ptan_ongdo.jpgTIẾNG HÁN CỔ

với ông đồ

ĐỖ CHIÊU ĐỨC

CHS Phan Thanh Giản

Nguyên GS Trung Học Tân Hưng (Cái Răng)

Nguyên Giảng Viên Hán Văn ĐH KHXHNV (SG)

__________________________________________________________________________

 

TẢI NGUYỆT MINH QUY

                               Thơ Thiền

______________________________________________________________________________ 



              Bài thơ nầy vốn có tựa là " THUYỀN TỬ HÒA THƯỢNG KỆ " 船子和尚偈, vì Đức Thành Thiền Sư, người gốc Tứ Xuyên,  là một cao tăng ở cuối đời Đường, thọ pháp với Dược Sơn Duy Nghiêm Thiền Sư. Ngày thường ẩn cư ở Tú Châu Hoa Đình, làm nghề đưa đò ở bến đò Ngô Giang, thường thả một lá thuyền con trôi theo dòng nước, tùy duyên mà độ nhật, nên người đời mới gọi là THUYỀN TỬ HÒA THƯỢNG 船子和尚 ( là Hòa thượng Chèo thuyền ), còn có hiệu là Hoa Đình Hòa Thượng 華亭和尚. Sư soạn 39 bài PHẤT TRẠO CA 撥棹歌 ( Bài ca Chèo Thuyền ) ca ngợi đời sống của Ngư dân nhưng lại ngụ Thiền lý trong các lời ca đó.

              Dưới đây là bài thứ nhất trong 3 bài Thất Ngôn tuyệt cú, là bài kệ có ý Thiền được nhiều người biết đến nhất :

 

DCD_Taitrangve_1.jpg

 

                             千尺絲綸直下垂,
                             一波才動萬波隨;
                             夜靜水寒魚不食,
                             滿船空載月明歸。

                  Thiên xích ty luân trực hạ thùy,

                  Nhất ba tài động vạn ba tùy .
                  Dạ tĩnh thủy hàn ngư bất thực,
                  Mãn thuyền không tải nguyệt minh qui !

NGHĨA BÀI THƠ :

                           BÀI KỆ của HÒA THƯỢNG CHÈO ĐÒ
             Sợi tơ nhợ câu cá ngàn thước buông thẳng xuống dưới nước, nước bèn nổi lên một dợn sóng, và dợn sóng nầy lan tỏa thành muôn vạn dợn sóng khác tỏa rộng ra. Đêm yên ắng, nước lạnh căm, nên không có cá cắn câu, đành chở đầy một thuyền trăng trống không mà về !



CHÚ THÍCH :
               TY LUÂN : Dây tơ, dây nhợ, là sợi chỉ. Chữ TY là Tơ. LUÂN là Chỉ dùng để may bìa vải lại cho đừng xút xổ , mà bây giờ ta gọi là chỉ " Vắt Xổ " đó, nên LUÂN THƯỜNG là cái GIỀNG MỐI mà ta phải giữ cho cuộc sống có nề nếp. 
              3 chữ cuối của câu 1 là TRỰC HẠ THÙY, nghĩa là BUÔNG THẲNG XUỐNG, THÙY 垂 là rũ xuống.

              TẢI : là Chở, VẬN TẢI là Chuyên chở.

 Ý BÀI KỆ :  

      
        2 Câu đầu lấy ĐỘNG để tả TĨNH, động tác buông câu là động tác thật nhẹ nhàng, dây câu chạm mặt nước cũng là động tác thật nhẹ nhàng, gợn sóng phát sinh lại càng nhẹ nhàng hơn, tuy nhẹ nhàng nhưng lại lan tỏa ra thành muôn vạn dợn sóng khác, Nhất ba động, vạn ba tùy. Một Ý niệm nảy sinh, gây mầm cho muôn vạn Ý niệm khác nảy sinh, đây chính là Ý THIỀN của 2 câu thơ đầu.
        2 câu thơ cuối đều qui về một chữ KHÔNG. Đêm vắng lặng, nước lạnh lẽo, cá chẳng cắn câu, tất cả là nhân tố của cái kết quả : " Chở đầy một thuyền toàn là ánh trăng mà về ! ". Thuyền đầy ánh trăng là " Sắc tức thị Không ". Ánh trăng huyền ảo mông lung đẹp đẽ nhưng lại " Không có gì cả ! ",  là "Không tức thị Sắc" đó!

DIỄN NÔM :

 

DCD_taitrangve_2.jpg

                     BÀI KỆ CỦA HÒA THƯỢNG CHÈO THUYỀN


                    Ngàn thước dây câu vừa thả xuống,
                    Muôn ngàn dợn sóng gợn li ti.
                    Đêm thanh nước lạnh không tăm cá,
                    Chở một thuyền trăng chẳng có chi !


LẠI DIỄN :
                   Ngàn thước nhợ câu thả xuống sông,
                   Một dợn muôn ngàn sóng lăn tăn,
                   Đêm yên nước lạnh im hơi cá,
                   Chở một thuyền về chỉ ánh trăng !


                                                              Đỗ Chiêu Đức.

Mailoc phỏng dịch: 

      Chở Trăng Về

Tơ nghìn thước dây câu sông thả,

Một sóng đầu lan toả vạn sau.

Đêm yên nước lạnh cá đâu!

Thuyền không đầy ấp trăng thâu người về.

                 Mailoc phỏng dịch

Bản dịch Phạm Khắc Trí: 

 

             Tải Nguyệt Minh Quy  

PKT 07/07/2014

 

Ngàn thước dây câu buông thẳng xuống ,

Sóng lan thành vạn sóng lăn tăn  ̣

Đêm thanh , nước lạnh , không tăm cá ,

Thuyền trống , đường về , đầy ánh trăng  ̣

PKT 

 


Mai Xuân Thanh:

Theo Bản Dịch & Diễn Nôm Ý Bài Kệ - ĐCĐ :

1) : Sắc Sắc Không Không

 

Chỉ tơ nghìn thướt thả buông sông

Sóng tỏa một lan  nối vạn vòng

Nước lạnh đêm thanh đâu thấy cá

Thuyền đầy, chở ngập ánh trăng không...

 

Mai Xuân Thanh

Ngày 13 tháng 08 năm 2017

 

2) : Bài kệ : Chỉ chở Trăng không, thấy ngập thuyền

 

Nghìn thước dây, sông thả xuống ngang

Sóng xao cứ một tỏa lan ngàn

Đêm thâu lạnh lẽo nào đâu cá

Thuyền vớt trăng không, ngập ánh vàng

 

Mai Xuân Thanh

Ngày 13 tháng 08 năm 2017

 

Phương Hà: 

Chở ánh trăng về

 

Sợi tơ ngàn thước thẳng buông sông

Sóng một vòng lan tỏa vạn vòng

Nước lạnh trời đêm không gợn cá

Thuyền về chở ngập ánh trăng trong.

 

 Phương Hà phỏng dịch

_______________________________________ 

 

Bốn bài NGŨ NGÔN TỨ TUYỆT

 

1. TƯ QUY của VƯƠNG BỘT.
      VƯƠNG BỘT ( 650-676 ), tự là Tử An. Người đất Giáng Châu Long Môn ( thụộc Hà Tân Sơn Tây hiện nay ). Ông nội là Vương Thông, hiệu là Văn Trung Tử, học giả nổi tiếng cuối đời nhà Tùy. Cha là Vương Phước Chỉ, giữ chức Thái Thường Bác Sĩ, Ung Châu Tư Công đời Đường.
      VƯƠNG BỘT cùng với Dương Quýnh, Lư Chiếu Lân, Lạc Tân Vương văn tài thi tài ngang nhau, người đời xưng là " Sơ Đường Tứ Kiệt ". Bột đứng đầu Tứ Kiệt, nổi tiếng bất hủ với bài " Đằng Vương Các Tự ", để lại một giai thoại văn chương về câu nói " Thời lai phong tống Đằng Vương Các ", và còn để lại rất nhiều ảnh hưởng cho văn học đời sau bằng các thành ngữ còn thông dụng đến hiện nay.
       Sau đây là một bài Ngũ Ngôn Tứ Tuyệt nổi tiếng của ông.


    思歸                     TƯ QUY
長江悲已滯,       Trường Giang bi dĩ trệ,
萬里念將歸。     Vạn lí niệm tương quy. 
況屬高風晚,       Huống thuộc cao phong vãn, 
山山紅葉飛。     Sơn sơn hồng diệp phi.
           王勃                             Vương Bột

dcd_vuongbot_1.jpg 

CHÚ THÍCH :

       Câu 3 & 4 của bài nầy còn có dị bản là :
           Huống PHỤC cao SƠN VIỄN,          況復高山遠,  
           Sơn sơn HOÀNG diệp phi.              山山黃葉飛。
    HUỐNG THUỘC hay HUỐNG PHỤC gì đều có nghĩa là : Hơn nữa, Vả lại...
    CAO PHONG VÃN : là Gió thu trên cao thổi vi vút vào buổi chiều tối, còn ...
    CAO SƠN VIỄN : là Núi cao chập chùng xa xăm diệu dợi.
    BI DĨ TRỆ : là Nỗi sầu cô đọng lại như nước Trường Giang lửng lờ ( như không trôi chảy ).
    NIỆM TƯƠNG QUY : là Chỉ mới có Ý niệm sẽ quay trở về mà thôi. ( Ý nói: Muốn về mà không về được!)
    HỒNG DIỆP hay HOÀNG DIỆP gì cũng đều là lá mùa thu, và cũng đều nên thơ cả ! Có điều, người Việt ta thì hay dùng " Lá Vàng " để chỉ mùa thu, còn người Hoa thì hay dùng " Lá Đỏ ", vì họ có nhiều rừng phong đỏ thắm lúc thu về, còn ta thì lại có :
                   " Lá VÀNG trước gió sẻ đưa vèo ! "...
  hoặc thi vị hơn như Tản Đà :
                  " Trận gió thu phong cuốn lá VÀNG,
                    Lá bay hàng xóm lá bay sang....
       để rồi...
                    Hờ hững ai xui thiếp phụ chàng ! "

dcd_vuongbot_2.jpg

 

DIỄN NÔM :

                    MUỐN VỀ
           Trường Giang sầu nước lửng,
           Muôn dặm muốn về ngang.
           Núi cao ngăn quê cũ ,
           Non non rụng lá vàng !
   Lục bát :
           Trường Giang nước đọng lòng sầu,
           Xa nhà muôn dặm mấy thâu muốn về.
           Núi cao ngăn cách làng quê,
           Muôn chiều lá đổ ủ ê lòng sầu !
                                                 Đỗ Chiêu Đức

2. TUYỆT CÚ của ĐỖ PHỦ : 

        Bài thơ nầy được làm vào cuối xuân năm Quảng Đức thứ 2 đời Đường Đại Tôn ( 764 ), lúc bấy giờ, Thi Thánh Đỗ Phủ đang ở Thành Đô ( Tứ Xuyên ), mặc dù tha hương nhưng cuộc sống đã tạm ổn định, nhớ quê nhưng tâm lý đã khá thoải mái.


      絕句                   TUYỆT CÚ   
   江碧鳥逾白,     Giang bích thủy du bạch,
   山青花欲燃。     Sơn thanh hoa dục nhiên.
   今春看又過,     Kim xuân khan hựu quá,
   何日是歸年.       Hà nhật thị qui niên ?!
              杜甫                               Đỗ Phủ

dcd_DoPhu_3.jpg 

 

 

CHÚ THÍCH :

      Bài thơ nầy được Thi Thánh Đỗ Phủ làm vào mùa xuân năm Quảng Đức thứ hai đời Đường Đại Tôn. Lúc nầy ông đang tạm cư ở Thành Đô, cuộc sống tạm ổn định, mặc dù xa quê nhưng trong lòng cũng tạm thoải mái bớt day dứt, nên lời thơ cũng nhẹ nhàng gợi cảm hơn.
    BÍCH 碧 : là BIẾC. Ta thường hiểu là XANH thì mới BIẾC. Thật sự BÍCH là chỉ cái sắc ÓNG ÁNH, như Cẩm Thạch  " Lên Nước " thì gọi là BÍCH, bất cứ nó ửng lên màu gì đều là " BÍCH " cả !.   
    DU 逾 :là Càng hơn, là Vượt quá.
    DỤC 欲 :là Muốn, là Giống Như.
    NHIÊN 燃 :là Cháy, Ở đây có nghĩa là Rực Rỡ.
    QUÁ 過 :là Qua, là Đi Qua.
    HÀ 何 :Nghi Vấn Từ, có nghĩa là GÌ, NÀO, SAO... Như : HÀ SỰ là Việc gì ?, HÀ NHÂN là Người Nào?, HÀ CỐ là Cớ Sao ?. Trong câu thơ HÀ NHẬT là Ngày Nào ?

 

DỊCH NGHĨA :
        Nước của dòng sông càng xanh biếc thì những cánh chim bay lượn trên sông càng trắng hơn thêm, núi càng xanh hơn thì muôn hoa càng như rực rở hơn lên như muốn bốc cháy. Trước mắt ta mùa xuân lại sắp đi qua nữa rồi, không biết là đến năm nào mới có được ngày quay trở lại quê hương đây ?!.

dcd_DoPhu_4.jpg

 

DIỄN NÔM :         


                     TUYỆT CÚ
             Nước biếc chim càng trắng,
             Núi xanh hoa rực hương.
             Nay nhìn xuân lại hết,
             Biết thuở nào hồi hương ?!


 Thất ngôn :
            Trắng xóa cánh chim làn nước biếc,
            Hoa như rực lửa núi càng xanh.
            Mắt trông xuân lại qua lần nữa,
            Quê cũ năm nào lại gặp anh ?!


                                                Đỗ Chiêu Đức

           

3. KIẾN VỊ THỦY TƯ TẦN XUYÊN của SẦM THAM .


        SẦM THAM 岑參 ( 715-770 ), người gốc Nam Dương ( thuộc Tân Dã, tỉnh Hà Nam hiện nay ), sau thuyên cư về Giang Lăng ( Tỉnh Hồ Bắc hiện nay ), đậu Tiến Sĩ năm Thiên Bảo thứ ba năm 30 tuổi. Ông là thi nhân nổi tiếng đời Đường, chuyên về thơ biên tái 7 chữ, giọng thơ hào hùng, sức tưởng tượng phong phú, đầy màu sắc lãng mạn. Ông mất lúc 56 tuổi.

 

     見渭水思秦川      KIẾN VỊ THỦY TƯ TẦN XUYÊN

            
  渭水東流去,        Vị Thủy đông lưu khứ, 
      何時到雍州。        Hà thời đáo Ung Châu ?
  憑添兩行淚,        Bằng thiêm lưỡng hàng lệ,
      寄向故園流。        Kí hướng cố viên lưu  !

                 岑參                                    Sầm Tham

dcd_samTham.jpg 

CHÚ THÍCH :

      VỊ THỦY 渭水:Còn gọi là Vị Hà, từ Cam Túc chảy qua Thiểm Tây đổ vào sông Hoàng Hà ra biển.
      TẦN XUYÊN 秦川:Địa danh xưa, tức tỉnh Thiểm Tây ngày nay. Trong thơ chỉ đất Quan Trung, là một dãi đất ở trung bộ tỉnh Thiểm Tây.
      UNG CHÂU 雍州:Một trong chín Châu ngày xưa, bao gồm một phần của tỉnh Cam Túc và một dãi của tình Thiểm Tây ngày nay.
      CỐ VIÊN 故园:Vườn Cũ, chỉ Cố Hương, nơi được sanh ra và lớn lên.

DỊCH NGHĨA :
              THẤY DÒNG SÔNG VỊ MÀ NHỚ TẦN XUYÊN
     Dòng sông Vị chảy về đông, không biết bao giờ mới đến được xứ Ung Châu quê ta.( Nay ta thương nhớ quê hương mà không về được, nên...) chỉ còn có nước nhỏ thêm hai hàng lệ nhớ quê xuống sông, nhờ nước sông mang hai hàng lệ nhớ thương nầy về với cố hương quê ta mà thôi !

 

DIỄN NÔM :


             TRÔNG SÔNG VỊ NHỚ TẦN XUYÊN


                   Xuôi đông sông Vị chảy,
                   Ung châu ngang quê nhà.
                   Ta thêm hai hàng lệ,
                   Về tận cố hương xa !

  Gián Cách :
                   Sông Vị chảy về đông,
                   Uông Châu bao giờ đến ?
                   Ta thêm lệ đôi dòng,
                   Gởi cố hương yêu mến !
    Lục Bát :
                  Về đông sông Vị chảy mau,
              Bao giờ mới đến Ung Châu quê nhà ?
                  Nhỏ hai hàng lệ thiết tha,
              Gởi về tận chốn quê xa mịt mùng !


                                                         Đỗ Chiêu Đức

 

4. TĨNH DẠ TƯ của LÝ BẠCH :


       Bài thơ TĨNH DẠ TƯ của Thi Tiên LÝ BẠCH với lời lẽ mộc mạc, giản dị, nhưng lại rất thực tế, nhân bản, dễ đi sâu vào lòng những người tha hương cô thân chiếc bóng, lòng nhớ quê luôn canh cánh khôn nguôi !


