa chồng, và với đôi mắt trong của nàng thiếu nữ !", Mùa xuân như hiển hiện ở màu má màu mắt của cô Xuân nữ tràn đầy nhựa sống của lứa tuổi hoa niên. Mùa xuân mang lại sức sống mới cho tuổi trẻ, mùa xuân cũng mang lại những kỷ niệm khó quên của tuổi xuân thì, khơi lại tình tự mộng mơ của quá khứ làm não nuột lòng người :

 

                   Xuân đã đem mong nhớ trở về,

                   Lòng cô lái ở bến sông kia.

                   Cô hồi tưởng lại ba xuân trước,

                   Trên bến cùng ai đã hẹn thề !...

 

                   Nhưng rồi ... Người khách tình quân ấy,

                   Đi biệt chẳng về với nước sông,

                   Đã mấy lần xuân trôi... trôi mãi ...

                   Mấy lần cô lái mõi mòn trông !

                                              ( Cô lái đò )

               
  
Não nùng thay, đáng thương thay cho tâm sự của " nàng xuân " trên bến nước ! Thơ Nguyễn Bính thường đi vào lòng ta bằng những hình ảnh thật nhẹ nhàng gợi cảm, tế nhị mà làm xao xuyến lòng người ! Ta hãy nghe ông ví von :

 

                   Ai đi chắp lại cánh hoa rơi,

                   Bắt bóng chim xa tận cuối trời.

                   Có lẽ ngày mai đò ngược sớm,

                   Thôi nàng ở lại để ... quên tôi !

                                       ( Thôi nàng ở lại )

       Rất nhẹ nhàng nhưng cũng có pha chút gì chua xót ! Chua xót như những cánh hoa đào rơi rụng :

 

                    Hoa đào từng cánh rơi như tưới,

                    Xuống mặt sân rêu những giọt buồn.

                    Như mảnh tim tình tan vỡ ấy,

                    Nhện già giăng mắc sợi tơ đơn !....

 

                Cuối năm, đọc những câu thơ tình của Nguyễn Bính làm cho lòng ta  chùn xuống, xót cho từng cánh hoa đào rơi như những mảnh tim tình tan vỡ, khéo mà ví von làm thương cảm lòng người ! Sau này, khi lưu lạc vào Nam, lúc xuân về Tết đến, Nguyễn Bính vẫn khoắc khoải day dức băn khoăn tự nhủ : 

 

                    Xuân này xứ Bắc ra sao nhỉ,
                    Đào có hây hây ? Cúc có vàng ?
                    Câu đối có còn ôm đỏ cột, 
                    Nêu dài tiếng khánh có khua vang ?

   ... và não lòng người làm sao với :

 

                    Em ra bến nước trông về Bắc
                    Chỉ thấy mây trôi chẳng thấy làng !

 

                   Nguyễn Bính xưng " em " chắc có lẽ thi sĩ đang nhớ đến người chị mà tác giả thường hay nhắc trong thơ :

 

               ... Cho đến một hôm em mới nhớ:
                  "Lòng người...." Chị Trúc nhớ hay quên?

                                                    ( Khăn Hồng )

    ... Chị Trúc là chị TRÚC ĐƯỜNG, một người chị trong thơ, trong mơ, mà Nguyễn Bính không bao giờ với tới, cũng không dám với tới, chỉ nhớ, chỉ mơ rồi ... thơ thẩn, thế thôi ! Mà như thế lại nên thơ hơn, da diết hơn và gợi cảm mơ mộng hơn nhiều ! Và nhờ thế mà ta mới có được những vầng thơ tuyệt diệu của " Lỡ Bước Sang Ngang ". Sau này khi lưu lạc giang hồ, trong "Xuân tha hương" và "Xuân vẫn tha hương", Nguyễn Bính đều gửi tâm sự về quê nhà, kể lể nỗi niềm cùng chị Trúc:

 

                        Tết này chưa chắc em về được 
                        Em gửi về đây một tấm lòng 
                        Ôi chị một em, em một chị
                        Trời làm xa cách mấy con sông ...

         và ...

                        Rượu say nhớ chị hồi con gái 
                        Thương chị từ khi chị lấy chồng...

 

                        Đêm ba mươi Tết quê người cũng 
                        Tiếng pháo giao thừa dậy tứ phương 
                          .................................
                        Đất khách tình dâng nhòa mắt lệ 
                        Ôi nhà, ôi chị.. ôi quê hương !

  Khá thương thay tâm sự của kẻ tha hương và cũng ngạc nhiên thay, ngạc nhiên đến thú vị !... Ai đời nhớ quê hương, nhớ nhà lại đi kèm với " nhớ Chị ", hẵn người Chị nầy phải vô cùng đặc biệt, đặc biệt đến trở thành ... tự nhiên trong thơ của Nguyễn Bính !

 

        Hoa Đào là biểu tượng cho hoa xuân ngoài Đất Bắc, còn hoa Mai là biểu tượng của hoa xuân Miền Nam. Ta thường nghe nói Đào Bắc Mai Nam, nhưng hoa mai lại thích ứng cả 2 miền Nam Bắc, ta đã từng biết qua  2 câu thơ của nhà sư Tề Kỷ ở cuối đời Đường đầu đời Tống là :

                  Tiền thôn thâm tuyết lý,    前村深雪裡,

                  Tạc dạ sổ chi khai.            昨夜數枝開。

Có nghĩa :

                Đêm trước hôm qua trong tuyết lạnh,

                Xóm trên lấm tấm mấy cành mai.