    靜夜思                    TĨNH DẠ TƯ
  床前明月光,          Sàng tiền minh nguyệt quang,
      疑是地上霜。        Nghi thị địa thượng sương.
    舉頭望明月,        Cử đầu vọng minh nguyệt,
      低頭思故鄉。        Đê đầu tư cố hương !
                 李白                            LÝ BẠCH

dcd_LyBach.jpg 

CHÚ THÍCH :

    Chữ 靜 được phát bằng 2 âm TỊNH và TĨNH, nhưng nghĩa thì lại như nhau. TĨNH DẠ 靜夜 : là Trong đêm thanh vắng. Đêm vắng lặng.
    NGHI 疑 : là Nghi Ngờ. Ở đây có nghĩa là NGỠ là , Tưởng là. 
    CỬ ĐẦU : là ngước đầu, là ngẩn đầu lên.
    ĐÊ ĐẦU : là Cúi đầu xuống.

 

NGHĨA BÀI THƠ :
                     NỖI NHỚ NHUNG TRONG ĐÊM VẮNG VẺ
       Trước giừơng ta nằm, ánh trăng sáng vằng vặc đang chiếu rọi, ánh trăng huyền ảo mơ màng như có một làn sương mỏng phủ trùm cả đất trời. Trong đêm vắng lặng nầy, ta không sao chợp mắt được. Ngước đầu nhìn lên vầng trăng sáng như thuở nào, nên khi cúi đầu nhìn xuống lại tưởng nhớ đến quê hương !

       Tình cảm mộc mạc mà chân thật biết bao, nên chi bài thơ với những từ rất giản dị lại cũng rất dễ đi vào lòng người suốt trên ngàn năm nay !

 

DIỄN NÔM :     


                     NHỚ QUÊ ĐÊM VẮNG


                 Trước giừơng nhìn trăng sáng,
                 Mông lung ngỡ sương đêm.
                 Ngữa trông vầng trăng bạc,
                 Nhớ quê dạ buồn thêm !
 Lục bát :
                 Trước giừơng nhìn ánh trăng trong,
              Mông lung cứ ngỡ sương lồng bóng mây.
                 Ngữa trông trăng sáng đêm nay,
              Cúi đầu lòng những ai hoài nhớ quê !


                                                   Đỗ Chiêu Đức 

____________________________________________________________________________________________________________________ 

 

 

 

                                                  THƯƠNG HOÀI NGÀN NĂM

 Nhân Hội Cao Niên của Trung Tâm VIỆT MỸ Houston TX tổ chức  wedding  Anniversary  cho các cặp đôi Cao Niên.  Đỗ Chiêu Đức có làm một bài thơ tặng cho " Bà Xã " để kỉ niệm 43 năm ngày cưới.  

DCD_weddingAnni.jpg

 

                        Thương hoài mãi ngàn năm,
                        Trót nên duyên sắt cầm.
                        Vấn vít tình sinh nghĩa,
                        Vợ chồng : Nghĩa trăm năm !


       Một nửa đây rồi một nửa ơi !
       Bốn mươi năm lẻ mấy xa vời ?
       Đồng cam cộng khổ bao năm tháng,
       Thoáng chốc tuổi già đã đến nơi !!!


                     Nhớ hồi son giá mắt em cười,
                     Xao xuyến lòng anh biết mấy mươi.
                     Đôi lứa chung lưng tìm hạnh phúc,
                     Con thơ từng đứa điểm tô đời !


       Rồi những tháng ngày khói lửa,
       Lên đường nhập ngũ phận trai,
       Nuôi dạy con thơ, cha mẹ,
       Thân cò lặn lội đêm ngày !


                     Thương em vất vả lòng luôn nhớ,
                     Tiếng mẹ hát ru vẳng đáy lòng...
                     Ầu ơ...Con cò lặn lội bờ sông,
                     Tuổi xuân mòn mõi má hồng phôi pha !...

          

          Em là hiền phụ,
          Quán xuyến trong ngoài.
          Thờ cha kính mẹ,
          Chẳng chút đơn sai !


                Tào khang là tấm mẵn,
                Cùng chịu cảnh cơ hàn.
                Mong một ngày lại sáng,
                Hết cơ cực lầm than !

                 ................................


         Qua rồi những tháng ngày cay nghiệt,
         Sống chết cận kề thật mỏng manh.
         Hết cơn vận bỉ thời lại thái,
         Đoàn viên dệt lại mộng ngày xanh !

 

 

                 Quê người xây dựng lại,

                 Cuộc sống lứa đôi mình.
                 Bốn mươi năm kỉ niệm,
                 Hạnh phúc lại hồi sinh !

Nay thì...
         Trưởng thành con cái nên danh,
         Yên bề gia thất cho đành lòng nhau.
         " Trải qua một cuộc bể dâu ",
         Giờ là hạnh phúc còn cầu gì hơn ?!


               An bày hiện hữu vuông tròn,
               An cư lạc nghiệp không còn bôn ba.
               Đoàn viên sum họp một nhà,
               Hấp Hôn VIỆT MỸ ông bà đều vui.


         Tào khang nghĩa nặng ai ơi !
         Răng long đầu bạc chẳng rời xa nhau.
         Nội ngoại con cháu lao xao,
         Vui nầy còn có vui nào vui hơn ?!



                 Bền lòng một dạ sắt son,
                 Thong dong đi hết đường trần chông gai.
                 Phu thê đã biết bao ngày,
                 Ngàn năm gắn bó, THƯƠNG HOÀI NGÀN NĂM !!!


                                                                  Đỗ Chiêu Đức 

dcd_weddingAnni_2.jpg

 

  Xin chúc mừng 43 năm ngày cưới của anh chị Đỗ Chiêu Đức- Lương Tố Quyên bằng hai câu thơ tiếp vần với hai câu trong bài Thương Hoài Ngàn Năm:

Một nửa đây rồi một nửa ơi!

Bốn mươi năm lẻ mấy xa vời? " ( ĐCĐ )

 

Thêm ngàn năm tới luôn kề cận

Gắn bó yêu thương mãi chẳng rời. (PH )

 

Dù cho vật đổi sao dời,

Đôi ta kiếp kiếp đời đời bên nhau (QĐ)

 

Bốn ba năm trãi ngọt ngào

Hôn nhân, đằm thắm biết bao ân tình (MXT)

 

Dẫu đã biết ba sinh hương lửa

nhưng nào ai chọn lựa cơ trời

Bốn ba năm nặng nợ rồi

thì xin giữ lấy trọn đời bên nhau (TBT) 

 

Hương ba sinh biết bao thử thách,

 Nghĩa tào khang son sắt sáng ngời.

 Em là một nửa của tôi,

 Bốn mươi năm lẻ tuyệt vời tình ta. (ML) 

 

    Mái ấm gia đình chung cảnh ngộ

    Vượt qua bao gian khổ mới an

    Thương chồng chia xẻ với chàng

     Bách niên giai lão tào khang mặn nồng (MXT)

 

Đời đẹp mảng sương pha màu tóc

Lòng thủy chung hái lộc ân tình

Thời gian ấp bóng ôm hình

Nàng ơi thương gọi là mình với ta. (Mai Thắng)

 

Duyên nợ ba sinh tròn đạo nghĩa

Bốn ba năm hương lửa bền lâu

Xin gìn giữ lấy bên nhau

Răng long tóc bạc nghìn sau vững vàng.(Song Quang)

             

Sách Tăng Quảng ngày xưa có dạy,

Vợ chồng là kim cải nhân duyên :

" Bách thế tu lai đồng thuyền độ,

  Thiên thế tu lai cộng chẩm miên." ( Đỗ Chiêu Đức )

 

GHI CHÚ :

           百 世 修 來 同 船 渡,   Bách thế tu lai đồng thuyền độ,

           千 世 修 來 共 枕 眠.   Thiên thế tu lai cộng chẩm miên.   
   
 Chú Thích :   
         THẾ : là Đời, Kiếp. BÁCH THẾ : là Trăm đời, Trăm kiếp. THIÊN THẾ : là Ngàn đời, ngàn kiếp. VẠN THẾ : là Muôn đời, Muôn kiếp. Khổng Tử được xưng tụng là " VẠN THẾ SƯ BIỂU " : là Người Thầy tiêu biểu của Muôn đời.
         ĐỘ : có 3 chấm thủy, nên có nghĩa là : Đi ngang qua Sông Hồ Ao Biển. Đồng Thuyền Độ : là  Cùng đi chung một thuyền.  
         CHẨM : là Cái Gối để nằm. Cộng Chẩm Miên : là Cùng nằm chung Gối để ngủ.


NGHĨA 2 CÂU trên :    
      
         Cùng tu với nhau một trăm kiếp, mới có cái duyên được đi chung thuyền với nhau. ( đồng hội đồng thuyền ). Cùng tu với nhau một ngàn kiếp mới ngủ chung gối với nhau được ! 

   
         Dù nói cách nào, cũng cho thấy là phải khó khăn vất vả lắm mới thành vợ thành chồng với nhau được, và quan hệ vợ chồng là cái gì đó thiêng liêng cao cả lắm, được gởi gắm vào 2 chữ Nhân Duyên do nơi tiền định, thiên định, chớ không phải sức người mà làm nên được. Nên ta phải biết trân trọng tình nghĩa vợ chồng , không thể động một chút là ly thân, ly dị.... mà phải biết gắn bó nhau để xây dựng hạnh phúc gia đình. Quan hệ vợ chồng là một trong ba cái giềng mối của xã hội phong kiến ngày xưa : Quân Thần, Phụ Tử, Phu Phụ. Nên không thể xem thường được, cho dù trong xã hội ngày nay, đơn vị Gia Đình vẫn là nền tảng chủ yếu của bất cứ xã hội hay quốc gia nào, mà  trong Gia Đình thì không thể vắng bóng cặp đôi nồng cốt là Vợ Chồng cho được.

 

tl_2birds.jpg

 

CHÚC MỪNG! CHÚC MỪNG                        

Đức Khổng Tử Nói Về Mình

 

.

            Mùng 5 tháng 8 Âm lịch là ngày sanh của Đức Khổng Phu Tử. Năm nay nhằm ngày Thứ Năm  17 tháng 9 Dương lịch. Cuộc đời của ông Thánh nầy cũng lắm gian truân chìm nổi cũng như  cuộc đời của bao người khác, Ông mất lúc 73 tuổi, là tuổi thượng thọ lúc bấy giờ, và để lại một câu nói bất hủ thu tóm toàn bộ cuộc đời của ông như sau...

      《論語 · 為政第二》講要.
       ◎子曰:吾,十有五,而志于學,三十而立,四十而不惑,五十而知天命,六十而耳順,七十而從心所欲,不踰矩。

      [Luận Ngữ. Vi Chính đệ nhị] Giảng Yếu.

   Tử viết: Ngô, thập hữu ngũ, nhi chí vu học, tam thập nhi lập, tứ thập nhi bất hoặc, ngũ thập nhi tri thiên mệnh, lục thập nhi nhĩ thuận, thất thập nhi tòng tâm sở dục, bất du củ.

DCD_KhongTu.jpg 

 

Chú thích:

      * Tử Viết: là Khổng Tử Nói rằng.
      * Ngô: là Đại Danh từ Ngôi thứ Nhất: Tôi, Ta, Tao...
       *Nhi: là Thì, Là (Verbe Auxilière).
       *Vu: là Về.. cái gì đó. Ở... việc gì đó.
       *Lập: là Lập Thân, là Đứng vững được trong cuộc sống, là Thành Tài rồi. Có sự nghiệp, có công ăn việc làm rồi.
       *Bất Hoặc: là Không còn Nghi Hoặc, Ngờ Vực gì nữa. Chỉ Kiến thức đã chín chắn, ổn định.
       *Tri Thiên Mệnh: là biết được cái Mệnh Trời, An phận theo cái mình đã có, theo khả năng của mình , mà không đòi hỏi, so bì, bon chen nữa!.
       *Nhĩ Thuận: là Lỗ Tai Xuôi, có nghĩa là đã biết phân biệt một cách rõ ràng, nghe điều gì đó là biết ngay điều đó tốt hay xấu, thiện hay ác, đúng hay sai....
       *Tòng Tâm Sở Dục: Tòng tâm là Theo Lòng Mình. Sở dục là Cái mà Mình Muốn. Tòng Tâm Sở Dục là Làm những cái mà lòng mình muốn làm, có nghĩa Muốn gì thì cứ làm nấy!
       *Bất Du Củ: Du 踰 có bộ Túc là Cái Chân ở bên Trái, nên Du có nghĩa là Trèo qua. Trong Truyện Kiều giảng tích "Tường đông ong bướm đi về mặc ai "bằng câu" Du đông lân nhi lâu kì xứ nữ", tức là "Trèo qua bức tường phía đông để ôm lấy cô gái bên đó.". Nhưng...
        ... trong câu nói trên Du có nghĩa là Vượt qua. Còn...
       *Củ 矩: là Cái Khuôn dùng để kẻ Hình Vuông, là Cái Ê-Ke. Nghĩa bóng là Cái Khuôn Phép. Nên...
       Bất du củ là: Không vượt qua cái khuôn phép đúng đắn bình thường trong cuộc sống. Sẵn nhắc lại chữ...
       *Quy 規: là Dụng cụ dùng để kẻ đường tròn, là Cái Com-pa đó. Nên...
       Không có Quy thì Kẻ không Tròn, không có Củ thì Vẽ không Vuông. Nên Quy củ là cái khuôn phép mà ta phải tuân theo. Nội quy là những điều khoản Quy định của một Tổ chức, Cơ quan... nào đó mà tất cả thành viên trong đó phải tuân hành. Nên câu nói của Đức Khổng Tử...

     Có thể hiểu nghĩa một cách đơn giản như thế nầy:

      Khổng Tử nói rằng: Ta, lúc 15 tuổi, thì chí ở học hành, 30 tuổi thì đã lập thân được, 40 tuổi thì không còn nghi hoặc điều gì nữa, 50 tuổi thì biết đến mạng trời, 60 tuổi thì nghe đã biết điều phải trái, 70 thì có thể làm theo những gì mà trong lòng mình muốn, vì nó không có đi quá lố ngoài khuôn phép nữa .

      Đây là câu nói của Đức Khổng Tử nói về bản thân Ngài, nhưng thường được người đời đem ví với bản thân mình, thậm chí đem... áp dụng chung cho tất cả mọi người, cho nên ta thường nghe nói...

... Ba chục tuổi là tuổi Lập Thân, Năm chục tuổi là tuổi Tri Thiên Mệnh... thậm chí nói Tam Thập Nhi Lập là... Đàn Ông con trai tới tuổi ba mươi là phải lấy vợ, phải lập gia đình, thì mới lập thân được, nhưng vì điều nầy cũng hợp lí và thực tế , cho nên mọi người đều noi theo. Tôi còn nhớ một câu Nho mà Ba tôi thường nói khi... ép tôi cưới vợ là:

                      Nam đại bất hôn như liệt mã vô cương.  男大不婚如烈馬無韁

    Có nghĩa:

       Con trai lớn mà không kết hôn thì giống như con ngựa chứng (Liệt mã là con ngựa xấu, ngựa chứng!) mà không có dây cương vậy (sẽ phóng càn, phóng ẩu, phóng... túng, vì không có ai kềm chế, cưới cho con vợ để có người "cằn nhằn" và xì-tóp bớt lại, thì mới Trụ và mới làm nên sự nghiệp được!). Nên ông bà ta cứ nghĩ...

       Tam thập nhi lập là 30 tuổi thì phải Lập Gia Đình, không lập gia đình thì... Nó sẽ nổi máu "giang hồ" rồi không làm nên cơm cháo gì cả!.  Còn

     Ngũ Thập Tri Thiên Mệnh, là đến tuổi 50 nên an phận mà không còn muốn bon chen nữa, vì số trời đã định như thế rồi ! Sự thật thì ở Mỹ hiện nay, tuổi 50 là tuổi đã chín chắn về mọi mặt, kiến thức đã phong phú, kinh nghiệm sống dồi dào, nghề nghiệp đã vững chắc ổn định, tiềm năng về kinh tế cũng đã có cơ sở, credit đầy đủ... chính là cái tuổi phát triển sự nghiệp tốt nhất của con người.... chớ không phải Tri Thiên Mệnh mà buông xuôi tất cả!!!. Khổng Tử chỉ muốn nói về mình, khi đến 50 tuổi thì biết được mệnh trời, tức là biết được cái hoàn cảnh xã hội chung quanh mình đang sống, biết được cái khả năng và cái tài năng của mình như thế nào, để không đòi hỏi đua đòi những điều quá đáng mà phải biết an phận với cái mà mình đang có trước mắt hợp với sở năng của mình, chớ không phải mê tín buông xuôi cho số phận!. Về...

          Tứ thập nhi bất hoặc: 40 tuổi thì không còn Nghi hoặc gì nữa, Ý nói, tuổi 40 thì sự hiểu biết đã Chính chắn, gặp chuyện gì đó đã biết và dám đưa ra quyết định theo nhận thức của mình, chớ không còn Nghi hoặc chần chừ không biết phải quyết định như thế nào của tuổi 30 nữa! Bất hoặc là thế!

           Lục thập nhi nhĩ thuận là: 60 tuổi thì tai đã xuôi, đã thông. Có nghĩa: Khi nghe điều gì đó thì đã biết ngay là điều đó đúng hay sai, phải hay không phải, nên hay không nên nghe theo, cũng có nghĩa là sự nhận xét phán đoán đã nhuần nhuyễn. Trái với Nhĩ thuận là Nhĩ nghịch là Trái Tai Gai Mắt!