 

                  Bây giờ, thì ta hãy điểm qua bài thơ Mai Rụng của Jean Leiba thời Tiến Chiến nhé :

 

                    Nụ hồng rải lối, liễu tơ phai, 
                    Vườn cũ rêu lan, cỏ mọc dài, 
                    Bên gốc mai già, xuân vắng vẻ, 
                    Âu sầu thiếu nữ khóc hoa mai...

 

     " Thiếu nữ khóc hoa mai " như khóc cho thân phận của mình, khóc vì nuối tiếc cho ngày vui đã qua mau, nuối tiếc cho những ngày xuân mà tim hồng rộn rã, khi :

 

                    Tường đông, xuân ấy gặp tình lang, 
                    Chàng nhủ cùng em nỗi nhớ thương. 
                    Ngơ ngẩn em về, sầu chẳng mối: 
                    Ngây thơ, em mới biết yêu chàng.

 

       Ôi, đẹp biết bao khi lòng người xuân nữ vừa chớm hương yêu trong lứa tuổi xuân thì !... Nàng  e ngại thẹn thùng bắt đầu làm đẹp, làm dáng và thấy mùa xuân càng đẹp hơn lên khi con tim yêu đang rạo rực :

                    Yêu chàng, em cố chuốt hình dong, 
                    Tô cặp môi son, điểm má hồng. 
                    Em thấy xuân nay hoa nở đẹp, 
                    Cảm tình Thanh đế, tạ đông phong !

 

              Hạnh phúc biết bao trong mùa xuân..." hoa nở đẹp ". Thực ra thì xuân nào mà hoa chẳng nở đẹp ?! Nhưng khi đang ngây ngất trong men yêu thì đâu có xuân nào đẹp hơn được nữa ! Nàng Cảm ơn Chúa Xuân, cảm ơn gió Xuân, cảm ơn hết những gì mà mùa xuân mang đến ... Nhưng rồi, ngày vui qua mau, mùa xuân cũng chóng tàn, khi :

                    Hoa tặng vừa tàn bông thược dược, 
                    Tìm chàng bỗng vắng, bóng chàng xa...

 

   ... Và từ đó, cuối xuân sang hạ, hết thu lại đông, nàng sống trong âm thầm chờ đợi mõi mòn, mong ngóng bóng ai kia ở cuối nẽo chân trời ...  

                    Xuân tàn, hạ cỗi, cảnh thu sầu, 
                    Mờ mịt hơi đông ám ngọn lau. 
                    Xuân tới cành đào hoa lại nở, 
                    Mong chàng mỏi mắt, thấy chàng đâu ?! 

 Ủ rủ não nề như người cô phụ trông chồng " Thẩn thờ trâm lệch lỏng vòng lưng eo " đến đổi không còn nhận ra mình trong gương nữa ...

                    Sầu đối gương loan, bóng lạ người, 
                    Chàng không lại nữa, đẹp cùng ai? 
                    Bơ phờ tóc rối, vành khăn lệch, 
                    Ủ rũ hoa gầy, má đỏ phai !  

 

                    Qủa là thương cảm cho nàng thiếu nữ khi đã vuột khỏi tầm tay, đánh mất một tình yêu nồng thắm của tuổi xuân thì. Xuân chửa đi qua mà tình yêu đà biền biệt, nên mơ hồ nghi ngại là nàng xuân vẫn còn lẫn khuất đâu đây :

 

                    Xuân hết, đào phai, lý rụng rồi, 
                    Hoa đình tịch mịch vẻ xuân phai. 
                    Tơi bời ong bướm bay qua ngõ, 
                    Những tưởng màu xuân ở xóm ngoài.  

       

       Đọc những câu thơ trên lại làm cho ta nhớ đến 2 câu cuối trong bài XUÂN TÌNH của Vương Giá

              蜂蝶紛紛過牆去,  Phong điệp phân phân qúa tường khứ,

              卻疑春色在鄰家。  Khước nghi xuân sắc tại lân gia.

Có nghĩa :

          Lũ lượt bướm ong bay hết qua tường hàng xóm, nên ...  

          Ngờ rằng hương sắc của mùa xuân còn ở nhà kế bên !!!

 

     Tơi bời ong bướm bay qua ngõ, 

                    Những tưởng màu xuân ở xóm ngoài.  

 

       Tình yêu bao giờ cũng là đề tài muôn thuở của nhân sinh, là đề tài không bao giờ cạn kiệt của văn nhân thi sĩ. Tình yêu mang lại sức sống yêu đời, tình yêu nhuộm hồng cuộc sống nhân sinh, mang lại sức sống vui tươi cho mọi lứa tuổi, mọi lứa đôi ... Nhưng tình yêu cũng mang lại sầu thương buồn thảm, đố kỵ ghét ghen, ưu phiền chán nản, làm nhục chí anh hùng, khiến cho bao người không còn thiết tha với cuộc sống, muốn buông xuôi tất cả như Jean Leiba lúc cuối đời, mặc dù ông chỉ mới có 29 tuổi đầu mà thôi :

 

                    Phù thế đã nhiều duyên nghiệp quá !

                    Lệ lòng mong cạn chốn am không.

                    Cửa thiền một đóng duyên trần dứt,

                    Quên hết người quen chốn bụi hồng !

 

       Xin được khép lại bài viết về mùa xuân nhưng không được vui như xuân nầy !