           Thất thập nhi tòng tâm sở dục, Bất du củ là: 70 tuổi thì có thể làm theo những điều gì mà mình đã nghĩ đã muốn làm, vì những điều đó không có vượt quá qua khuôn phép đâu! Ý muốn nói, trong phép tu thân thì đến tuổi 70 đã hoàn hảo lắm rồi, có thể làm theo những gì mình muốn mà không sợ quá đáng! Đây là câu nói hướng thiện, luôn luôn theo hướng phấn đấu tốt mà vươn lên, chớ không phải câu nói Tự hào là mình đã Hoàn thiện không còn sai sót nữa!  Và cũng không có nghĩa là hễ đến 70 tuổi là làm việc gì cũng đúng cả như người đời thường lầm tưởng!

        Vì là câu nói của ông Thánh, cho nên người đời hay lấy đó làm chuẩn mực để phân định tuổi tác của mọi người, mặc dù cái chuẩn mực đó đã bị lệch nghĩa so với Ý chính của câu nói ở lúc ban đầu, như...

       Tuổi 30 thì gọi là " Tuổi Nhi lập ", và hiểu là đã đến tuổi phải Lập Gia Đình, phải Thành Gia Lập Thất, phải Cưới Vợ, phải Ổn Định Sự Nghiệp...

       Tuổi 40 thì gọi là " Tuổi Bất hoặc ", và gọi thì gọi thế, nhưng rất nhiều người không hiểu Bất Hoặc là gì, chỉ nghe người ta gọi thì gọi theo mà thôi! Hoặc chỉ hiểu nghĩa lờ mờ, Bất Hoặc là không còn nghi hoặc gì nữa, mà không biết tại sao lại không còn nghi hoặc, và tại sao lại gọi thế ?!.

       Thông dụng nhất là tuổi 50, được gọi là " Tuổi Tri thiên mệnh ", và thường hay có tâm lí an phận và buông xuôi mà không muốn phấn đấu để vươn lên nữa! Và cũng thường dùng để tự an ủi khi thất bại hoặc trắc trở về mặt sự nghiệp trong độ tuổi nầy!.

       Sáu mươi tuổi thì gọi là " Tuổi Nhĩ Thuận ", Nhĩ thuận là xuôi tai, nhưng lại nghe rất lạ tai, mà không hiểu tại sao gọi thế, cũng như...

      Tuổi 70, thì gọi là " Tuổi Tòng tâm sở dục, Bất du củ! " Rất nhiều người không hiểu câu nói nầy có nghĩa gì cả! Khác với dân gian hay gọi 70 tuổi là tuổi Cổ lai hy, theo Ý của 2 câu thơ trong bài Khúc Giang của Thi Thánh Đỗ Phủ đời Đường là:

                      Tửu trái tầm thường hành xứ hữu,   酒債尋常行處有,
                      Nhân sanh thất thập Cổ lai hy.         人生七十古來稀.

   .... nghe thi vị và hay hơn nhiều!

       Nhưng...

        Vì là câu nói của ông Thánh Khổng nên mọi người đều muốn nhái theo xem có được như... Thánh hay không? Âu cũng là việc tốt mà thôi!

       Theo tài liệu thống kê dân số đời Đường, thì tuổi thọ của con người ta lúc bấy giờ chỉ trên dưới 45 tuổi mà thôi, nên mới bảo là "Thất thập Cổ Lai Hy", chớ bây giờ, nhất là ở nước Mỹ nầy thì 70 tuổi hễ ra đường là thấy liền ngay mấy cụ...

        Càng ngày tuổi thọ con người càng cao, nên ngày Lễ Ông bà càng cần thiết và càng có Ý nghĩa hơn lên!

 Đỗ Chiêu Đức

 

TỪ đời Minh :

 

                       LÂM GIANG TIÊN

                                                            DƯƠNG THẬN

 

         DƯƠNG THẬN 楊慎 ( 1488-1559 Tương đương thời kỳ Văn Hoá Phục Hưng của Phương Tây ). Ông là Văn Học gia đời Minh, tự là Dụng Tu 用修, hiệu là Thăng Am 升庵. Người đất Thành Đô. Đậu Tiến Sĩ hạng nhất năm Chánh Đức thứ 6 đời Minh Võ Tông. Ông là người đất Thục ( tỉnh Tứ Xuyên ) duy nhất đậu Trạng Nguyên dưới triều nhà Minh. Dương Thận tính tình cương trực, gặp việc thì nói thẳng, nên vào đời Minh Thế Tông năm Gia Tĩnh thứ 3 bị biếm đến Vân Nam và mất ở nơi nầy sau hơn ba mươi năm đi đày. Đến năm Thiên Khải đời Minh Hi Tông ( 1621-1627 ) mới được truy phong " Văn Hiến ". Trứ tác của ông còn để lại trong " Thăng Am Tập ".

       Dương Thận là người học rộng biết nhiều, Minh Sử ghi ông là người trứ tác phong phú. Trong " Nhị Thập Nhất Sử Đàn Từ " kể lại lịch sử từ đời Tam Đại cho đến đời Nguyên và cuối đời Minh, văn phong lưu loát, được truyền tụng rộng rãi trong dân gian.

       LÂM GIANG TIÊN là bài từ của ông viết để mở đầu khai quyển cho TAM QUỐC DIỄN NGHĨA của La Quán Trung đã làm tăng thêm sức thu hút của quyển truyện nầy.

       LÂM GIANG TIÊN 臨江仙 là " Tiên trên bến sông ", là TÊN của một THỂ LOẠI " Từ " chuyên tả Thủy Tiên mà thành tên. Với nhịp đôi gồm 58 hoặc 60 chữ, đều gieo thành vần Bằng.

        Bài " Lâm Giang Tiên " của Dương Thận viết để đề từ cho quyển Tam Quốc Chí rất nổi tiếng, gồm có 60 chữ và được gieo vần Bằng như sau :

 

    臨江仙.                           LÂM GIANG TIÊN

              楊慎                                     Dương Thận

 

滾滾長江東逝水,   Cổn cổn Trường Giang đông thệ thủy, 
浪花淘盡英雄。      Lãng hoa đào tận anh hùng.
是非成敗轉頭空。   Thị phi thành bại chuyển đầu không. 
青山依舊在,         Thanh sơn y cựu tại,

幾度夕陽紅。         Kỷ độ tịch dương hồng. 
白髮漁樵江渚上,   Bạch phát ngư tiều giang chử thượng, 
慣看秋月春風。      Quán khan thu nguyệt xuân phong. 
一壺濁酒喜相逢。   Nhất hồ trọc tửu hỉ tương phùng.
古今多少事,         Cổ kim đa thiểu sự,

都付笑談中.           Đô phó tiếu đàm trung !

 

CHÚ THÍCH :

   1. ĐÔNG THỆ THỦY : THỆ là Mất, là Chết. THỆ THẾ 逝世 là Từ trần. Nên Đông Thệ Thủy 東逝水 là Nước chảy mất hút về hướng đông không trở lại.

   2. ĐÀO TẬN : là Đào thãi hết, đào thãi sạch sẽ không chừa ai cả.

   3. CHUYỂN ĐẦU : là Quay đầu nhìn lại, chỉ thời gian rất nhanh.

   4. BẠCH PHÁT : Tóc trắng, chỉ người gìa.

   5. NGƯ TIỀU : là Ngư Ông và Tiều Phu, nhưng ở đây là Động Từ, có nghĩa là : Bắt cá và đốn củi.

   6. CHỬ : là Bãi nước, là Bến nước , là Cồn ở giữa sông.

   7. QUÁN KHAN : đã quen nhìn, đã thường thấy.

   8. THU NGUYỆT XUÂN PHONG : chỉ Thời gian lần lựa, hết thu nguyệt thì tới xuân phong và ngược lại.

   9. TRỌC TỬU : không phải là rượu dơ, mà là rượu thường của giới bình dân uống thường ngày, chưa được tinh chế chắc lọc.

  10. PHÓ : là Phó mặc, là mặc cho.

 

NGHĨA BÀI TỪ :

      

         Sông Trường Giang sóng xô nước cuốn cuồn cuộn chảy về biển đông rồi không bao giờ còn trở lại nữa; cũng như biết bao anh hùng hào kiệt đều như hoa sóng kia tan biến biệt tăm và chịu đào thải theo dòng lịch sử. Bất luận là thị hay phi, là đúng hay sai, là thành hay bại, trong chớp mắt quay  đầu nhìn lại thì đã không còn gì nữa. Chỉ có núi xanh vẫn như cũ đứng trơ gan cùng tuế nguyệt và nắng chiều vẫn biết bao lần hồng lên rồi chợt tắt. Những ông lão đốn củi và đánh bắt cá trên bến nước, họ đã quen rồi với thu nguyệt rồi lại xuân phong, thời gian cứ thế trôi đi. Nên khi gặp nhau thì cứ cùng vui với nhau bên chung rượu lạt. Biết bao nhiêu là chuyện lớn chuyện nhỏ trên đời nầy từ xưa đến nay, chẳng qua cũng chỉ là những chuyện nói cười trong lúc nhậu, là chuyện phiếm chuyện gẫu khi trà dư tửu hậu của người đời mà thôi !

      Thật là cảm khái ! Tam Quốc Chí chẳng những viết lại lịch sử, mà còn viết lại những cuộc đời anh hùng, sự chìm nổi hưng suy của anh hùng, cái khí thế và khí phách của anh hùng, cái thành công và thất bại của anh hùng, cuối cùng đều phải chịu chung sự đào thải vô tình của thời gian và lịch sử. Lịch sử đã sang trang, thời gian đà biền biệt, rốt cuộc họ còn được gì ? Chẳng qua chỉ là những câu chuyện khề khà với nhau khi trà dư tửu hậu của hậu thế mà thôi ! Tất cả đều qui về một chữ KHÔNG to lớn !. 

      Bài Từ rất thực tế và sát sao với cuộc sống, nên có những từ Hán Việt cũng rất sát sao với cuộc sống thực tế, không cần phải diễn Nôm mà ai cũng đã hiểu nghĩa cả rồi. Như : Thị Phi Thành Bại, Thu Nguyệt Xuân Phong ...

 

DIỄN NÔM :

                     LÂM GIANG TIÊN

 

         Trường giang cuồn cuộn nước về đông,

         Sóng xô đào thải hết anh hùng.

         Thị phi thành bại quay đầu : hết !

         Núi xanh vẫn còn đó,

         Bao lượt nắng chiều hồng.

         Ngư tiều đầu bạc trên sông nước,

         Đã quen rồi thu nguyệt với xuân phong,

         Một bầu rượu lạt thắm tình nồng,

         Xưa nay bao thế sự,

         Cười nói cũng như không !

 

Lục bát :

             Trường Giang cuồn cuộn về đông,

         Anh hùng như sóng theo dòng trôi xuôi.

             Thị phi thành bại trên đời,

         Quay đầu là hết núi đồi còn đây.

             Núi xanh sừng sửng tháng ngày,

         Hoàng hôn mấy lượt thêm dài hoàng hôn.

             Ngư tiều đầu bạc ven thôn,

         Trên dòng sông nước vùi chôn tháng ngày.

             Một bầu rượu lạt ngà say,

         Cổ kim thế sự nào ai có lòng ?

             Nói cười nhấp rượu như không !

 

                                                 Đỗ Chiêu Đức.

MAI XUÂN THANH:

Tiên Trên Bến Sông

Trường Giang sóng dữ cuộn xuôi đông,

Chiến sĩ anh hùng thác mạng vong.

Thành bại thị phi ai có biết,

Non xanh nước biếc nắng chiều hồng.

 

 

Tiều phu đốn củi nay đầu bạc,

Bắt cá ngư ông tóc trắng bông

Mấy độ xuân phong thu tuế nguyệt,

Bạn già cạn chén rượu ngon nồng.



Hàn huyên thế sự ngoài tai bỏ,

Say khướt cười khà rốt cuộc không !

Tam quốc ngày xưa nhiều dũng tướng,

Khổng Minh, Mã Ý thuộc nằm lòng...



                                                Mai Xuân Thanh

 

 

Phiếm: 

NƯỚC LÀ THỦY

dcd_nuoc.jpg 

 

                  Nước là chất lỏng có ký hiệu là H₂O, từ Hán Việt là Thủy 水, thuộc dạng chữ Tượng Hình trong CHỮ NHO ... DỄ HỌC, được hình thành theo diễn tiến của chữ viết như sau :

 

       Giáp Cốt Văn  Kim Văn   Đại Triện     Tiểu Triện    Lệ Thư

 dcd_5words.jpg


 Ta thấy:

       Từ Giáp Cốt Văn cho đến Đại Tiểu Triện đều là hình tượng của một dòng nước, 4 chấm 2 bên là tượng trưng cho dòng nước đang chảy. cho nên, có nước là có dòng nước chảy, như suối, khe, sông, biển ... và nơi nào có suối, khe, sông, biển là nơi đó có nguồn sống, có dân cư. Cái quần thể dân cư nầy sinh sống phát triển là nhờ dựa vào nguồn nước. Cho nên ông bà ta có câu " Uống nước phải nhớ nguồn ", và có phải vì thế mà dân ta gọi một Quốc Gia là Một Nước ? Không có nước sẽ không có người sinh sống và cũng sẽ không có quốc gia nào hình thành được cả !

       Nước mất thì nhà tan, quốc phá thì gia vong ! Không có nước sẽ không có nhà, mà không có Nhà thì cũng không thành ... Nước ! Cho nên, ta lại có từ Nhà Nước để chỉ Chính Quyền của một Quốc Gia.

 

       Nước là thủy, thủy là nước. Bên dòng nước là bên dòng sông, nên thủy cũng là sông, như Hương Giang còn gọi là dòng Hương Thủy; tương tự, Tương Giang cũng gọi là Tương Thủy như trong bài thơ " Tảo hàn giang thượng hữu hoài " của Mạnh Hạo Nhiên đời Đường :

                 我家襄水曲,    Ngã gia Tương Thủy khúc,

                 遥隔楚云端.    Dao cách Sở vân đoan.

Có nghĩa :

                   Sông Tương quê cũ vời trông,
              Ngẩn ngơ mây Sở cách ngăn mấy lần.
 

 

      H₂O là phân tử nước do 2 nguyên tử Hidro và 1 nguyên tử oxy kết hợp mà thành, đó là theo công thức Hóa học. Còn theo Âm Dương Ngũ Hành của Kinh Dịch thì Kim sanh Thủy. Nước là do ... vàng sinh ra, và theo một câu trong sách Thiên Tự Văn 千字文 là KIM SANH LỆ THỦY 金生麗水. Có nghĩa:  Khi vàng bị nung chảy thì trở thành một chất lỏng lắp lánh đẹp đẽ. Nhưng căn cứ vào thực tế thì không phải như thế, vì chất lỏng lóng lánh của vàng sẽ rất nhanh đong cứng lại thành chất rắn của kim loại. Nên ...

      KIM SANH LỆ THỦY ở đây là chỉ dòng sông Kim Sa Giang ở tỉnh Vân Nam thuộc nước Sở thời Chiến Quốc. Vì có rất nhiều cát vàng ở trong lòng sông, nên nước sông lắp lánh rất đẹp, vì thế mà dân chúng mới gọi Kim Sa Giang là LỆ GIANG 麗江 hay là dòng LỆ THỦY 麗水, là dòng nước đẹp ! Đẹp vì cái Thần của con sông là vàng là Kim, nên chi vị Thủ Tướng đầu tiên của nước Việt Nam ta là cụ Trần Trọng KIM mới lấy hiệu là LỆ THẦN, là cái THẦN của dòng sông LỆ, chính là KIM đó vậy !

             DCD_ThTTrTrKim.jpg   

            Nội các của Thủ Tướng Lệ Thần Trần Trọng Kim

      Trong mùa xuân thì nước gọi là Xuân Thủy. Từ những băng tuyết trên nguồn tuôn chảy thành những khe suối trong veo vào mùa xuân, rồi chảy thành những dòng sông len lỏi qua thôn xóm mang lại nguồn sống cho dân cư, như trong thơ của Đổ Phủ :

                  一徑野花落,   Nhất kính dã hoa lạc,

                  孤村春水生.     Cô thôn xuân thủy sinh.

Có nghĩa :

                      Bên đường hoa dại rụng đầy, 

               Nước xuân trong vắt đâu đây xóm nghèo.

      Nước xuân trong vắt như ánh mắt của các cô thôn nữ mộc mạc ngây thơ như lời thơ của Thôi Ngọc trong Đường Thi :

            两臉夭桃從镜發,  Lưỡng kiểm yêu đào tòng kính phát,

            一眸春水照人寒。  Nhất mâu xuân thủy chiếu nhân hàn.

Có nghĩa :

                        Má đào ửng đỏ trong gương

                Một làn xuân thủy vấn vương lòng người.

      Xuân thủy là ánh mắt xuân của các cô gái ngây thơ trong trắng, khác với thu thủy là ánh mắt gợn buồn đa sầu đa cảm của các giai nhân tài hoa bạc mệnh như Thúy Kiều :

                        Làn Thu Thủy, nét xuân sơn,

                Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh !

     Thu Thủy là nước mùa thu, trong veo, lạnh lùng mà se sắt dễ làm rung động và cũng dễ làm tê tái lòng người.

 

     Theo Âm Dương Ngũ Hành, thủy thuộc cung Hợi và Tý, có màu đen và nằm ở phương bắc. Bắc phương Nhâm Qúy Thủy mà ! Nên, ở Bắc bán cầu nầy, thường các dòng sông đều phát nguyên từ vùng Tây Bắc và chảy về hướng Đông Nam mà đổ ra biển theo như một câu nói xưa :

                 世間無水不朝東.    Thế gian vô thủy bất triều đông.

Có nghĩa :

        Trên đời nầy không có dòng nước nào mà không chảy về hướng Đông cả !