 

                                                                     Đỗ Chiêu Đức

                                                                      06-01-2017

 

                    VÕ TRẮC VÃNG NAM CÔ

 

        Trước khi nghe Giai Thoại Văn Chương Việt Nam nầy, Xin mời tất cả cùng đọc một bài thơ Đường rất ư là mượt mà tình tứ của một cô dâu mới về nhà chồng của Châu Khánh Dư như sau :

 

     近試上張水部       CẬN THÍ THƯỢNG TRƯƠNG THỦY BỘ

 

   洞房昨夜停紅燭,     Động phòng tạc dạ đình hồng chúc,

   待曉堂前拜舅姑。     Đãi hiểu đường tiền bái cựu cô.
   妝罷低聲問夫婿:     Trang bãi đê thanh vấn phu tế, 

「畫眉深淺入時無?」 " Họa mi thâm thiển nhập thời vô ?!" 

                  朱慶餘                                Châu Khánh Dư

 

Chú Thích :

      Châu Khánh Dư  朱慶餘, không rõ năm sanh năm mất, tên là Khả, người đất Đường Châu, đậu Tiến sĩ giữa năm Bảo Khánh, là môn đệ của Trương Tịch. Ông giỏi về thơ, còn để lại một Thi Tập.

    CẬN THÍ : Gần đến ngày đi thi.

    TRƯƠNG THỦY BỘ : là Trương Tịch 張籍 (766─830 ), tự là Văn Xương, người đời thường gọi là Trương Tư Ngiệp hay Trương Thủy Bộ; thơ nhạc phủ của ông thường phản ánh hiện thực của xã hội đương thời. Nổi tiếng ngang hàng với Vương Kiến, người đời xưng tụng là " Trương Vương ". Tác phẩm để lại : Trương Tư Nghiệp Tập.

    ĐÃI HIỂU : là Chờ sáng, là Đợi đến sáng ngày.

    CỰU CÔ : CỰU 舅 là Cậu, là Anh Em trai của mẹ. CÔ 姑 là Chị Em gái của cha. Nhưng theo Tập quán Ngôn ngữ của người Hoa xưa, CỰU CÔ 舅姑 là Ông Già Chồng và Bà Già Chồng. Trong bài thơ :

    BÁI CỰU CÔ 拜舅姑 là Ra mắt Ông Bà già Chồng.

    TRANG BÃI : là Trang điểm xong xuôi.

    PHU TẾ : là Chàng rễ, là tiếng gọi Chồng một cách thân mật.

    NHẬP THỜI : là Hợp thời trang, đúng trào lưu, nói một cách bình dân là : Đúng "Gu", đúng "Mốt" ( à la mode ) hiện tại.

 

Nghĩa Bài Thơ :

                    GẦN THI DÂNG LÊN TRƯƠNG THỦY BỘ

       Động phòng đêm hôm qua, đuốc hoa cũng đã ngừng cháy rồi. Đợi đến sáng ngày để lạy ra mắt cha mẹ chồng. Sau khi trang điểm xong, nàng mới kề tai hỏi nhỏ chàng rằng : " Đôi mày của thiếp kẽ như thế nầy, đậm nhạt kiểu dáng có hợp thời hay không ?". Ý muốn hỏi : có làm đẹp lòng của cha mẹ chồng không ?!

 

Diễn Nôm :

                 Đêm qua hoa chúc động phòng xong,

                 Chờ sáng ngày ra mắt mẹ chồng.

                 Trang điểm xong hỏi chàng nho nhỏ :

               " Mày ngài đậm nhạt hợp thời không ?"

Lục bát :

                 Động phòng hoa chúc vừa ngưng,

                 Sáng ra trang điểm lạy mừng thầy me.

                 Kề tai hỏi nhỏ e dè :

               " Mày ngài đâm nhạt còn e ... chăng chàng !?"

 

        Đây là bài thơ của Châu Khánh Dư làm trước ngày ứng thi Tiến sĩ, gởi cho Trương Tịch bình phẩm; vì lúc ấy Trương đang là Thủy Bộ Lang Trung ở kinh thành, nổi tiếng về văn thơ và có thể sẽ là phó chủ khảo của khoa thi. Châu Khánh Dư tự ví mình như là cô dâu mới về nhà chồng, còn Trương Tịch là chàng rể, quan chủ khảo là cha mẹ chồng, còn mày ngài đậm nhạt như là phong cách thơ văn của mình. Châu hỏi Trương xem NÓ có hợp với ý của quan chủ khảo chăng để còn biết mà uyển chuyển điều chỉnh lại. Trương đã ca ngợi và biểu dương cái ý chân thành nầy của Châu, nên khoa đó Châu đã đậu ngay Tiến Sĩ Cập Đệ.

 

        Bây giờ thì ta trở lại với Giai Thoại Văn Chương Việt Nam " VÕ TRẮC VÃNG NAM CÔ " của một Thủ Khoa đất Bình Thủy Cần Thơ :  Ông Thủ Khoa Bùi Hữu Nghĩa nhé !