      Hãy nghe Lý Bạch mở đầu bài Tương Tiến Tửu bằng câu :

             君不見  

                        黃河之水天上來,奔流到海不復回? 

      Quân bất kiến

                 Hoàng hà chi thủy thiên thượng lai bôn lưu đáo hải

                                     bất phục hồi ?

Có nghĩa :

     Bộ bạn không thấy sao, nước sông Hoàng Hà như từ trên trời đổ xuống, chảy cuồn cuộn về biển rồi không quay trở lại nữa ?  

          Nước chảy cuồn cuộn mất hút vào biển đông, cũng như thời gian cứ vùn vụt mất hút về qúa khứ, cho nên ông viết tiếp :

               人生得意須盡歡, Nhân sinh đắc ý tu tận hoan,

               莫使金樽空對月。 Mạc sử kim tôn không đối nguyệt !

Có nghĩa :

                   Đời người đắc ý nên vui thích,

                   Chớ để chai vàng hết dưới trăng !

      Có dịp vui chơi đắc ý thì hãy vui cho đến cùng, đừng để cho cụt hứng nửa chừng mà hết rượu dưới ánh trăng còn đang vằng vặc !

 

      Khác với Tản Đà trong " Thề Non Nước " vì không phải " Nước đi đi mãi không về cùng non ", mà ...

                    Nước đi ra bể lại mưa về nguồn,

      để cho ...
                    Nước non hội ngộ luôn luôn.

      và ...

                    Nghìn năm giao ước kết đôi 
             Non non nước nước không nguôi lời thề !

      " Thề Non Nước " là Hải thệ sơn minh, là " Thề non hẹn biển ". Biển và Non cũng là thế thân của Non và Nước. Nhưng Non và Nước sống động hơn, khắng khít hơn với cái vòng tròn hóa thân của nước, nước chảy ra bể bốc hơi rồi lại mưa về nguồn với non xanh đang mõi mòn chờ đợi !   

           

DCD_TanDa.jpg

 Nước là nguồn tươi mát mang lại sức sống cho con người và vạn vật. Không có nước con người sẽ khô cằn, cỏ cây sẽ héo úa. Nước đem sinh khí đến cho muôn loài. Nên trong ca dao dân gian của ta mới ví :

                       Công cha như núi Thái Sơn,

                Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra !

       Nước trong nguồn chảy ra thì không bao giờ cạn kiệt, cũng như tình mẹ bao la không bờ không bến vậy. Sự mát mẻ của nước còn được ví như trong đêm thanh vắng, êm ả dịu dàng như câu thơ của Đỗ Mục trong bài Thu Tịch :

            Thiên giai dạ sắc lương như thủy    天街夜色涼如水

Có nghĩa :

        Đường phố trong Kinh thành lúc về đêm cũng mát mẻ như nước vậy.

        Trong đêm thanh vắng, nước là những giọt sương khuya mờ ảo mát lạnh mà nên thơ, làm cho lòng người lâng lâng như 2 câu thơ toàn là thanh bằng trong bài Nhị Hồ của Xuân Diệu :

 

                 Sương ngưng theo trăng ngừng lưng trời,

                 Tương tư nâng lòng lên chơi vơi !...

 

       Nước được ví như những tình cảm nhe nhàng, tình yêu nồng thắm làm mát dịu tâm hồn với thành ngữ NHU TÌNH TỰ THỦY 柔情似水 êm ái mát mẻ như nước hồ thu làm say đắm lòng người, nhẹ nhàng trôi chảy như những dòng sông dài êm đềm về tận chốn xa xăm :

                         Sông dài cá lội biệt tăm,

              Phải duyên phu phụ ngàn năm em cũng chờ ...

 

      Nhưng lắm khi ...

            Lạc hoa hữu ý mà lưu thủy lại vô tình, làm cho lỡ vỡ mộng ngày xanh, lỡ làng duyên cá nước ! Như lời than thở của cô gái xóm đông :

                  Cây da tróc gốc, thợ mộc đang cưa,

                  Đôi đứa ta ra đi cũng xứng mà ...

                  Đứng lại cũng vừa.

                  Tại cha với mẹ còn kén lừa suôi gia !

        " Kén lừa suôi gia " nên để lỡ làng " duyên cá nước !"

 

       Nhắc đến duyên cá nước lại nhớ đến câu NHƯ NGƯ ĐẮC THỦY 如魚得水 với tích của Lưu Bị trong Thục Thư thời Tam Quốc :

       Lúc bấy giờ, Lưu Bị đang nương nhờ vào Lưu Biểu ở Kinh Châu, đóng quân ở Tân Dã để cầm cự với quân Tào Tháo. Nhờ sự tiến cử của Từ Thứ và lòng thành của Lưu Bị phải Tam cố thảo lư 三顧草廬 ( 3 ln đến cu cnh gian nhà c nơi Nga Long Tiên Sinh ở ) mới gặp được mặt Khổng Minh Gia Cát Lượng, bất chấp sự phản  đối quyết liệt của Quan Vũ và Trương Phi. Lưu Bị nói rằng : " Cô chi hữu Khổng Minh, do ngư chi hữu thủy dã 孤之有孔明,猶鱼之有水也 ". Có nghĩa : " Ta mà có được Khổng Minh, thì như là cá mà gặp được nước vậy !". Khiến cho Quan Trương 2 người đành im hơi, không dám phản đối nữa !

 

                  dcd_tamcothaolu.jpg
                                      Tam cố thảo lư
 

       Còn " Cá Nước " bây giờ thường được dùng để chỉ về duyên đôi lứa, tình yêu trai gái khi gặp được đối tượng xứng ý vừa lòng :

                       Đôi ta như lúa đòng đòng,

                 Như cá gặp nước thỏa lòng mẹ cha. 

     hoặc ...

                       Tình anh như nước lên cao,

                   Tình em như cá lội vào nước anh ...    

 

      Nước là Thủy, đi với Sơn thì thành SƠN THỦY 山水, mà Sơn Thủy là ... Phong cảnh. Nhớ hồi nhỏ đến rạp hát xem các họa sĩ vườn vẽ phong cho gánh hát, bà con cứ nói là : " Đi coi cái thằng cha đó vẽ SƠN THỦY !". Thực tế thì phong cảnh cũng phải có sơn có thủy có núi có nước thì mới đẹp, và ít nhất thì cũng phải có nước, phải có những dòng sông con rạch với những ngọn dừa lả bóng như đồng bằng sông Cửu Long thì mới là cảnh đẹp được ! Trong văn chương cổ điển thì ca ngợi  cảnh đẹp bằng Sơn Minh Thủy Tú 山明水秀, Thanh Sơn Lục Thủy 青山綠水, là non xanh nước biếc như trong ca dao của ta :

 

                   Đường vô xứ Nghệ quanh quanh,

                Non xanh nước biếc như tranh họa đồ.  

                         Ai vô xứ Nghệ thì vô !   

 

      Khi Dương Qúy Phi bị bức tử ở Mã Ngôi Pha rồi, Đường Minh Hoàng chỉ còn lại một mình chạy vào đất Thục, mà lòng vẫn không nguôi thương nhớ đến Dương Phi. Bạch Cư Dị đã viết trong Trường Hận Ca là :

             Thục giang thủy bích Thục sơn thanh,  蜀江水碧蜀山青,

             Thánh chúa triêu triêu mộ mộ tình !    聖主朝朝暮暮情。

Có nghĩa :

                  Sông Thục kia nước xanh biêng biếc,

                  Núi Thục kia biêng biếc non xanh.

                  Ngày sầu đêm thức năm canh,

                  Não lòng thánh chúa tình thành chiêm bao !

 

      Nước ướt át là thế, tình tứ là thế, dịu dàng là thế. Thế nhưng, khi gặp phải phong ba bão tố thì nước lại trở nên cuồng nộ hung hăng, nhấn chìm tất cả xuống lòng sông, lòng biển, lòng đại dương một cách vô tình không thương xót.

       Người con gái chết đuối đầu tiên thời thượng cổ là con gái của Viêm Đế : Nữ Oa ( Trung Hoa cổ xưa gọi các cô gái chưa chồng là  Nữ Oa, như ta gọi các cô gái con của vua Hùng là Mỵ Nương vậy ). Trong một lần đi chơi ở biển đông, Nữ Oa đã bị chết bởi một trận ba đào cuồng nộ. Ức lòng vì chết trẻ, hồn Nữ Oa đã hóa thành con chim Tinh Vệ, hàng ngày tha sỏi đá cỏ cây để lắp bằng biển đông cho hả giận.

        Trong Truyện Kiều lúc lập đàn tế  Thúy Kiều trên sông Tiền Đường, cụ Nguyễn Du cũng đã mượn tích nầy để tả nổi oan khiên của cô Kiều :

                      Tình thâm bể thảm lạ điều,

                Nào hồn Tinh Vệ biết theo chốn nào ?

      Trong truyện Sãi Vãi, khi bàn về chữ MUỐN, cụ Nguyễn Cư Trinh cũng cho ông Sãi nói rằng :

                  Đá Tinh Vệ muốn lắp sao cho cạn biển,

                  Đất nghỉ phù muốn đắp để nên non ...

 

                  dcd_datinhve.jpg  

                 Đá Tinh Vệ muốn lắp sao cho cạn biển,

      

       Không phải chỉ riêng chim Tinh Vệ, mà những người Việt Nam vượt biên tìm tự do sau 1975 cũng muốn lắp cho cạn biển Đông, cũng như những người Syria tị nạn hiện nay muốn lắp cho cạn Địa Trung Hải vậy. Nước đã nhấn chìm biết bao sinh linh, biết bao là hy vọng, biết bao niềm mơ ước để đến được bến bờ tự do, để đến được miền đất hứa, để xây dựng một cuộc sống mới trong hòa bình thịnh vượng. Hết ý thức hệ rồi lại đến chiến tranh khủng bố làm rối loạn, xáo trộn cuộc sống yên bình của cư dân địa cầu, và ... để cho nước lại có dịp dìm chết những dân thường vô tội, vì chẳng đặng đừng mới phải bỏ quê Cha đất Tổ, nơi chôn nhau cắt rốn để ra đi !         

       Hơn 2000 năm trước, Tuân Tử đã ghi lại lời nói giữa Khổng Tử và Lổ Ai Công là : Quân dã, chu dã; thứ nhân dã, thủy dã. Thủy tắc tải chu, thủy tắc phúc chu. 君者,舟也;庶人者,水也。则载舟,水则覆舟. Có nghĩa : " Vua là thuyền, dân là nước. Nước có thể chở thuyền thì nước cũng có thể lật thuyền ". Đó là 2 mặt của nước, khi bình thường trôi chảy thì nước có thể chở thuyền đi muôn ngàn dặm; còn lúc ba đào dậy sóng thì nước sẽ nhấn chìm thuyền trong chớp mắt mà thôi. Nếu biết lợi dụng cái ưu thế " Nước " của mình, thì tất cả những dân tị nạn sẽ không phải bỏ đi đâu cả, cứ nhấn chìm cái " Thuyền " mình đang chở là được ngay !

        Nhưng, thực tế cũng đâu phải dễ, vì muốn cho thuyền chìm thì nước cần phải có cuồng phong yễm trợ, không có gió to thì nước làm sao có thể dậy sóng để nhấn chìm thuyền cho được ! 

 

             dcd_nuocthuyen.jpg   

           Nước có thể chở thuyền, cũng có thể lật thuyền.
     

       Nước mang đến cái lợi mà cũng mang đến tai họa nữa. Cái lợi  do nước mang đến cho con người gọi là THỦY LỢI 水利. Trước tiên, nước là thức uống không thể thiếu trong đời sống hàng ngày. Ta có thể ba ngày không ăn chớ không thể 3 ngày không uống nước. Nước dùng để tưới tiêu, nước dùng để tắm gội, nước dùng để giặt giũ, nước dùng để nấu ăn ... Cái LỢI của nước thật to lớn vô cùng, nhưng người đời thường chỉ biết THỦY LỢI là dẫn thủy nhập điền, là đưa nước vào với ruộng đồng cho tiện việc tưới tiêu, tăng gia sản xuất mà thôi ... Thậm chí sau 1975, hễ nhắc đến từ THỦY LỢI là thanh niên ở thành thị đều xanh mặt, vì đi làm công tác Thủy Lợi là đi ... Đào Đất !

       Còn tai họa lớn nhất do nước đem đến là Lũ Lụt, là THỦY HỌA 水禍. Nước lụt cuốn trôi tất cả nhà cửa, đồ đạc, xe cộ, trâu bò, gia súc... Ruộng đồng tan hoang, vườn tược xơ xác, nhà cửa điêu tàn... như đồng bào miền Trung của ta hằng năm phải gánh chiụ :

                  Trời rằng, trời hành cơn lụt mỗi năm,

              Khiến đau thương thấm tràn ngập Thuận An... 

       Còn đồng bào Nam Kỳ Lục Tỉnh vùng An Giang Châu Đốc thì lạc quan hơn. Bà con gọi mùa lũ lụt hằng năm bằng " Mùa Nước Nổi ". Mùa nước nổi cũng là mùa len trâu ( đọc truyện của nhà văn Sơn Nam ) bà con xoay qua đánh bắt thủy sản, mọi người đều hối hả đua nhau đặt dớn, bơi xuồng giăng câu, thả lưới... ai cũng vui đón mùa nước nổi về để được thưởng thức các món ngon như : Lẩu cá linh, canh chua nấu bằng bông điên điển, cá lóc bọc lá sen nướng hay chuột đồng nướng trui là những món đặc sản ngon nổi tiếng của Đồng Tháp trong mùa nước nổi.

 

           dcd_batca.jpg

            Đặt dớn bắt cá    Đặt trúm bắt chuột, lươn.

 

       Cơn lụt lớn nhất của nhân loại là cơn Đại Hồng Thủy trong  Thánh Kinh Cơ  Đốc, nhưng cơn lụt để lại nhiều huyền thoại nhất là cơn Đại Hồng Thủy do sông Hoàng Hà gây nên, khiến Cổn phải bị tội vì suốt 9 năm mà không trị được thủy. Con ông Cổn là Hạ Vũ phải mất thêm mười ba năm đôn đốc toàn dân phá núi khai kinh dẫn nước từ cao xuống thấp, lại mở rộng thêm cửa song cho nước chảy ra biển, mới chấm dứt được cơn hồng thủy, nên cửa biển mới được gọi là Vũ Môn, nơi mà theo tương truyền cá chép nào vượt qua được sẽ hóa thành rồng (nên còn gọi là Long Môn) Nhưng không phải con cá nào cũng muốn hóa rồng cả. Ta hãy nghe cô gái Nam Bộ hát trên sông nước như sau :

                         Khá khen con cá hóa long,

                Hóa long không hóa, hóa lòng thương anh !

             ...qủa là tình nghĩa thắm thiết biết bao nhiêu !

 

       Trở lại chuyện Hạ Vũ trị thủy, trong qúa trình làm cái công việc của một Công Trình Sư thủy lợi, tương truyền ông đã sáng chế ra  Viên Quy 圓規 ( compasses ), Phương Củ 方矩 là Thước vuông góc ( Rectangular ) ta quen gọi là cái " Ê-Ke " ( Không có QUY thì vẽ không TRÒN, không có CỦ thì kẻ không VUÔNG. Nên QUY CỦ 規矩 là cái nguyên tắc phải tuân theo để làm việc, không có QUY CỦ 規矩 sẽ bị méo mó mà chẳng làm nên cơm cháo gì cả !) và ông cũng quy  định lại thước tấc để đo đạc và vẽ đường cho ... nước chảy ! Trong Tây Du Ký, Ngô Thứa Ân đã huyền thoại hóa cây thước nầy thành Cây  Định Hải Thần Châm của Đông Hải Long Vương để dằn dưới rốn biển cho biển  đừng dao động, bị Tề Thiên  Đại Thánh Tôn Hành Giả lấy làm binh khí và gọi nó là Như Ý Kim Cô Bổng mà ta quen gọi là cây Thiết Bản của Tề Thiên, chính là cây thước đo đạc dùng để trị thủy của Hạ Vũ ngày xưa đó. Vì trị thủy mang lại cuộc sống ổn định cho dân chúng, nên mọi người tôn xưng ông là ĐẠI VŨ 大禹 ( là ông VŨ vĩ ĐẠI : xin đừng nói lái ) và vua Thuấn nhường ngôi cho ông để lập nên nhà HẠ. Nhà Hạ truyền được 471 năm, qua 17 đời vua, đến vua Kiệt 桀 vì si mê Muội Hỉ, hoang dâm vô độ, dân tình khốn khổ, nên bị Thành Thang tiêu diệt, lập nên nhà Thương.

         Vua VŨ vì giúp dân trị thủy, thoát khỏi thãm họa do lũ lụt gây nên mà được nhường ngôi vua. Còn vua KIỆT 桀 vì ham mê nữ sắc mà mất ngôi vua. nên sử sách ví cái họa của nữ sắc như là cái họa do nước mang đến. Vì thế mà có thành ngữ HỒNG NHAN HỌA THỦY 紅顏禍水. Và cái HỌA THỦY của HỒNG NHAN nầy còn được chứng minh dài dài qua các triều đại kế tiếp, như ...

        Nhà Thương truyền được 526 năm, đến đời vua Trụ, vì si mê Đắc Kỷ giết hại công thần, mà bị Châu Võ Vương tiêu diệt, lập nên nhà Châu. Nhà Châu truyền 803 năm, đến đời U Vương lại vì si mê Bao Tự muốn cho nàng cười mà phải đốt Phong Hỏa Đài để gạt chư hầu rồi ... bị mất vào tay nước Tần sau đó. Đến thời Chiến Quốc, Ngô vương Phù Sai cũng bị mất nước vì mê Tây Thi, Hạng Võ Sở Bá Vương cùng Ly Cơ tự vẫn trên bến Ô Giang, Đường Minh Hoàng vì Dương Qúy Phi mà phải chạy loan An Lộc Sơn ẩn mình nơi đất Thục  ... Nên sử sách  đều cho là Muôi Hỉ, Đắc Kỷ, Bao Tự, Tây Thi, Ly Cơ, Dương Qúy Phi ... đều là Hồng Nhan Họa Thủy, mà không biết rằng tại các hôn quân đó qúa ... mê gái rồi tự làm cho mình mất nước, mắc cở và quê qúa nên mới đổ thừa cho HỒNG NHAN là HỌA THỦY ! Nhưng ...

          Họa Thủy thì họa thủy, thi sĩ thì vẫn cứ yêu người đẹp như thường, gần ba ngàn năm sau, Xuân Diệu đã viết :

 

                   Tôi yêu Bao Tự mặt sầu bi,

                   Tôi mê Ly Cơ hình nhịp nhàng,

                   Tôi muốn tôi là Đường Minh Hoàng,

                   Trong cung nhớ nàng Dương Qúy Phi !

 

       
         Muội Hỉ            Đắc Kỷ           Bao Tự           Tây Thi
 
        Sự thật thì " Đằng sau sự thất bại của người đàn ông, lúc nào cũng có bóng dáng của một người đàn bà !". Đây gần như là sự thật hiễn nhiên, không sai bao giờ !.

       Nhưng dù cho thánh hiền, vua chúa, hiền nhân quân tử hay anh hùng hảo hán ... gì gì đi nữa, thì cũng phải chịu chung cái quy luật của thời gian. Thời gian sẽ cuốn trôi và xóa nhòa tất cả như bài đề từ của Hứa Thận đời Minh cho quyển Tam Quốc Chí của La Quán Trung như sau :

 

      滾滾長江東逝水,   Cổn cổn Trường Giang đông thệ thủy, 
      浪花淘盡英雄。      Lãng hoa đào tận anh hùng.
      是非成敗轉頭空。   Thị phi thành bại chuyển đầu không. 
      青山依舊在,         Thanh sơn y cựu tại,

      幾度夕陽紅。         Kỷ độ tịch dương hồng. 
      白髮漁樵江渚上,   Bạch phát ngư tiều giang chử thượng, 
      慣看秋月春風。      Quán khan thu nguyệt xuân phong. 
      一壺濁酒喜相逢。   Nhất hồ trọc tửu hỉ tương phùng.
      古今多少事,         Cổ kim đa thiểu sự,

      都付笑談中.           Đô phó tiếu đàm trung !

 

NGHĨA BÀI TỪ :

         Sông Trường Giang sóng xô nước cuốn cuồn cuộn chảy về biển đông rồi không bao giờ còn trở lại nữa; cũng như biết bao anh hùng hào kiệt đều như hoa sóng kia tan biến biệt tăm và chịu đào thải theo dòng lịch sử. Bất luận là thị hay phi, là đúng hay sai, là thành hay bại, trong chớp mắt quay  đầu nhìn lại thì đã không còn gì nữa. Chỉ có núi xanh vẫn như cũ đứng trơ gan cùng tuế nguyệt và nắng chiều vẫn biết bao lần hồng lên rồi chợt tắt. Những ông lão  đốn củi và đánh bắt cá trên bến nước, họ đã quen rồi với thu nguyệt rồi lại xuân phong, thời gian cứ thế trôi đi. Nên khi gặp nhau thì cứ cùng vui với nhau bên chung rượu lạt. Biết bao nhiêu là chuyện lớn chuyện nhỏ trên đời nầy từ xưa đến nay, chẳng qua cũng chỉ là những chuyện nói cười trong lúc nhậu, là chuyện phiếm chuyện gẫu khi trà dư tửu hậu mà thôi !

      Thật là cảm khái ! Tam Quốc Chí chẳng những viết lại lịch sử, mà còn viết lại những cuộc đời anh hùng, sự chìm nổi hưng suy của anh hùng, cái khí thế và khí phách của anh hùng, cái thành công và thất bại của anh hùng, cuối cùng đều phải chịu chung sự đào thải vô tình của thời gian và lịch sử. Lịch sử đã sang trang, thời gian đà biền biệt, rốt cuộc họ còn được gì ? Chẳng qua chỉ là những câu chuyện khề khà với nhau khi trà dư tửu hậu của hậu thế mà thôi ! Tất cả  đều qui về một chữ KHÔNG to lớn !. 

 

DIỄN NÔM :

 

         Trường giang cuồn cuộn nước về đông,

         Sóng xô đào thải hết anh hùng.

         Thị phi thành bại quay đầu : hết !

         Núi xanh vẫn còn đó,

         Bao lượt nắng chiều hồng.

         Ngư tiều đầu bạc trên sông nước,

         Đã quen rồi thu nguyệt với xuân phong,

         Một bầu rượu lạt thắm tình nồng,

         Xưa nay bao thế sự,

         Cười nói cũng như không !

 

Lục bát :

             Trường Giang cuồn cuộn về đông,

         Anh hùng như sóng theo dòng trôi xuôi.

             Thị phi thành bại trên đời,

         Quay đầu là hết núi đồi còn đây.

             Núi xanh sừng sửng tháng ngày,

         Hoàng hôn mấy lượt thêm dài hoàng hôn.

             Ngư tiều đầu bạc ven thôn,

         Trên dòng sông nước vùi chôn tháng ngày.

             Một bầu rượu lạt ngà say,

         Cổ kim thế sự nào ai có lòng ?

             Nói cười nhấp rượu như không !

 

       Xin được kết thúc bài Phiếm luận về NƯỚC theo dòng đào thải của thời gian ở nơi đây !

 

NNA_DCDGSMailoc.jpg
ÔB Đồ Đỗ Chiêu Đức - Tố Quyên & ÔB GS Mailoc tại Đại Hội PTGĐTĐ XXI-Houston Texas May 2017 

                                                        Đỗ Chiêu Đức. 

 

MAO ỐC VỊ THU PHONG SỞ PHÁ CA 

                                    ĐỖ PHỦ

 

       ĐỖ PHỦ 杜甫  ( 712-770 ) tự là Tử Mỹ 子美, thường tự xưng là Thiếu Lăng Dã Lão 少陵野老( Ông già ở vùng hoang dã của đất Thiếu Lăng ). Thi Tiến Sĩ mãi không đậu. Từng đãm nhận chức Kiểm Hiệu Công Bộ Viên Ngoại Lang, nên người đời thường gọi ông là Đỗ Công Bộ. Ông là nhà thơ hiện thực vĩ đại của đời Đường, hợp cùng với Lý Bạch thành một cặp Lý Đỗ của thời Thịnh Đường. Từ đời Tống về sau mọi người đều xưng tụng ông là Thi Thánh. Thơ của ông vạch trần mâu thuẫn của xã hội đương thời, tỏ nỗi cảm thông sâu sắc với đời sống cơ cực của dân nghèo trong chiến tranh loan lạc ( loạn An Lộc Sơn ). Ông để lại nhiều bài thơ tuyệt tác, nhất là luật thi của ông luôn luôn rất nghiêm cẩn thâm thúy với một kỹ thuật siêu việt tự nhiên và rất đa dạng. Ông để lại " Đỗ Công Bộ Tập ", gồm hơn 1400 bài thơ.

        Sau đây là một bài thơ tiêu biểu của ông khi chạy loạn An Lộc Sơn ...

DCD_MaoOc_1.jpg   dcd_maooc_2.jpg

                 

 

茅屋為秋風所破歌        MAO ỐC VỊ THU PHONG SỞ PHÁ CA 

 

八月秋高風怒號,          Bát nguyệt thu cao phong nộ hào, 

卷我屋上三重茅。          Quyển ngã ốc thượng tam trùng mao. 
茅飛度江灑江郊,          Mao phi độ giang sái giang giao. 

高者掛罥長林梢,          Cao giả quải quyến trường lâm sao, 

下者飄轉沈塘坳。          Hạ giả phiêu chuyển trầm đường ao. 
南村群童欺我老無力,    Nam thôn quần đồng khi ngã lão vô lực, 

忍能對面為盜賊。          Nhẫn năng đối diện vi đạo tặc. 
公然抱茅入竹去,          Công nhiên bão mao nhập trúc khứ,

脣焦口燥呼不得,          Thần tiều khẩu táo hô bất đắc. 

歸來倚杖自歎息。          Qui lai ỷ trượng tự thán tức. 
俄頃風定雲墨色,          Nga khoảnh phong định vân mặc sắc,

秋天漠漠向昏黑。          Thu thiên mạc mạc hướng hôn hắc. 
布衾多年冷似鐵,          Bố khâm đa niên lãnh tự thiết. 

嬌兒惡臥踏裏裂。          Kiều nhi ác ngọa đạp lý liệt. 
床頭屋漏無乾處,          Sàng đầu ốc lậu vô can xứ,

雨腳如麻未斷絕。          Vũ cước như ma vị đoạn tuyệt. 
自經喪亂少睡眠,          Tự kinh táng loạn thiểu thụy miên

長夜霑溼何由徹!          Trường dạ chiêm thấp hà do triệt. 
安得廣廈千萬間,          An đắc quảng hạ thiên vạn gian, 

大庇天下寒士俱歡顏,    Ðại tí thiên hạ hàn sĩ câu hoan nhan,

風雨不動安如山!          Phong vũ bất động an như san. 
嗚呼!                        Ô hô !

何時眼前突兀見此屋,    Hà thời nhãn tiền đột ngột kiến thử ốc, 

吾廬獨破受凍死亦足!    Ngô lư độc phá thụ đống tử diệc túc.

                      杜甫                                          Đỗ Phủ

 

1. CHÚ THÍCH :

    * THU CAO 秋高 : Không phải mùa thu ở trên cao, mà là gần cuối thu. Tháng 7 là SƠ THU 初秋 là Đầu thu. Tháng 8 là TRUNG THU 中秋 là Giữa mùa thu. Tháng 9 là THÂM THU 深秋 là Tàn thu. Ở đây THU CAO chỉ thời gian cuối Tháng 8 là gần Cuối Thu rồi.

    * NỘ HÀO 怒號 : là Gào Thét. Chỉ gió rít như thét gào.

    * TAM TRÙNG MAO 三重茅 : là 3 lớp cỏ tranh. Chữ TAM ở đây là phiếm chỉ, có nghĩa là NHIỀU, chứ không nhất thiết phải là 3.

    * QUẢI QUYẾN 掛罥 : Bị cuốn dính treo tòn ten.

    * LÂM SAO 林梢 : là Ngọn cây. Chữ LÂM ở đây là Cây, chớ không phải chỉ Rừng.

    * ĐƯỜNG AO 塘坳 : là những ao chuôm nước đọng.

    * NHẬP TRÚC KHỨ 入竹去 : là Chạy vào trong khóm tre, rừng tre.

    * THẦN TIÊU KHẨU TÁO 脣焦口燥 : là Môi khô miệng khản. Ta còn nói là Miệng đắng môi khô.

    * NGA KHOẢNH 俄頃 : là Trong khoảnh khắc.

    * BỐ KHÂM 布衾 : là Cái mền bang vải thô.

    * ÁC NGỌA 惡臥 : là Cái tật ngủ xấu ( hay đạp lung tung ).

    * SÀNG ĐẦU ỐC LẬU 床頭屋漏 : là Đầu giường mưa dột, ở đây chỉ cả nhà bị mưa dột, vì VÔ CAN XỨ 無乾處 : là không nơi nào khô cả. 

    * VŨ CƯỚC NHƯ MA 雨腳如麻 : Những giọt mưa như là những sợi tơ sợi gai, VỊ ĐOẠN TUYỆT 未斷絕 : là chưa chịu dứt hẵn.

    * TÁNG LOẠN 喪亂 : Chỉ Chạy loan An Lộc Sơn.

    * TRIÊM THẤP 霑溼 : là Ướt át, là Thấm ướt.

    * QUẢNG HẠ 廣廈 : là Nhà cao cửa rộng.

    * ĐẠI TÍ THIÊN HẠ 大庇天下 : là Che chở hết khắp thiên hạ ...

    * ĐỘT NGỘT 突兀 : là Bỗng nhiên, là Bất chợt.

    * THỤ ĐỐNG TỬ 受凍死 : Chịu lạnh mà chết.

    

2. NGHĨA BÀI THƠ :

                 BÀI CA GIÓ THU THỔI TỐC MÁI NHÀ TRANH

 

          Cuối tháng tám gần tàn thu, gió thu thét gào cuốn đi mấy lớp cỏ tranh trên mái nhà của ta. Cỏ tranh bay cả sang Hoán Hoa Khê rơi rớt cả trên bờ phía bên kia, những cọng bay cao thì vắt vẻo trên đầu cành cây, những cọng bay thấp thì rơi rớt trên ao chuôm gần đó.

          Mấy đứa trẻ ớ xóm nam khinh khi ta gìa yếu không làm gì được chúng, nên nở nhẫn tâm làm giặc trước mặt ta, chúng chẳng uý kỵ gì cả ôm lấy cỏ tranh của ta chạy vào trong rừng trúc. Ta lại miệng đắng môi khô không nạt nỗi để ngăn cản chúng lại, đành than thở một mình mà chống gậy trở về nhà.

        Một lát sau gió ngừng mây tạnh, mây trên bầu trời chuyển đen như mực. Trời cuối thu ảm đạm dần dần tối đen xuống theo bóng đêm. Tấm vải thô làm mền đắp lâu năm vừa lạnh vừa cứng như sắt, cũng bị đứa con thơ xấu tánh khi ngủ đạp rách tả tơi. Khi mưa xuống thì từ đầu giường đến cuối giường, cả nhà đều không có chỗ nào là khô ráo cả, từng sợi mưa lất phất vẫn không ngừng rơi xuống. Từ lúc có loạn An Lộc Sơn đến giờ, ta luôn ngủ rất ít, đêm dài dằng dặc, nhà dột cột xiêu làm sao chịu được tới sáng đây.

        Làm sao để có được ngàn vạn căn nhà cao cửa rộng, để kẻ sĩ khắp nơi trong thiên hạ được che chở yên thân, để họ được vui khi ngoài trời mưa gió mà trong nhà vẫn vững như bàn thạch ? Ôi ! Biết đến bao giờ trước mắt bỗng nhiên có được những ngôi nhà như thế. Khi đó thì dù cho căn nhà tranh nầy của ta có bị gió thu thổi cho tơi tả và ta có bị lạnh cóng mà chết thì ta vẫn cam lòng !

 

3. BỐI CẢNH SÁNG TÁC :

        Bài thơ được sáng tác năm 761 ( Năm thứ 2 Thượng Nguyên đời Đường Túc Tôn ). Mùa thu năm 759, Đỗ Phủ từ quan đến Tần Châu ( Cam Túc ), rồi lần lừa lưu lạc đến Đồng Cốc ( Thành Huyện ), Ba Lăng. Mùa xuân năm 760, nhờ bạn bè thân hữu giúp đỡ mới cất được một mái nhà tranh ở Hoán Hoa Khê ( Thành Đô, Tứ Xuyên ), tạm gọi được là đã có chỗ yên thân. Nào ngờ đến cuối thu tháng tám của năm 761, giông gió nổi lên làm tốc mái nhà, lại phải chịu đựng cơn mưa đêm ập đến, ướt át suốt đêm không ngủ được, đêm dài khoắc khoải, cảm khái muôn vàn mà viết nên bài thơ hiện thực được nhiều người biết đến nầy.

 

4. BỐ CỤC CỦA BÀI THƠ :

          Đây là bài thơ Trường thiên Thất ngôn Cổ phong, câu dài ngắn tùy tình tiết, nhưng chủ yếu là thơ 7 chữ, gieo vần tự do cả trắc lẫn bằng theo diễn tiến và ý thơ của tác giả.

          Toàn bài thơ đi một mạch từ câu đầu đến câu cuối, nhưng ta cũng thấy được 4 ý chính sau đây :

    A. Từ câu đầu đến câu thứ 5 : Nỗi thống khổ của người nghèo trong cơn mưa bão ban đêm.

    B. Từ câu 6 đến câu 10 : Sự bất lực của tuổi gìa trước lũ trẻ nghịch ngợm vô tri.

    C. Từ câu 11 đến câu 18 : Nỗi vất vả khổ cực của những người nghèo phải chiụ cảnh mưa bão trong đêm.

    D. Từ câu 19 đền câu 24 : Cái ước mơ kỳ vọng cho mình và cho tất cả mọi người cùng khổ.

        Ba đoạn đầu là tự sự, miêu tả thực tế và kể lể nỗi niềm của những người nghèo khổ trong đêm mưa giông bão với nhà dột cột xiêu; đoạn cuối nêu lên cái ước mơ lý tưởng hóa cuộc đời, muốn thăng hoa cuộc sống của kẻ sĩ nghèo khó.