        Ông sinh năm Đinh Mão (1807) tại làng Long Tuyền, tổng Định Thới, huyện Vĩnh Định, phủ Định Viễn, trấn Vĩnh Thanh (nay thuộc phường An Thới, quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ). Cha ông tên Bùi Hữu Vị, làm nghề chài lưới.
        Năm 1835 ông đỗ Giải nguyên (thủ khoa) kỳ thi Hương ở Gia Định, vì thế ông được gọi là Thủ Khoa Nghĩa.
        Khi thực dân Pháp đánh chiếm ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ, năm 1862, Bùi Hữu Nghĩa xin từ quan về quê dạy học, bốc thuốc chữa bệnh cho dân và làm thơ (lúc này ông lấy hiệu là "Liễu Lâm chủ nhân"). Nhà ông là nơi các sĩ phu yêu nước gặp gỡ, bàn bạc việc chống Pháp cứu nước. Ông lâm bệnh và mất ngày 21 tháng giêng năm Nhâm Thân (1872), thọ 65 tuổi.

        Sinh thời, Thủ Khoa Nghĩa nổi tiếng với vở tuồng " Kim Thạch Kỳ Duyên " được nhà vua khen ngợi. Nghe nói khi soạn vở tuồng nầy có sự giúp sức và góp ý của ông Huỳnh Mẫn Đạt, nên mới có câu chuyện sau đây ...

        Tương truyền, ở xứ Gia Định có Tú Tài VĂN BÌNH, văn hay chữ tốt, nhưng thi cử lận đận, thi mãi mà vẫn chỉ đậu có ...Tú Tài ! Nghe đồn Thủ Khoa Nghĩa soạn tuồng Kim Thach Kỳ Duyên được vua khen, thì trong lòng không phục, lại nghe nói có sự góp sức của cụ Huỳnh Mẫn Đạt nên lại càng không phục hơn. Một hôm Tú ta quyết định " Đem chuông đi đấm xứ người ", mới khăn gói mò xuống đất Bình Thủy tìm gặp Thủ Khoa Nghĩa để thử tài một chuyến xem lời đồn có đúng hay không ?...

        Khi đến Bình Thủy, đang đi lang thang để hỏi thăm nhà Thủ Khoa Nghĩa thì gặp phải một ông già dáng vẻ nhà quê ngồi hóng mát trước cửa, anh ta bèn ghé lại hỏi thăm :

      - Thưa bác, bác có biết nhà ông Thủ Khoa Bùi Hữu Nghĩa ở đâu không ạ ? Ông già nhướng mắt lên hỏi lại :

      - Cậu là ai, kiếm ông Thủ Khoa có việc gì không ?

      - Dạ, cháu là Tú tài Văn Bình ở Gia định, nghe đồn ông Thủ Khoa rất giỏi về văn thơ, nên tìm đến hỏi thăm cho biết vậy mà ! Ông già nghe xong rất sốt sắn :

      - Vậy hả, Tú tài Văn Bình hả, mời vào nhà ngồi chơi, uống ly nước, rồi tôi sẽ biểu sấp nhỏ dẫn tới nhà ông Thủ Khoa cho !

       Sau khi vào nhà ngồi yên chỗ xong, ông già mới rót hai ly nước trà mời khách. Tú tài Văn Bình ngó quanh thấy trong nhà có treo mấy câu đối nên lẩm nhẩm đọc. Ông già bèn cười nói rằng :

     - Đó là mấy câu đối của ông Thủ Khoa làm đó. Còn tụi tôi thì học ít, hổng biết làm câu đối dài tới vậy, chỉ biết đối từng chữ một mà thôi. Nếu cậu không chê thì mình đối chơi với nhau một vài chữ cho vui ! Thấy ông già tử tế và vui tính, nên Văn Bình cũng rất vui vẻ nhà  nhận lời. Ông già bưng ly trà lên nhấp nhấp đọc :

     - VÕ  武. Văn Bình đối lại :

     - VĂN 文.  Ông già lại đọc :

     - TRẮC 仄.  Văn Bình đối là :

     - BÌNH 平.  Ông già lại tiếp :

     - VÃNG 往. Văn Bình đối ngay :

     - LAI 來. Ông già lại ra :

     - NAM 南. Văn Bình lại đối :

     - BẮC 北. Ông già lại đọc :

     - CÔ. Văn Bình lại đối là :

     - CỤ. Tất cả các chữ đều đối với nhau chan chát. Đến đây, thì ông già ngưng lại đề nghị :

     - Bây giờ thì mình ghép các chữ đã đối với nhau lại nghen. Câu của tui là : VÕ TRẮC VÃNG NAM CÔ ! Văn Bình cũng đọc to các chữ mà mình đã đối là :

     - VĂN BÌNH LAI BẮC CỤ ! Vừa đọc xong, anh ta chợt giật mình, đứng dậy bẽn lẽn chấp tay xá ông già một cái mà nói rằng :

     - Ông ơi, Ông chính là ông Thủ Khoa rồi, tú tài này xin bội phục !

       Ông già cũng đứng lên cười xòa, nắm tay Văn Bình bảo anh ta ngồi xuống; đoạn 2 người cùng nhau đàm luận văn chương rất ư là tương đắc. Thì ra ...

       Câu VÕ TRẮC VÃNG NAM CÔ của Thủ Khoa Bùi Hữu Nghĩa không có nghĩa gì cả; nhưng câu VĂN BÌNH LAI " BẮC CỤ " của Tú Tài Văn Bình thì thật ... khó chơi, mà lại do chính miệng mình nói ra ... cái mới chết chớ !