 

5. NHẬN XÉT :

        Bài thơ kể lại cảnh nghèo khó trong cơn giông bão cuối thu, mấy gian nhà tranh bị gió cuốn tốc cả nóc, lại thêm cơn mưa đêm ập xuống làm ướt át cả nhà không sao ngủ được . Từ đó, Đỗ Phủ  đã nói lên cái cảm khái và bất lực trước cái nghèo, cái gìa của mình rồi liên hệ đến những kẻ sĩ cơ hàn như mình, những dân chúng phải lưu lạc thất tán trong cơn binh biến do An Lộc Sơn gây nên còn đang âm ỉ chưa thôi. Rồi ước mơ sao cho có được một nơi chốn yên thân cho tất cả mọi người nghèo khó. Đây chính là cái ưu thời mẫn thế, còn nghĩ đến dân đến nước của nhà thơ. Không phải đương không mà mọi người tôn xưng ông là Thi Thánh, thơ của ông luôn luôn diễn tả và phản ánh trung thực của cuộc sống thực tế trước mắt, như những câu :

                 Chu môn tửu nhục xú,    朱門酒肉臭,

                 Lộ hữu đồng tử cốt.        路有童子骨。

Có nghĩa :

        Trong cửa son của nhà giàu thì rượu thịt thừa mứa đến thối rữa; còn ở ngoài đường thì xương của những đứa trẻ bị chết đói rẫy đầy.

       Trong khi cảm khái trước cảnh nhà dột cột xiêu lại gặp phải mưa đêm của mình, ông cũng nghĩ đến những người cùng cảnh ngộ, những người cùng khổ. Vì cái cái khổ của mình cũng là cái khổ chung của dân của nước trước cảnh chiến tranh loan lạc do An Lộc Sơn gây nên. Không phải chỉ riêng căn nhà tranh của ông bị tốc nóc mà tất cả những căn nhà tranh của " thiên hạ hàn sĩ " đều tốc nóc cả !

     ... và cảm khái làm sao khi trong bài Xuân Vọng ông đã hạ một câu mở đầu bất hũ là :

                 Quốc phá sơn hà tại,     國破山河在,

Có nghĩa là :

            Nước tuy mất nhưng núi sông vẫn còn đó !

      dcd_maooc_3.jpg DCD_Maooc_4.jpg 

 

               6. DIỄN NÔM :

                 GIÓ THU TỐC MÁI NHÀ TRANH

 

                Tháng tám tàn thu gió thét gào,

                Cuốn phăng mấy lớp mái tranh cao.

                Tranh bay tơi tả trên sông vắng,

                Vắt vẻo trên cành cây trước ao.

                Rải rác bên bờ chuôm nước đọng,

 

                Bất lực thân già đành trơ mắt,

                Lặng nhìn lũ trẻ ngang nhiên cướp,

                Ôm tranh lủi mất xóm tre xa,

                Môi khô giọng khản thét không ra,

                Chống gậy về nhà ngồi than thở.

 

                Cơn gió trở, phút giây mây xám,

                Phủ đầy trời hắc ám tối đen,

                Nhà nghèo xót cảnh mưa đêm,

                Con thơ mền rách càng thêm nỗi niềm.

                Giường ướt dột khắp nơi tơi tả,

                Mưa từng cơn vẫn rả rít rơi,

                Từ ngày loan lạc đến nay,

                Đêm đêm khó ngủ ai hoài thở than.

 

                Mong ước được ngàn gian nhà trống,

                Chở che cho hàn sĩ bốn phương,

                Vững như bàn thạch mưa tuôn,

                Yên lòng nghèo khó những luôn ước thầm.

                Bao giờ bỗng được như lòng,

                Nhà tranh ta đổ cũng không tiếc gì.

                Thân này lạnh chết có chi !

 

                                                     Đỗ Chiêu Đức

                                                        diễn nôm    

CHỮ NHO DỄ HỌc....bài 37
 Vị trí của các bộ thủ  
 
Click hàng chữ dưới đây: 
 

 

 CHỮ NHO ... DỄ HỌC  (36)                        

    Các bộ 14, 15, 16, 17 nét                               

                                 

Click here: https://drive.google.com/drive/folders/0B6-GwvjUy0dHUjA2VUVXMjdRckE?usp=sharing 

Sau khi trang bài hiện ra, double left click để đọc toàn bài 

NGÀY XUÂN ĐỌC THƠ TIỀN CHIẾN

dcd_ngayXuan.jpg 

 

                                               Tôi muốn tắt nắng đi,

                                                    Cho màu đừng nhạt mất,

                                                    Tôi muốn buộc gió lại,

                                                    Cho hương đừng bay đi !

                                                                    Xuân Diệu

        NGÀY XUÂN ĐỌC THƠ TIỀN CHIẾN là chỉ nói cho " xôm tụ " thôi, chẳng lẽ đọc Thơ Đường mãi, thay đổi không khí, ta đọc thơ Thời Tiền Chiến. Nhưng nói là đọc thơ Thời Tiền Chiến cho oai thôi, chớ chỉ điểm qua vài bài có vẻ Xuân và hoa Đào hoa Mai của Nguyễn Bính và Jean Leiba mà thôi !

       Nào, bạn đã thấy Xuân về như thế nào chưa ? Nếu chưa, hãy nghe Nguyễn Bính nói đây :

 

                    Đã thấy xuân về với gió đông,

                    Với trên màu má gái chưa chồng.

                    Bên hiên hàng xóm cô hàng xóm,

                    Ngước mắt nhìn trời đôi mắt trong !

 

Gợi cảm và làm xao xuyến rạo rực lòng người biết bao với " Gió đông, với màu má gái chưa chồng, và với đôi mắt trong của nàng thiếu nữ !", Mùa xuân như hiển hiện ở màu má màu mắt của cô Xuân nữ tràn đầy nhựa sống của lứa tuổi hoa niên. Mùa xuân mang lại sức sống mới cho tuổi trẻ, mùa xuân cũng mang lại những kỷ niệm khó quên của tuổi xuân thì, khơi lại tình tự mộng mơ của quá khứ làm não nuột lòng người :

 

                   Xuân đã đem mong nhớ trở về,

                   Lòng cô lái ở bến sông kia.

                   Cô hồi tưởng lại ba xuân trước,

                   Trên bến cùng ai đã hẹn thề !...

 

                   Nhưng rồi ... Người khách tình quân ấy,

                   Đi biệt chẳng về với nước sông,

                   Đã mấy lần xuân trôi... trôi mãi ...

                   Mấy lần cô lái mõi mòn trông !

                                              ( Cô lái đò )

               
  
Não nùng thay, đáng thương thay cho tâm sự của " nàng xuân " trên bến nước ! Thơ Nguyễn Bính thường đi vào lòng ta bằng những hình ảnh thật nhẹ nhàng gợi cảm, tế nhị mà làm xao xuyến lòng người ! Ta hãy nghe ông ví von :

 

                   Ai đi chắp lại cánh hoa rơi,

                   Bắt bóng chim xa tận cuối trời.

                   Có lẽ ngày mai đò ngược sớm,

                   Thôi nàng ở lại để ... quên tôi !

                                       ( Thôi nàng ở lại )

       Rất nhẹ nhàng nhưng cũng có pha chút gì chua xót ! Chua xót như những cánh hoa đào rơi rụng :

 

                    Hoa đào từng cánh rơi như tưới,

                    Xuống mặt sân rêu những giọt buồn.

                    Như mảnh tim tình tan vỡ ấy,

                    Nhện già giăng mắc sợi tơ đơn !....

 

                Cuối năm, đọc những câu thơ tình của Nguyễn Bính làm cho lòng ta  chùn xuống, xót cho từng cánh hoa đào rơi như những mảnh tim tình tan vỡ, khéo mà ví von làm thương cảm lòng người ! Sau này, khi lưu lạc vào Nam, lúc xuân về Tết đến, Nguyễn Bính vẫn khoắc khoải day dức băn khoăn tự nhủ : 

 

                    Xuân này xứ Bắc ra sao nhỉ,
                    Đào có hây hây ? Cúc có vàng ?
                    Câu đối có còn ôm đỏ cột, 
                    Nêu dài tiếng khánh có khua vang ?

   ... và não lòng người làm sao với :

 

                    Em ra bến nước trông về Bắc
                    Chỉ thấy mây trôi chẳng thấy làng !

 

                   Nguyễn Bính xưng " em " chắc có lẽ thi sĩ đang nhớ đến người chị mà tác giả thường hay nhắc trong thơ :

 

               ... Cho đến một hôm em mới nhớ:
                  "Lòng người...." Chị Trúc nhớ hay quên?

                                                    ( Khăn Hồng )

    ... Chị Trúc là chị TRÚC ĐƯỜNG, một người chị trong thơ, trong mơ, mà Nguyễn Bính không bao giờ với tới, cũng không dám với tới, chỉ nhớ, chỉ mơ rồi ... thơ thẩn, thế thôi ! Mà như thế lại nên thơ hơn, da diết hơn và gợi cảm mơ mộng hơn nhiều ! Và nhờ thế mà ta mới có được những vầng thơ tuyệt diệu của " Lỡ Bước Sang Ngang ". Sau này khi lưu lạc giang hồ, trong "Xuân tha hương" và "Xuân vẫn tha hương", Nguyễn Bính đều gửi tâm sự về quê nhà, kể lể nỗi niềm cùng chị Trúc:

 

                        Tết này chưa chắc em về được 
                        Em gửi về đây một tấm lòng 
                        Ôi chị một em, em một chị
                        Trời làm xa cách mấy con sông ...

         và ...

                        Rượu say nhớ chị hồi con gái 
                        Thương chị từ khi chị lấy chồng...

 

                        Đêm ba mươi Tết quê người cũng 
                        Tiếng pháo giao thừa dậy tứ phương 
                          .................................
                        Đất khách tình dâng nhòa mắt lệ 
                        Ôi nhà, ôi chị.. ôi quê hương !

  Khá thương thay tâm sự của kẻ tha hương và cũng ngạc nhiên thay, ngạc nhiên đến thú vị !... Ai đời nhớ quê hương, nhớ nhà lại đi kèm với " nhớ Chị ", hẵn người Chị nầy phải vô cùng đặc biệt, đặc biệt đến trở thành ... tự nhiên trong thơ của Nguyễn Bính !

 

        Hoa Đào là biểu tượng cho hoa xuân ngoài Đất Bắc, còn hoa Mai là biểu tượng của hoa xuân Miền Nam. Ta thường nghe nói Đào Bắc Mai Nam, nhưng hoa mai lại thích ứng cả 2 miền Nam Bắc, ta đã từng biết qua  2 câu thơ của nhà sư Tề Kỷ ở cuối đời Đường đầu đời Tống là :

                  Tiền thôn thâm tuyết lý,    前村深雪裡,

                  Tạc dạ sổ chi khai.            昨夜數枝開。

Có nghĩa :

                Đêm trước hôm qua trong tuyết lạnh,

                Xóm trên lấm tấm mấy cành mai.

 

                  Bây giờ, thì ta hãy điểm qua bài thơ Mai Rụng của Jean Leiba thời Tiến Chiến nhé :

 

                    Nụ hồng rải lối, liễu tơ phai, 
                    Vườn cũ rêu lan, cỏ mọc dài, 
                    Bên gốc mai già, xuân vắng vẻ, 
                    Âu sầu thiếu nữ khóc hoa mai...

 

     " Thiếu nữ khóc hoa mai " như khóc cho thân phận của mình, khóc vì nuối tiếc cho ngày vui đã qua mau, nuối tiếc cho những ngày xuân mà tim hồng rộn rã, khi :

 

                    Tường đông, xuân ấy gặp tình lang, 
                    Chàng nhủ cùng em nỗi nhớ thương. 
                    Ngơ ngẩn em về, sầu chẳng mối: 
                    Ngây thơ, em mới biết yêu chàng.

 

       Ôi, đẹp biết bao khi lòng người xuân nữ vừa chớm hương yêu trong lứa tuổi xuân thì !... Nàng  e ngại thẹn thùng bắt đầu làm đẹp, làm dáng và thấy mùa xuân càng đẹp hơn lên khi con tim yêu đang rạo rực :

                    Yêu chàng, em cố chuốt hình dong, 
                    Tô cặp môi son, điểm má hồng. 
                    Em thấy xuân nay hoa nở đẹp, 
                    Cảm tình Thanh đế, tạ đông phong !

 

              Hạnh phúc biết bao trong mùa xuân..." hoa nở đẹp ". Thực ra thì xuân nào mà hoa chẳng nở đẹp ?! Nhưng khi đang ngây ngất trong men yêu thì đâu có xuân nào đẹp hơn được nữa ! Nàng Cảm ơn Chúa Xuân, cảm ơn gió Xuân, cảm ơn hết những gì mà mùa xuân mang đến ... Nhưng rồi, ngày vui qua mau, mùa xuân cũng chóng tàn, khi :

                    Hoa tặng vừa tàn bông thược dược, 
                    Tìm chàng bỗng vắng, bóng chàng xa...

 

   ... Và từ đó, cuối xuân sang hạ, hết thu lại đông, nàng sống trong âm thầm chờ đợi mõi mòn, mong ngóng bóng ai kia ở cuối nẽo chân trời ...  

                    Xuân tàn, hạ cỗi, cảnh thu sầu, 
                    Mờ mịt hơi đông ám ngọn lau. 
                    Xuân tới cành đào hoa lại nở, 
                    Mong chàng mỏi mắt, thấy chàng đâu ?! 

 Ủ rủ não nề như người cô phụ trông chồng " Thẩn thờ trâm lệch lỏng vòng lưng eo " đến đổi không còn nhận ra mình trong gương nữa ...

                    Sầu đối gương loan, bóng lạ người, 
                    Chàng không lại nữa, đẹp cùng ai? 
                    Bơ phờ tóc rối, vành khăn lệch, 
                    Ủ rũ hoa gầy, má đỏ phai !  

 

                    Qủa là thương cảm cho nàng thiếu nữ khi đã vuột khỏi tầm tay, đánh mất một tình yêu nồng thắm của tuổi xuân thì. Xuân chửa đi qua mà tình yêu đà biền biệt, nên mơ hồ nghi ngại là nàng xuân vẫn còn lẫn khuất đâu đây :

 

                    Xuân hết, đào phai, lý rụng rồi, 
                    Hoa đình tịch mịch vẻ xuân phai. 
                    Tơi bời ong bướm bay qua ngõ, 
                    Những tưởng màu xuân ở xóm ngoài.  

       

       Đọc những câu thơ trên lại làm cho ta nhớ đến 2 câu cuối trong bài XUÂN TÌNH của Vương Giá

              蜂蝶紛紛過牆去,  Phong điệp phân phân qúa tường khứ,

              卻疑春色在鄰家。  Khước nghi xuân sắc tại lân gia.

Có nghĩa :

          Lũ lượt bướm ong bay hết qua tường hàng xóm, nên ...  

          Ngờ rằng hương sắc của mùa xuân còn ở nhà kế bên !!!

 

     Tơi bời ong bướm bay qua ngõ, 

                    Những tưởng màu xuân ở xóm ngoài.  

 

       Tình yêu bao giờ cũng là đề tài muôn thuở của nhân sinh, là đề tài không bao giờ cạn kiệt của văn nhân thi sĩ. Tình yêu mang lại sức sống yêu đời, tình yêu nhuộm hồng cuộc sống nhân sinh, mang lại sức sống vui tươi cho mọi lứa tuổi, mọi lứa đôi ... Nhưng tình yêu cũng mang lại sầu thương buồn thảm, đố kỵ ghét ghen, ưu phiền chán nản, làm nhục chí anh hùng, khiến cho bao người không còn thiết tha với cuộc sống, muốn buông xuôi tất cả như Jean Leiba lúc cuối đời, mặc dù ông chỉ mới có 29 tuổi đầu mà thôi :

 

                    Phù thế đã nhiều duyên nghiệp quá !

                    Lệ lòng mong cạn chốn am không.

                    Cửa thiền một đóng duyên trần dứt,

                    Quên hết người quen chốn bụi hồng !

 

       Xin được khép lại bài viết về mùa xuân nhưng không được vui như xuân nầy !

 

                                                                     Đỗ Chiêu Đức

                                                                      06-01-2017

 

                    VÕ TRẮC VÃNG NAM CÔ

 

        Trước khi nghe Giai Thoại Văn Chương Việt Nam nầy, Xin mời tất cả cùng đọc một bài thơ Đường rất ư là mượt mà tình tứ của một cô dâu mới về nhà chồng của Châu Khánh Dư như sau :

 

     近試上張水部       CẬN THÍ THƯỢNG TRƯƠNG THỦY BỘ

 

   洞房昨夜停紅燭,     Động phòng tạc dạ đình hồng chúc,

   待曉堂前拜舅姑。     Đãi hiểu đường tiền bái cựu cô.
   妝罷低聲問夫婿:     Trang bãi đê thanh vấn phu tế, 

「畫眉深淺入時無?」 " Họa mi thâm thiển nhập thời vô ?!" 

                  朱慶餘                                Châu Khánh Dư

 

Chú Thích :

      Châu Khánh Dư  朱慶餘, không rõ năm sanh năm mất, tên là Khả, người đất Đường Châu, đậu Tiến sĩ giữa năm Bảo Khánh, là môn đệ của Trương Tịch. Ông giỏi về thơ, còn để lại một Thi Tập.

    CẬN THÍ : Gần đến ngày đi thi.

    TRƯƠNG THỦY BỘ : là Trương Tịch 張籍 (766─830 ), tự là Văn Xương, người đời thường gọi là Trương Tư Ngiệp hay Trương Thủy Bộ; thơ nhạc phủ của ông thường phản ánh hiện thực của xã hội đương thời. Nổi tiếng ngang hàng với Vương Kiến, người đời xưng tụng là " Trương Vương ". Tác phẩm để lại : Trương Tư Nghiệp Tập.

    ĐÃI HIỂU : là Chờ sáng, là Đợi đến sáng ngày.

    CỰU CÔ : CỰU 舅 là Cậu, là Anh Em trai của mẹ. CÔ 姑 là Chị Em gái của cha. Nhưng theo Tập quán Ngôn ngữ của người Hoa xưa, CỰU CÔ 舅姑 là Ông Già Chồng và Bà Già Chồng. Trong bài thơ :

    BÁI CỰU CÔ 拜舅姑 là Ra mắt Ông Bà già Chồng.

    TRANG BÃI : là Trang điểm xong xuôi.

    PHU TẾ : là Chàng rễ, là tiếng gọi Chồng một cách thân mật.

    NHẬP THỜI : là Hợp thời trang, đúng trào lưu, nói một cách bình dân là : Đúng "Gu", đúng "Mốt" ( à la mode ) hiện tại.

 

Nghĩa Bài Thơ :

                    GẦN THI DÂNG LÊN TRƯƠNG THỦY BỘ

       Động phòng đêm hôm qua, đuốc hoa cũng đã ngừng cháy rồi. Đợi đến sáng ngày để lạy ra mắt cha mẹ chồng. Sau khi trang điểm xong, nàng mới kề tai hỏi nhỏ chàng rằng : " Đôi mày của thiếp kẽ như thế nầy, đậm nhạt kiểu dáng có hợp thời hay không ?". Ý muốn hỏi : có làm đẹp lòng của cha mẹ chồng không ?!

 

Diễn Nôm :

                 Đêm qua hoa chúc động phòng xong,

                 Chờ sáng ngày ra mắt mẹ chồng.

                 Trang điểm xong hỏi chàng nho nhỏ :

               " Mày ngài đậm nhạt hợp thời không ?"

Lục bát :

                 Động phòng hoa chúc vừa ngưng,

                 Sáng ra trang điểm lạy mừng thầy me.

                 Kề tai hỏi nhỏ e dè :

               " Mày ngài đâm nhạt còn e ... chăng chàng !?"

 

        Đây là bài thơ của Châu Khánh Dư làm trước ngày ứng thi Tiến sĩ, gởi cho Trương Tịch bình phẩm; vì lúc ấy Trương đang là Thủy Bộ Lang Trung ở kinh thành, nổi tiếng về văn thơ và có thể sẽ là phó chủ khảo của khoa thi. Châu Khánh Dư tự ví mình như là cô dâu mới về nhà chồng, còn Trương Tịch là chàng rể, quan chủ khảo là cha mẹ chồng, còn mày ngài đậm nhạt như là phong cách thơ văn của mình. Châu hỏi Trương xem NÓ có hợp với ý của quan chủ khảo chăng để còn biết mà uyển chuyển điều chỉnh lại. Trương đã ca ngợi và biểu dương cái ý chân thành nầy của Châu, nên khoa đó Châu đã đậu ngay Tiến Sĩ Cập Đệ.

 

        Bây giờ thì ta trở lại với Giai Thoại Văn Chương Việt Nam " VÕ TRẮC VÃNG NAM CÔ " của một Thủ Khoa đất Bình Thủy Cần Thơ :  Ông Thủ Khoa Bùi Hữu Nghĩa nhé !

        Ông sinh năm Đinh Mão (1807) tại làng Long Tuyền, tổng Định Thới, huyện Vĩnh Định, phủ Định Viễn, trấn Vĩnh Thanh (nay thuộc phường An Thới, quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ). Cha ông tên Bùi Hữu Vị, làm nghề chài lưới.
        Năm 1835 ông đỗ Giải nguyên (thủ khoa) kỳ thi Hương ở Gia Định, vì thế ông được gọi là Thủ Khoa Nghĩa.
        Khi thực dân Pháp đánh chiếm ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ, năm 1862, Bùi Hữu Nghĩa xin từ quan về quê dạy học, bốc thuốc chữa bệnh cho dân và làm thơ (lúc này ông lấy hiệu là "Liễu Lâm chủ nhân"). Nhà ông là nơi các sĩ phu yêu nước gặp gỡ, bàn bạc việc chống Pháp cứu nước. Ông lâm bệnh và mất ngày 21 tháng giêng năm Nhâm Thân (1872), thọ 65 tuổi.

        Sinh thời, Thủ Khoa Nghĩa nổi tiếng với vở tuồng " Kim Thạch Kỳ Duyên " được nhà vua khen ngợi. Nghe nói khi soạn vở tuồng nầy có sự giúp sức và góp ý của ông Huỳnh Mẫn Đạt, nên mới có câu chuyện sau đây ...

        Tương truyền, ở xứ Gia Định có Tú Tài VĂN BÌNH, văn hay chữ tốt, nhưng thi cử lận đận, thi mãi mà vẫn chỉ đậu có ...Tú Tài ! Nghe đồn Thủ Khoa Nghĩa soạn tuồng Kim Thach Kỳ Duyên được vua khen, thì trong lòng không phục, lại nghe nói có sự góp sức của cụ Huỳnh Mẫn Đạt nên lại càng không phục hơn. Một hôm Tú ta quyết định " Đem chuông đi đấm xứ người ", mới khăn gói mò xuống đất Bình Thủy tìm gặp Thủ Khoa Nghĩa để thử tài một chuyến xem lời đồn có đúng hay không ?...

        Khi đến Bình Thủy, đang đi lang thang để hỏi thăm nhà Thủ Khoa Nghĩa thì gặp phải một ông già dáng vẻ nhà quê ngồi hóng mát trước cửa, anh ta bèn ghé lại hỏi thăm :

      - Thưa bác, bác có biết nhà ông Thủ Khoa Bùi Hữu Nghĩa ở đâu không ạ ? Ông già nhướng mắt lên hỏi lại :

      - Cậu là ai, kiếm ông Thủ Khoa có việc gì không ?

      - Dạ, cháu là Tú tài Văn Bình ở Gia định, nghe đồn ông Thủ Khoa rất giỏi về văn thơ, nên tìm đến hỏi thăm cho biết vậy mà ! Ông già nghe xong rất sốt sắn :

      - Vậy hả, Tú tài Văn Bình hả, mời vào nhà ngồi chơi, uống ly nước, rồi tôi sẽ biểu sấp nhỏ dẫn tới nhà ông Thủ Khoa cho !

       Sau khi vào nhà ngồi yên chỗ xong, ông già mới rót hai ly nước trà mời khách. Tú tài Văn Bình ngó quanh thấy trong nhà có treo mấy câu đối nên lẩm nhẩm đọc. Ông già bèn cười nói rằng :

     - Đó là mấy câu đối của ông Thủ Khoa làm đó. Còn tụi tôi thì học ít, hổng biết làm câu đối dài tới vậy, chỉ biết đối từng chữ một mà thôi. Nếu cậu không chê thì mình đối chơi với nhau một vài chữ cho vui ! Thấy ông già tử tế và vui tính, nên Văn Bình cũng rất vui vẻ nhà  nhận lời. Ông già bưng ly trà lên nhấp nhấp đọc :

     - VÕ  武. Văn Bình đối lại :

     - VĂN 文.  Ông già lại đọc :

     - TRẮC 仄.  Văn Bình đối là :

     - BÌNH 平.  Ông già lại tiếp :

     - VÃNG 往. Văn Bình đối ngay :

     - LAI 來. Ông già lại ra :

     - NAM 南. Văn Bình lại đối :

     - BẮC 北. Ông già lại đọc :

     - CÔ. Văn Bình lại đối là :

     - CỤ. Tất cả các chữ đều đối với nhau chan chát. Đến đây, thì ông già ngưng lại đề nghị :

     - Bây giờ thì mình ghép các chữ đã đối với nhau lại nghen. Câu của tui là : VÕ TRẮC VÃNG NAM CÔ ! Văn Bình cũng đọc to các chữ mà mình đã đối là :

     - VĂN BÌNH LAI BẮC CỤ ! Vừa đọc xong, anh ta chợt giật mình, đứng dậy bẽn lẽn chấp tay xá ông già một cái mà nói rằng :

     - Ông ơi, Ông chính là ông Thủ Khoa rồi, tú tài này xin bội phục !

       Ông già cũng đứng lên cười xòa, nắm tay Văn Bình bảo anh ta ngồi xuống; đoạn 2 người cùng nhau đàm luận văn chương rất ư là tương đắc. Thì ra ...

       Câu VÕ TRẮC VÃNG NAM CÔ của Thủ Khoa Bùi Hữu Nghĩa không có nghĩa gì cả; nhưng câu VĂN BÌNH LAI " BẮC CỤ " của Tú Tài Văn Bình thì thật ... khó chơi, mà lại do chính miệng mình nói ra ... cái mới chết chớ !

 

      Lúc nhỏ, khi đọc xong giai thoại nầy, tôi cứ thắc mắc mãi : VÕ 武 đối với VĂN 文; TRẮC 仄 đối với BÌNH 平; VÃNG 往 đối với 來; NAM 南 đối với 北; đối nhau chan chát không có gì để nói, nhưng bảo CÔ với CỤ cũng " đối nhau chan chat ", thì tôi không phục chút nào cả ! CÔ là CÔ nào ? là CÔ ĐƠN 孤單 hay CÔ 姑 là Chi Em Gái của Cha ? Còn CỤ là CỤ nào ? là CÔNG CỤ 工具 hay CỤ 懼 là Sợ ? Nhưng theo các nghĩa trên thì CÔ và CỤ không thể đối nhau được, đừng nói tới chuyện " đối nhau chan chát "! Còn bảo CÔ là Bà Cô, CỤ là Ông CỤ thì càng sai hơn nữa, vì Ông CỤ chữ CỤ nầy là tiếng Nôm, không thể đối với CÔ là từ Hán Việt được ! Muốn đối được với chữ CÔ 姑 là Chị em gái của cha thì có THÚC 叔 là Chú, BÁ 伯 là Bác hay CỰU là Cậu mà thôi ! Nhưng nếu như thế thì cái giai thoại văn chương nầy bị " hỏng " mất, vì Tú Tài Văn Bình có thể dùng từ THÚC hoặc BÁ để đối với từ CÔ, và câu đối sẽ là :

               " VĂN BÌNH LAI BẮC THÚC hay BẮC BÁ "

thì cũng hỏng bét, vì không nói lên được cái " thâm ý " của Ông Thủ Khoa. Nhưng tại sao Ông lại ra chữ CÔ và tại sao Văn Bình lại buộc phải đối là CỤ ? Tôi đem thắc mắc nầy hỏi rất nhiều thầy dạy chữ Hán, nhưng đều không được giải đáp thỏa đáng !... Đến sau nầy, khi tôi đã trở thành thầy dạy chữ Nho, tôi cũng không dám kể giai thoại nầy cho bạn bè nghe, vì sợ họ thắc mắc như tôi, nếu họ hỏi thì làm sao mà trả lời đây ?!...

        Mãi cho đến hơn ba mươi năm sau, khi tôi đang mò mẫm để dịch thơ Đường, lúc dịch đến bài " CẬN THÍ THƯỢNG TRƯƠNG THỦY BỘ " của Châu Khánh Dư, khi đến câu " Đãi hiểu đường tiền bái CỰU CÔ 待曉堂前拜舅姑 " tôi mới chợt " Ngộ " ra rằng :

      CỰU là Ông già Chồng đối với CÔ là Bà già Chồng.

      CƯU là Anh em trai của Mẹ đối với CÔ là Chị em gái của Cha. 

      Nên ...

      Khi ông Thủ Khoa Nghĩa ra chữ CÔ 姑 thì Tú Tài Văn Bình mới đối ngay là CỰU 舅. CÔ đối với CẬU thì không còn gì chỉnh hơn được nữa; và " Ông già Chồng " đối với " Bà già Chồng " thì qủa là " đối nhau chan chát " thật sự !

      Nhưng... " VĂN BÌNH LAI BẮC CỰU " thì vẫn chưa " đạt yêu cầu " của ông Thủ Khoa. Đây chính là điểm chính yếu, là cái mấu chốt của giai thoại nầy. Ông Thủ Khoa đã khéo lợi dụng lời ăn nói và cách phát âm giản dị, tùy tiện của dân Nam Kỳ Lục Tỉnh như " uống rượu " thì nói là " uống gụ ", " đời cô Lựu " thì nói là " đời cô Lụ ", " Quốc Cựu " thì nói là " Quốc Cụ " ... nên mới khiến cho Tú Tài Văn Bình là người Gia Định tự mình ... LAI BẮC CỤ !

 

       Xin được kết thúc " Võ Trắc Vãng Nam Cô " ở đây. Mong tất cả đều có được một giây phút ... thư giản và vui tươi trong " ba ngày Xưng con Gà " !

 

                                                                  Đỗ Chiêu Đức

  

NĂM GÀ NÓI CHUYỆN ... CON KÊ !

 dcd_namga_1.jpg

               

 

        KÊ 鷄 là từ Hán Việt chỉ Con Gà, Gà là Kê, Kê là Gà, là ... Gà Kê Dê Ngỗng. Bà con ta thường nói thành " Cà Kê Dê Ngỗng ". Năm Gà nói chuyện...con Kê là nói chuyện phiếm, chuyện tào lao, chuyện bao đồng về con gà để nghe chơi khi trà dư tửu hậu.

        GÀ được xếp hàng thứ Mười, thuôc chi DẬU trong Thập Nhị Địa Chi. Năm nay Thiên Can nhằm chữ Đinh, nên năm 2017 là năm ĐINH DẬU. Nam phương Bính Đinh thuộc Hỏa là Lửa, hợp với chi Dậu là Con Gà. Nên ĐINH DẬU là Con Gà Lửa ... mà con gà bỏ vô lửa thì thành ... Con Gà Quay. Vậy là năm 2017 nầy bà con ta tha hồ mà hưởng lộc " Gà Quay " nhé ! Không sợ bị đói như năm ẤT DẬU 1945. Vì Đông Phương Giáp Ất thuộc Mộc, nên ẤT DẬU là con gà bằng ...Mộc, bằng Cây, mà gà bằng Cây thì làm sao ăn cho được, không đói mới là lạ !

        GÀ là KÊ 鷄, KÊ là chữ Tượng Hình trong Lục Thư, là cách đầu tiên trong 6 cách tạo hình của Chữ Nho ... dễ học, theo diễn tiến của chữ viết như sau :

       Giáp Cốt Văn   Đại Triện       Tiểu Triện      Lệ Thư 

                         

      Ta thấy :

     Giáp Cốt Văn là hình tượng của con gà trống hiên ngang với cái mỏ hướng về bên trái và cái vương miện vươn cao ở trên đầu, hai cánh bên dưới xòe ra như đang đập cánh chuẩn bị cất cao tiếng gáy vào buổi sáng. Nhưng qua Đại Triện và Tiểu Triện do sự biến thiên của chữ viết qua các thời đại, chữ KÊ 鷄 được hình thành bởi Hình Thanh ( Cách tạo chữ thứ 4 của Chữ NHO ... dễ học ) với chữ HỀ 奚 bên trái chỉ Âm và chữ ĐIỂU 鳥 bên phải chỉ Ý, nên chữ KÊ hiện tại được viết như thế nầy 鷄, chữ Điểu bên phải có thể thay bằng bộ CHUY 隹 là Loài chim đuôi ngắn, nên chữ KÊ cũng được viết như sau 雞. Ta có 4 hình thức của chữ KÊ :

                  Giản thể                   Phồn thể

               鸡           鳮             雞              鷄

             7 nét      13 nét       18 nét       21 nét

 

       Vì đến 2 hình thức chữ Phồn Thể, mà chữ phức tạp nhất có đến những 21 nét, nên KÊ thuộc dạng chữ khó nhớ ngày xưa khi học chữ Nho, cho nên mới có câu chuyện vui " Tam Đại của Con Gà " sau   đây về ông Thầy Đồ...dốt. Truyện kể :

        Xưa, có anh học trò học hành dốt nát, nhưng trò đời " Xấu hay làm tốt, dốt hay ... xổ Nho ", đi đâu cũng lên mặt văn hay chữ tốt.

 Có người tưởng anh ta hay chữ thật, mới đón về dạy trẻ.

        Một hôm, đang dạy sách Tam Thiên Tự 三千字, sau chữ " Tước " là chim sẻ, đến chữ " KÊ " là gà, thầy thấy mặt chữ nhiều nét rắc rối, không biết chữ gì, học trò lại hỏi gấp, thầy quýnh qúa, nói đại nói càn : " Dủ dỉ là con dù dì ". Thầy cũng khôn, sợ lỡ sai người nào biết thì mắc cở, mới bảo học trò đọc nhỏ thôi, tuy vậy, trong lòng thầy vẫn lo âu thấp thỏm.

        Nhân trong nhà có bàn thờ Thổ Địa Thần Tài, thầy mới đến khấn thầm xin ba keo âm dương để xem chữ đó có phải thật là " dù dì " không. Thổ công cho ba keo đều được cả ba.

        Thấy vậy, thầy lấy làm đắc ý lắm, hôm sau bệ vệ ngồi trên giường, bảo trẻ đọc cho to. Trò vâng lời thầy, gân cổ lên gào:

      - Dủ dỉ là con dù dì ! Dủ dỉ là con dù dì...

        Ông cha của sấp nhỏ đang cuốc đất ngoài vườn, nghe tiếng con học, ngạc nhiên mới bỏ cuốc chạy vào, giở sách ra xem, rồi hỏi thầy :

     - Thầy ơi ! Chữ " KÊ " là gà, sao thầy lại dạy thành " dủ dỉ " là con " dù dì " ?