 

      Lúc nhỏ, khi đọc xong giai thoại nầy, tôi cứ thắc mắc mãi : VÕ 武 đối với VĂN 文; TRẮC 仄 đối với BÌNH 平; VÃNG 往 đối với 來; NAM 南 đối với 北; đối nhau chan chát không có gì để nói, nhưng bảo CÔ với CỤ cũng " đối nhau chan chat ", thì tôi không phục chút nào cả ! CÔ là CÔ nào ? là CÔ ĐƠN 孤單 hay CÔ 姑 là Chi Em Gái của Cha ? Còn CỤ là CỤ nào ? là CÔNG CỤ 工具 hay CỤ 懼 là Sợ ? Nhưng theo các nghĩa trên thì CÔ và CỤ không thể đối nhau được, đừng nói tới chuyện " đối nhau chan chát "! Còn bảo CÔ là Bà Cô, CỤ là Ông CỤ thì càng sai hơn nữa, vì Ông CỤ chữ CỤ nầy là tiếng Nôm, không thể đối với CÔ là từ Hán Việt được ! Muốn đối được với chữ CÔ 姑 là Chị em gái của cha thì có THÚC 叔 là Chú, BÁ 伯 là Bác hay CỰU là Cậu mà thôi ! Nhưng nếu như thế thì cái giai thoại văn chương nầy bị " hỏng " mất, vì Tú Tài Văn Bình có thể dùng từ THÚC hoặc BÁ để đối với từ CÔ, và câu đối sẽ là :

               " VĂN BÌNH LAI BẮC THÚC hay BẮC BÁ "

thì cũng hỏng bét, vì không nói lên được cái " thâm ý " của Ông Thủ Khoa. Nhưng tại sao Ông lại ra chữ CÔ và tại sao Văn Bình lại buộc phải đối là CỤ ? Tôi đem thắc mắc nầy hỏi rất nhiều thầy dạy chữ Hán, nhưng đều không được giải đáp thỏa đáng !... Đến sau nầy, khi tôi đã trở thành thầy dạy chữ Nho, tôi cũng không dám kể giai thoại nầy cho bạn bè nghe, vì sợ họ thắc mắc như tôi, nếu họ hỏi thì làm sao mà trả lời đây ?!...

        Mãi cho đến hơn ba mươi năm sau, khi tôi đang mò mẫm để dịch thơ Đường, lúc dịch đến bài " CẬN THÍ THƯỢNG TRƯƠNG THỦY BỘ " của Châu Khánh Dư, khi đến câu " Đãi hiểu đường tiền bái CỰU CÔ 待曉堂前拜舅姑 " tôi mới chợt " Ngộ " ra rằng :

      CỰU là Ông già Chồng đối với CÔ là Bà già Chồng.

      CƯU là Anh em trai của Mẹ đối với CÔ là Chị em gái của Cha. 

      Nên ...

      Khi ông Thủ Khoa Nghĩa ra chữ CÔ 姑 thì Tú Tài Văn Bình mới đối ngay là CỰU 舅. CÔ đối với CẬU thì không còn gì chỉnh hơn được nữa; và " Ông già Chồng " đối với " Bà già Chồng " thì qủa là " đối nhau chan chát " thật sự !

      Nhưng... " VĂN BÌNH LAI BẮC CỰU " thì vẫn chưa " đạt yêu cầu " của ông Thủ Khoa. Đây chính là điểm chính yếu, là cái mấu chốt của giai thoại nầy. Ông Thủ Khoa đã khéo lợi dụng lời ăn nói và cách phát âm giản dị, tùy tiện của dân Nam Kỳ Lục Tỉnh như " uống rượu " thì nói là " uống gụ ", " đời cô Lựu " thì nói là " đời cô Lụ ", " Quốc Cựu " thì nói là " Quốc Cụ " ... nên mới khiến cho Tú Tài Văn Bình là người Gia Định tự mình ... LAI BẮC CỤ !

 

       Xin được kết thúc " Võ Trắc Vãng Nam Cô " ở đây. Mong tất cả đều có được một giây phút ... thư giản và vui tươi trong " ba ngày Xưng con Gà " !

 

                                                                  Đỗ Chiêu Đức

  

NĂM GÀ NÓI CHUYỆN ... CON KÊ !

 dcd_namga_1.jpg

               

 

        KÊ 鷄 là từ Hán Việt chỉ Con Gà, Gà là Kê, Kê là Gà, là ... Gà Kê Dê Ngỗng. Bà con ta thường nói thành " Cà Kê Dê Ngỗng ". Năm Gà nói chuyện...con Kê là nói chuyện phiếm, chuyện tào lao, chuyện bao đồng về con gà để nghe chơi khi trà dư tửu hậu.

        GÀ được xếp hàng thứ Mười, thuôc chi DẬU trong Thập Nhị Địa Chi. Năm nay Thiên Can nhằm chữ Đinh, nên năm 2017 là năm ĐINH DẬU. Nam phương Bính Đinh thuộc Hỏa là Lửa, hợp với chi Dậu là Con Gà. Nên ĐINH DẬU là Con Gà Lửa ... mà con gà bỏ vô lửa thì thành ... Con Gà Quay. Vậy là năm 2017 nầy bà con ta tha hồ mà hưởng lộc " Gà Quay " nhé ! Không sợ bị đói như năm ẤT DẬU 1945. Vì Đông Phương Giáp Ất thuộc Mộc, nên ẤT DẬU là con gà bằng ...Mộc, bằng Cây, mà gà bằng Cây thì làm sao ăn cho được, không đói mới là lạ !

        GÀ là KÊ 鷄, KÊ là chữ Tượng Hình trong Lục Thư, là cách đầu tiên trong 6 cách tạo hình của Chữ Nho ... dễ học, theo diễn tiến của chữ viết như sau :

       Giáp Cốt Văn   Đại Triện       Tiểu Triện      Lệ Thư 

                         

      Ta thấy :

     Giáp Cốt Văn là hình tượng của con gà trống hiên ngang với cái mỏ hướng về bên trái và cái vương miện vươn cao ở trên đầu, hai cánh bên dưới xòe ra như đang đập cánh chuẩn bị cất cao tiếng gáy vào buổi sáng. Nhưng qua Đại Triện và Tiểu Triện do sự biến thiên của chữ viết qua các thời đại, chữ KÊ 鷄 được hình thành bởi Hình Thanh ( Cách tạo chữ thứ 4 của Chữ NHO ... dễ học ) với chữ HỀ 奚 bên trái chỉ Âm và chữ ĐIỂU 鳥 bên phải chỉ Ý, nên chữ KÊ hiện tại được viết như thế nầy 鷄, chữ Điểu bên phải có thể thay bằng bộ CHUY 隹 là Loài chim đuôi ngắn, nên chữ KÊ cũng được viết như sau 雞. Ta có 4 hình thức của chữ KÊ :

                  Giản thể                   Phồn thể

               鸡           鳮             雞              鷄

             7 nét      13 nét       18 nét       21 nét

 

       Vì đến 2 hình thức chữ Phồn Thể, mà chữ phức tạp nhất có đến những 21 nét, nên KÊ thuộc dạng chữ khó nhớ ngày xưa khi học chữ Nho, cho nên mới có câu chuyện vui " Tam Đại của Con Gà " sau   đây về ông Thầy Đồ...dốt. Truyện kể :

        Xưa, có anh học trò học hành dốt nát, nhưng trò đời " Xấu hay làm tốt, dốt hay ... xổ Nho ", đi đâu cũng lên mặt văn hay chữ tốt.

 Có người tưởng anh ta hay chữ thật, mới đón về dạy trẻ.

        Một hôm, đang dạy sách Tam Thiên Tự 三千字, sau chữ " Tước " là chim sẻ, đến chữ " KÊ " là gà, thầy thấy mặt chữ nhiều nét rắc rối, không biết chữ gì, học trò lại hỏi gấp, thầy quýnh qúa, nói đại nói càn : " Dủ dỉ là con dù dì ". Thầy cũng khôn, sợ lỡ sai người nào biết thì mắc cở, mới bảo học trò đọc nhỏ thôi, tuy vậy, trong lòng thầy vẫn lo âu thấp thỏm.

        Nhân trong nhà có bàn thờ Thổ Địa Thần Tài, thầy mới đến khấn thầm xin ba keo âm dương để xem chữ đó có phải thật là " dù dì " không. Thổ công cho ba keo đều được cả ba.

        Thấy vậy, thầy lấy làm đắc ý lắm, hôm sau bệ vệ ngồi trên giường, bảo trẻ đọc cho to. Trò vâng lời thầy, gân cổ lên gào:

      - Dủ dỉ là con dù dì ! Dủ dỉ là con dù dì...

        Ông cha của sấp nhỏ đang cuốc đất ngoài vườn, nghe tiếng con học, ngạc nhiên mới bỏ cuốc chạy vào, giở sách ra xem, rồi hỏi thầy :

     - Thầy ơi ! Chữ " KÊ " là gà, sao thầy lại dạy thành " dủ dỉ " là con " dù dì " ?

       Bấy giờ thầy mới nghĩ thầm : " Mình đã dốt, Thổ Địa Thần Tài nhà nó còn dốt hơn mình nữa ", nhưng Thầy cũng lanh trí, nên vội nói đỡ là :

     - Tôi cũng biết chữ đó là chữ " kê  ", mà " kê " nghĩa là " gà ", nhưng tôi dạy cháu như thế là dạy cho chúng nó biết tận Tam Đại 三代 của con gà kia !

      Chủ nhà càng không hiểu ất giáp gì cả, hỏi :

    - Tam Đại 三代 của con gà là nghĩa ra làm sao?

    - Là ba đời của con gà đó ! Này nhé," Dủ dỉ là chị con Công, con Công là ông con Gà." Thế, chả phải Tam Đại của con gà là gì ?! 

     

            DẬU đứng hàng thứ Mười trong Địa Chi, nhưng lại là Tháng Tám Âm lịch. Ngày Dậu là ngày được xếp sau ngày Thân và trước ngày Tuất. Giờ Dậu là từ 5 đến 7 giờ chiều tối, nên ông bà ta ngày xưa có để lại mấy câu nói sau đây :

              Mạc ẩm Mão thời tửu,    莫飲卯時酒,

              Hôn hôn túy đáo Dậu.    昏昏醉到酉.

              Mạc mạ Dậu thời thê,     莫罵酉時妻,

              Nhất dạ thụ cô thê.        一夜受孤凄.
 Có nghĩa :

  *  Đừng uống rượu vào giờ Mão ( từ 5 đến 7 giờ sáng ). Vì sẽ bị...

      Say sưa mơ màng cho đến giờ Dậu ( từ 5 đến 7 giờ tối ). Vậy là

        suốt ngày sẽ không làm ăn gì được cả !

  *  Đừng mắng vợ vào giờ Dậu, vì chiều tối mà vợ chồng giận nhau

        thì suốt đêm sẽ chịu lạnh lẽo cô đơn có một mình, cũng sẽ

        không " làm ăn " gì được cả !

      Tâm lý qúa cở " thợ mộc "! Ai bảo là ông bà ngày xưa không biết tâm lý tình cảm và bảo vệ hạnh phúc gia đình đâu !?

      

      DẬU kết hợp với TỴ và SỬU thành Tam Hạp. Trâu Bò hợp với Gà thì còn được, chớ Trăn Rắn làm sao mà hợp với gà cho được, thấy gà là chúng quấn cho nát xương rồi nuốt trửng nguyên con như chơi. Không biết mấy thầy Tử Vi tướng số ngày xưa căn cứ vào cái gì mà  xếp cho con Gà và con Rắn hợp nhau ? Rắn thì chắc OK rồi, nhưng gà mà gặp rắn là chạy " tét ghèn " luôn, làm sao mà hợp cho được !

      DẬU lại cùng với TÝ, NGỌ và MÃO, ta gọi là Tý Ngọ Mẹo Dậu thành một bộ Tứ Hành Xung. Ba lần bốn mười hai, cho nên hễ vợ chồng cách nhau 3, 6 hoặc 9 tuổi là lọt vào Tứ Hành Xung ngay ! Nên ngày xưa đi cưới vợ phải coi tuổi là vì thế ! Tuyệt đối kỵ 3, 6, 9, nhất là  cách nhau 6 tuổi sẽ lọt vào số Chánh Xung, như : Dần và Thân, Tỵ và Hợi, Tý và Ngọ, Mẹo và Dậu, Thìn và Tuất, Sửu và Mùi đều cách nhau 6 tuổi, bảo đãm không xung không lấy tiền !

dcd_12congiap.jpgdcd_namga_3.jpg 

 

       Trong thần thoại, GÀ là MÃO NHẬT KÊ 昴日雞, là ngôi thứ tư trong Bạch Hổ Thất Tinh, thuộc 7 vì sao nằm ở phương Tây của Nhị Thập Bát Tú 二十八宿, hướng Tây thuộc mùa Thu, cũng là mùa thu hoạch nông phẩm xong, cửa nhà đã đóng. Nên Mão Nhật Tinh thuộc nhóm Hung Tinh ( Sao dữ ), thường mang đến tai ương bất lợi, hung đa kiết thiểu ( cho những người chưa thu hoạch hay bị mất mùa thất thu : Chắc chắn sẽ bị đói !). 

                dcd_namga_4.jpg 

            

          Mão Nhật Kê được tạo hình trong phim Tây Du Ký
      

       GÀ là một trong lục súc sống cùng với con người qua mấy ngàn năm lịch sử. Dựa theo các giả định Cổ Khí Hậu Học, có làm một nghiên cứu vào năm 1988 cho rằng gà được thuần hóa ở vùng Hoa Nam vào năm 6000 trước Công nguyên. Nhưng, một nghiên cứu khác vào năm 2007 cho rằng Gà xuất xứ từ Văn minh lưu vực sông Ấn (2500-2100 trước Công nguyên), nơi mà ngày nay thuộc lãnh thổ của Pakistan, có thể là nguồn chính cho sự lan truyền của các giống gà trên toàn thế giới.

        Trong Lục Súc Tranh Công, một tác phẩm văn học dân gian của ta, trước đây được xếp trong chương trình Cổ Văn của lớp Đệ Thất, đã cho con Gà nói về mình như sau :

 ................................

Này này! gà ngũ đức thẳm sâu:
Nhân, dũng, tín, võ, văn, gồm đủ.
Trên đầu đội văn quan một mũ;
Dưới chân đeo hai cựa thần thương.
Đã ghe phen đến chốn chiến trường.
Lập công trận vang tai, lói óc,
Thủa Tây Lũng tam canh trống thúc;
Gà gáy đầu ba tiếng đêm khuya,
Một tiếng rằng: thiên nhật tác thì;
Hai tiếng rằng: quốc tộ tác xương,
Ba tiếng rằng: nhân gian tác lạc,
Đã cứu nạn Mạnh Thường đặng thoát;
Lại khuyên người Tấn sĩ năm canh.
Hễ ai toan cải dữ về lành,
Gà cũng biết tỉnh, mê, giấc điệp.
Coi giò gà xét biết thịnh suy.
Dóng canh khuya vui dạ kẻ tiêu y,
Cất tiếng gáy, toại lòng người đãi đán,
                ...............................................

 

       Ta thấy bài kể công trên, Gà có nhắc đến "...cứu nạn Mạnh Thường ...". Mạnh Thường đó là Mạnh Thường Quân của nước Tề, một trong Chiến Quốc TỨ CÔNG TỬ 戰國四公子, là bốn Vương Tôn hào hiệp, chiêu hiền đãi sĩ thời Chiến Quốc, đó là :

 

 齐国孟尝君田文    Mạnh Thường Quân ĐIỀN VĂN của nước Tề.

 赵国平原君赵胜    Bình Nguyên Quân TRIỆU THẮNG của nước Triệu.   魏国信陵君魏无忌 Tín Lăng Quân NGỤY VÔ KỴ của nước Ngụy.

 楚国春申君黄歇    Xuân Thân Quân HOÀNG YẾT của nước Sở.

 

          dcd_namga_5.jpg
           Tứ Công Tử qua Minh họa và qua Điện ảnh

 

       Không phải đương không mà Tứ Công Tử nầy bỏ tiền của ra để nuôi ba ngàn thực khách trong nhà, mục đích chiêu hiền đãi sĩ của những vị nầy là để chiêu mộ tất cả nhân tài trong thiên hạ để chống lại nước Tần lớn mạnh đang lăm le thôn tính Thất Hùng....

       Trở lại với MẠNH THƯỜNG QUÂN, người nổi tiếng nhất trong Tứ Công Tử và ... con Gà đã cứu ông ta :

       Tần Chiêu Tương Vương nghe nói Mạnh Thường Quân tài giỏi, nên mời đến nước Tần, định phong làm Tể Tướng, nhưng lại lo ông ta là người nước Tề chỉ lo cho quyền lợi của nước Tề. Không dùng, lại định giết đi. Mạnh Thường Quân biết tin lo sợ, mới tìm người sủng thiếp của Tần Vương mà cầu cứu. Người thiếp nầy thấy trước đây  Mạnh Thường Quân có tặng cho Tần Vương một chiếc áo hồ cừu rất đẹp nên cũng muốn có một chiếc mới chịu giúp. Bí lối, vì chỉ có một chiếc duy nhất. Cũng may trong đám môn khách đi theo có một người chuyên đào tường khoét vách, đã lẻn vào cung vua Tần trộm chiếc áo hồ cừu đó ra để ông đem tặng cho người sủng thiếp. Nghe lời ỏn ẻn của người thiếp khi đầu gối tay ấp, Tần Vương thả Mạnh Thường Quân về nước. Không kịp đợi trời sáng, cả đoàn người ngựa kéo nhau lên đường. Tần Vương thả người xong thì hối hận, bèn cho binh lính đuổi theo bắt lại. Khi đoàn người của Mạnh Thường Quân chạy đến cửa thành thì trời chưa sáng, cửa thành chưa mở. Lại một

môn khách đi theo có người giỏi nhái tiếng gà gáy, khi ông ta cất tiếng gáy lên thì tất cả gà trong thành đều cất tiếng gáy theo. Lính canh thành tưởng trời đã sáng bèn mở toang cửa thành ra. Thế là cả đoàn người của Mạnh Thường Quân ra thành... chạy tuốt ! Khi quân Tần đuổi tới thì đoàn người đã đi xa lắc xa lơ rồi !

       Con Gà cứu Mạnh Thường Quân là con Gà...trong ba ngàn thực khách của ông ta, còn bầy Gà chỉ hùa theo tiếng gáy mà thôi ! Con Gà trong Lục Súc Tranh Công không biết thấu đáo mà cho là công lao của mình. Nhưng xét cho cùng, không có bầy gà cùng gáy thì chưa chắc lính canh đã chịu mở cửa thành ! Và ... cũng vì tích nầy mà ta có được thành ngữ :

       KÊ MINH CẨU ĐẠO 雞鳴狗盜 : là Gà gáy Chó trộm. Ý chỉ hai thực khách của Mạnh Thường Quân, một người chui lổ chó vào cung trộm áo; một người giả làm gà gáy sáng. Ý muốn nói những người tầm thường du thủ du thực nhiều khi cũng đắc dụng, cũng làm nên việc có ích hoặc cứu giúp lúc lâm nguy, chớ không phải hoàn toàn vô dụng. Nhưng thành ngữ nầy hiện nay thường dùng để chỉ hạng đầu trộm đuôi cướp, ba que xỏ lá, trộm gà bắt chó... mà đã mất đi ý nghĩa tốt đẹp của lúc ban đầu !

                        dcd_namga_6.jpg 

       
                               Kê Minh Cẩu Đạo

 

       Con Gà của Lục Súc Tranh Công còn kể lể :

 

              Lại khuyên người Tấn sĩ năm canh.

 

       TẤN SĨ 晉士 : là Kẻ sĩ của nước Tấn; ở đây chỉ TỔ ĐỊCH 祖逖 ( 266-321 ) và LƯU CÔN 劉 琨 ( 271-318 ) của thời Đông Tấn và Tây Tấn theo tích sau đây :

      Tổ Địch tự là Sĩ Nhã, người đất Yên Sơn. Ông là một Đại Tướng đầu đời Đông Tấn, có chí muốn khôi phục Trung Nguyên nên ra sức bắc phạt, từng lập được nhiều chiến công. Ông cùng với người bạn trẻ là Lưu Côn, tự là Việt Thạch, người đất Hà Bắc, là danh tướng đời Tây Tấn, là hậu duệ của Hán Trung Sơn Tịnh Vương. Lúc nhỏ cùng với Tổ Địch kết giao. Hai người thường bàn luận về chính sự, quốc sự đều tỏ ra rất tâm đắc, tuổi trẻ lòng đầy nhiệt huyết đều muốn cống hiến sức lực của mình cho Tổ quốc, nên mỗi đêm về sáng khi nghe được tiếng gà gáy là cùng nhau thức dậy để múa gươm luyện võ, trao dồi thể lực để mong có cơ hội ra giúp nước. Đêm đêm như thế, chẳng hề chểnh mảng đơn sai.

        Vì thế mà hình thành được thành ngữ VĂN KÊ KHỞI VŨ 聞雞起舞 : là Nghe tiếng Gà gáy thì dậy mà múa. Múa ở đây là Múa Gươm, vừa rèn luyện thân thể, vừa ôn tập võ nghệ. Thành ngữ nầy còn dùng để chỉ những người có c