       Bấy giờ thầy mới nghĩ thầm : " Mình đã dốt, Thổ Địa Thần Tài nhà nó còn dốt hơn mình nữa ", nhưng Thầy cũng lanh trí, nên vội nói đỡ là :

     - Tôi cũng biết chữ đó là chữ " kê  ", mà " kê " nghĩa là " gà ", nhưng tôi dạy cháu như thế là dạy cho chúng nó biết tận Tam Đại 三代 của con gà kia !

      Chủ nhà càng không hiểu ất giáp gì cả, hỏi :

    - Tam Đại 三代 của con gà là nghĩa ra làm sao?

    - Là ba đời của con gà đó ! Này nhé," Dủ dỉ là chị con Công, con Công là ông con Gà." Thế, chả phải Tam Đại của con gà là gì ?! 

     

            DẬU đứng hàng thứ Mười trong Địa Chi, nhưng lại là Tháng Tám Âm lịch. Ngày Dậu là ngày được xếp sau ngày Thân và trước ngày Tuất. Giờ Dậu là từ 5 đến 7 giờ chiều tối, nên ông bà ta ngày xưa có để lại mấy câu nói sau đây :

              Mạc ẩm Mão thời tửu,    莫飲卯時酒,

              Hôn hôn túy đáo Dậu.    昏昏醉到酉.

              Mạc mạ Dậu thời thê,     莫罵酉時妻,

              Nhất dạ thụ cô thê.        一夜受孤凄.
 Có nghĩa :

  *  Đừng uống rượu vào giờ Mão ( từ 5 đến 7 giờ sáng ). Vì sẽ bị...

      Say sưa mơ màng cho đến giờ Dậu ( từ 5 đến 7 giờ tối ). Vậy là

        suốt ngày sẽ không làm ăn gì được cả !

  *  Đừng mắng vợ vào giờ Dậu, vì chiều tối mà vợ chồng giận nhau

        thì suốt đêm sẽ chịu lạnh lẽo cô đơn có một mình, cũng sẽ

        không " làm ăn " gì được cả !

      Tâm lý qúa cở " thợ mộc "! Ai bảo là ông bà ngày xưa không biết tâm lý tình cảm và bảo vệ hạnh phúc gia đình đâu !?

      

      DẬU kết hợp với TỴ và SỬU thành Tam Hạp. Trâu Bò hợp với Gà thì còn được, chớ Trăn Rắn làm sao mà hợp với gà cho được, thấy gà là chúng quấn cho nát xương rồi nuốt trửng nguyên con như chơi. Không biết mấy thầy Tử Vi tướng số ngày xưa căn cứ vào cái gì mà  xếp cho con Gà và con Rắn hợp nhau ? Rắn thì chắc OK rồi, nhưng gà mà gặp rắn là chạy " tét ghèn " luôn, làm sao mà hợp cho được !

      DẬU lại cùng với TÝ, NGỌ và MÃO, ta gọi là Tý Ngọ Mẹo Dậu thành một bộ Tứ Hành Xung. Ba lần bốn mười hai, cho nên hễ vợ chồng cách nhau 3, 6 hoặc 9 tuổi là lọt vào Tứ Hành Xung ngay ! Nên ngày xưa đi cưới vợ phải coi tuổi là vì thế ! Tuyệt đối kỵ 3, 6, 9, nhất là  cách nhau 6 tuổi sẽ lọt vào số Chánh Xung, như : Dần và Thân, Tỵ và Hợi, Tý và Ngọ, Mẹo và Dậu, Thìn và Tuất, Sửu và Mùi đều cách nhau 6 tuổi, bảo đãm không xung không lấy tiền !

dcd_12congiap.jpgdcd_namga_3.jpg 

 

       Trong thần thoại, GÀ là MÃO NHẬT KÊ 昴日雞, là ngôi thứ tư trong Bạch Hổ Thất Tinh, thuộc 7 vì sao nằm ở phương Tây của Nhị Thập Bát Tú 二十八宿, hướng Tây thuộc mùa Thu, cũng là mùa thu hoạch nông phẩm xong, cửa nhà đã đóng. Nên Mão Nhật Tinh thuộc nhóm Hung Tinh ( Sao dữ ), thường mang đến tai ương bất lợi, hung đa kiết thiểu ( cho những người chưa thu hoạch hay bị mất mùa thất thu : Chắc chắn sẽ bị đói !). 

                dcd_namga_4.jpg 

            

          Mão Nhật Kê được tạo hình trong phim Tây Du Ký
      

       GÀ là một trong lục súc sống cùng với con người qua mấy ngàn năm lịch sử. Dựa theo các giả định Cổ Khí Hậu Học, có làm một nghiên cứu vào năm 1988 cho rằng gà được thuần hóa ở vùng Hoa Nam vào năm 6000 trước Công nguyên. Nhưng, một nghiên cứu khác vào năm 2007 cho rằng Gà xuất xứ từ Văn minh lưu vực sông Ấn (2500-2100 trước Công nguyên), nơi mà ngày nay thuộc lãnh thổ của Pakistan, có thể là nguồn chính cho sự lan truyền của các giống gà trên toàn thế giới.

        Trong Lục Súc Tranh Công, một tác phẩm văn học dân gian của ta, trước đây được xếp trong chương trình Cổ Văn của lớp Đệ Thất, đã cho con Gà nói về mình như sau :

 ................................

Này này! gà ngũ đức thẳm sâu:
Nhân, dũng, tín, võ, văn, gồm đủ.
Trên đầu đội văn quan một mũ;
Dưới chân đeo hai cựa thần thương.
Đã ghe phen đến chốn chiến trường.
Lập công trận vang tai, lói óc,
Thủa Tây Lũng tam canh trống thúc;
Gà gáy đầu ba tiếng đêm khuya,
Một tiếng rằng: thiên nhật tác thì;
Hai tiếng rằng: quốc tộ tác xương,
Ba tiếng rằng: nhân gian tác lạc,
Đã cứu nạn Mạnh Thường đặng thoát;
Lại khuyên người Tấn sĩ năm canh.
Hễ ai toan cải dữ về lành,
Gà cũng biết tỉnh, mê, giấc điệp.
Coi giò gà xét biết thịnh suy.
Dóng canh khuya vui dạ kẻ tiêu y,
Cất tiếng gáy, toại lòng người đãi đán,
                ...............................................

 

       Ta thấy bài kể công trên, Gà có nhắc đến "...cứu nạn Mạnh Thường ...". Mạnh Thường đó là Mạnh Thường Quân của nước Tề, một trong Chiến Quốc TỨ CÔNG TỬ 戰國四公子, là bốn Vương Tôn hào hiệp, chiêu hiền đãi sĩ thời Chiến Quốc, đó là :

 

 齐国孟尝君田文    Mạnh Thường Quân ĐIỀN VĂN của nước Tề.

 赵国平原君赵胜    Bình Nguyên Quân TRIỆU THẮNG của nước Triệu.   魏国信陵君魏无忌 Tín Lăng Quân NGỤY VÔ KỴ của nước Ngụy.

 楚国春申君黄歇    Xuân Thân Quân HOÀNG YẾT của nước Sở.

 

          dcd_namga_5.jpg
           Tứ Công Tử qua Minh họa và qua Điện ảnh

 

       Không phải đương không mà Tứ Công Tử nầy bỏ tiền của ra để nuôi ba ngàn thực khách trong nhà, mục đích chiêu hiền đãi sĩ của những vị nầy là để chiêu mộ tất cả nhân tài trong thiên hạ để chống lại nước Tần lớn mạnh đang lăm le thôn tính Thất Hùng....

       Trở lại với MẠNH THƯỜNG QUÂN, người nổi tiếng nhất trong Tứ Công Tử và ... con Gà đã cứu ông ta :

       Tần Chiêu Tương Vương nghe nói Mạnh Thường Quân tài giỏi, nên mời đến nước Tần, định phong làm Tể Tướng, nhưng lại lo ông ta là người nước Tề chỉ lo cho quyền lợi của nước Tề. Không dùng, lại định giết đi. Mạnh Thường Quân biết tin lo sợ, mới tìm người sủng thiếp của Tần Vương mà cầu cứu. Người thiếp nầy thấy trước đây  Mạnh Thường Quân có tặng cho Tần Vương một chiếc áo hồ cừu rất đẹp nên cũng muốn có một chiếc mới chịu giúp. Bí lối, vì chỉ có một chiếc duy nhất. Cũng may trong đám môn khách đi theo có một người chuyên đào tường khoét vách, đã lẻn vào cung vua Tần trộm chiếc áo hồ cừu đó ra để ông đem tặng cho người sủng thiếp. Nghe lời ỏn ẻn của người thiếp khi đầu gối tay ấp, Tần Vương thả Mạnh Thường Quân về nước. Không kịp đợi trời sáng, cả đoàn người ngựa kéo nhau lên đường. Tần Vương thả người xong thì hối hận, bèn cho binh lính đuổi theo bắt lại. Khi đoàn người của Mạnh Thường Quân chạy đến cửa thành thì trời chưa sáng, cửa thành chưa mở. Lại một

môn khách đi theo có người giỏi nhái tiếng gà gáy, khi ông ta cất tiếng gáy lên thì tất cả gà trong thành đều cất tiếng gáy theo. Lính canh thành tưởng trời đã sáng bèn mở toang cửa thành ra. Thế là cả đoàn người của Mạnh Thường Quân ra thành... chạy tuốt ! Khi quân Tần đuổi tới thì đoàn người đã đi xa lắc xa lơ rồi !

       Con Gà cứu Mạnh Thường Quân là con Gà...trong ba ngàn thực khách của ông ta, còn bầy Gà chỉ hùa theo tiếng gáy mà thôi ! Con Gà trong Lục Súc Tranh Công không biết thấu đáo mà cho là công lao của mình. Nhưng xét cho cùng, không có bầy gà cùng gáy thì chưa chắc lính canh đã chịu mở cửa thành ! Và ... cũng vì tích nầy mà ta có được thành ngữ :

       KÊ MINH CẨU ĐẠO 雞鳴狗盜 : là Gà gáy Chó trộm. Ý chỉ hai thực khách của Mạnh Thường Quân, một người chui lổ chó vào cung trộm áo; một người giả làm gà gáy sáng. Ý muốn nói những người tầm thường du thủ du thực nhiều khi cũng đắc dụng, cũng làm nên việc có ích hoặc cứu giúp lúc lâm nguy, chớ không phải hoàn toàn vô dụng. Nhưng thành ngữ nầy hiện nay thường dùng để chỉ hạng đầu trộm đuôi cướp, ba que xỏ lá, trộm gà bắt chó... mà đã mất đi ý nghĩa tốt đẹp của lúc ban đầu !

                        dcd_namga_6.jpg 

       
                               Kê Minh Cẩu Đạo

 

       Con Gà của Lục Súc Tranh Công còn kể lể :

 

              Lại khuyên người Tấn sĩ năm canh.

 

       TẤN SĨ 晉士 : là Kẻ sĩ của nước Tấn; ở đây chỉ TỔ ĐỊCH 祖逖 ( 266-321 ) và LƯU CÔN 劉 琨 ( 271-318 ) của thời Đông Tấn và Tây Tấn theo tích sau đây :

      Tổ Địch tự là Sĩ Nhã, người đất Yên Sơn. Ông là một Đại Tướng đầu đời Đông Tấn, có chí muốn khôi phục Trung Nguyên nên ra sức bắc phạt, từng lập được nhiều chiến công. Ông cùng với người bạn trẻ là Lưu Côn, tự là Việt Thạch, người đất Hà Bắc, là danh tướng đời Tây Tấn, là hậu duệ của Hán Trung Sơn Tịnh Vương. Lúc nhỏ cùng với Tổ Địch kết giao. Hai người thường bàn luận về chính sự, quốc sự đều tỏ ra rất tâm đắc, tuổi trẻ lòng đầy nhiệt huyết đều muốn cống hiến sức lực của mình cho Tổ quốc, nên mỗi đêm về sáng khi nghe được tiếng gà gáy là cùng nhau thức dậy để múa gươm luyện võ, trao dồi thể lực để mong có cơ hội ra giúp nước. Đêm đêm như thế, chẳng hề chểnh mảng đơn sai.

        Vì thế mà hình thành được thành ngữ VĂN KÊ KHỞI VŨ 聞雞起舞 : là Nghe tiếng Gà gáy thì dậy mà múa. Múa ở đây là Múa Gươm, vừa rèn luyện thân thể, vừa ôn tập võ nghệ. Thành ngữ nầy còn dùng để chỉ những người có chí muốn phục vụ cho quốc gia dân tộc, sẵn sàng cống hiến sức lực và tài năng của mình kịp thời và đúng  lúc để đáp lời sông núi. VĂN KÊ sẽ KHỞI VŨ ngay !

             dcd_namga_7.jpg
                                 

                            Văn Kê Khởi Vũ
 

     Tiếng gà gáy sáng khi màn trời còn phủ sương đêm, làm ta chợt nhớ đến cô Kiều " Đêm khuya thân gái dặm trường, Phần e đường xá phần thương dãi dầu !" khi trốn khỏi Quan Âm Các của Hoạn Thư một thân một mình với cảnh :


                        Mịt mù dặm cát đồi cây,
             Tiếng gà điếm nguyệt dấu giày cầu sương.

 

     " Tiếng gà điếm nguyệt dấu giày cầu sương " là lấy ý và thoát dịch một cách tuyệt vời 2 câu thơ trong bài THƯƠNG SƠN TẢO HÀNH 商山早行 của Ôn Đình Quân 溫庭筠 đời Đường là :


           Kê thanh mao điếm nguyệt,   雞聲茅店月,
           Nhân tích bản kiều sương.     人跡板橋霜.

Có nghĩa :
   Tiếng gà xao xác gáy ở quán lá ven đường khi trăng còn chênh chếch bên trời, và...
   Trên chiếc cầu ván nhỏ bắt ngang qua lạch nước còn đẫm sương đêm đã có một vài dấu chân người đi qua.
   Cảnh vắng vẻ lạnh lùng của buổi sớm mai càng làm tăng thêm nỗi cô đơn thấp thỏm của người đang tìm đường tị nạn !...

 

                dcd_namga_8.jpg

               Tiếng gà điếm nguyệt dấu giày cầu sương.

 

     Con GÀ của Lục Súc Tranh Công còn tự hào về hình dáng của mình :

                 Trên đầu đội văn quan một mũ;
                 Dưới chân đeo hai cựa thần thương.
     Qủa là Văn Võ Song Toàn với " văn quan một mũ " và " hai cựa thần thương ". Hình dáng của con gà trống thì qủa thật không chê vào đâu được. Mỏ vàng mồng đỏ, lông cánh lông đuôi màu sậm, lông mình sặc sở đỏ vàng xanh, bước đi bệ vệ, vỗ cánh phần phật làm cát bụi tung bay đầy trời trước khi cất cao tiếng gáy : " Ò  Ó  O Ò  O ... " đó là Gà Việt Nam; còn Gà Tàu thì gáy : " wu wu ti 喔喔啼 ... ". Hồi xưa khi mới đậu Đệ Thất, tới giờ học Pháp Văn mới lần đầu tiên nghe tiếng gà Tây gáy : " Cocorici, co-co-ri-co ...". Bây giờ định cư ở Mỹ, nghe mấy đứa cháu nội cháu ngoại cho gà gáy bằng tiếng Anh : " Cock-a-doodle-doo, cock-a-doodle-doo ... !". Thật cảm khái vô cùng !!!

      Gà oai phong là thế, đẹp rực rỡ là thế, nhưng khi có một con Hạc lạc vào thì lại trở nên tầm thường nhỏ bé, nên ta lại có thành ngữ : HẠC LẬP KÊ QUẦN 鶴立雞群 có nghĩa là " Hạc đứng giữa bầy gà ". Đương nhiên Hạc trông cao ráo thanh thoát hơn hẵn bầy gà thấp lè tè bên dưới. Tiếng Việt ta còn nâng lên một cấp nữa, ta nói là " PHỤNG LỘN VỚI GÀ " Phụng chẳng những cao lớn hơn mà còn đẹp rực rỡ hơn gà nhiều ! Câu " Hạc lập Kê Quần " có xuất xứ từ điển tích " Trúc Lâm Thất Hiền luận " của Đái Mục đời Tấn như sau :

        KÊ THIỆU làm quan Thị Trung cho Tấn Huệ Đế, người khôi ngô cao lớn thông minh anh tuấn, văn võ song toàn. Lúc bấy giờ hoàng tộc nhà Tấn đang tranh quyền đoạt vị, giết hại lẫn nhau, mạnh ai nấy xưng vương, sử gọi là " Bát Vương Chi Loạn ". Kê Thiệu vẫn một mực trung thành với Tấn Huệ Đế. Lúc kinh thành có loạn Kê Thiệu đứng chặn trước cửa cung, loạn quân thấy vẻ hiên ngang hùng dũng của Kê Thiệu khiếp đãm đến không dám xạ tiễn. Khi Tấn Huệ Đế thua chạy ở Thang Dương, tướng sĩ chết vô số, Kê Thiệu vẫn theo sát để bảo vệ Huệ Đế đến nỗi thân mình trúng mấy mũi tên, máu nhỏ cả lên long bào của Huệ Đế và ông đã hy sinh trong trận chiến nầy. Sau đó, những người tùy tùng định tẩy giặt những vết máu trên long bào, Huệ Đế đã ngăn lại bảo đó là máu của Thị Trung Kê Thiệu không được giặt đi. Khi Kê Thiệu lần đầu đến Lạc Dương, đi trong đám đông người, thân hình cao lớn, khí vũ hiên ngang, như là con Hạc đứng giữa bầy Gà vậy, từ đó mà hình thành thành ngữ HẠC LẬP KÊ QUẦN 鶴立雞群 để chỉ những người vượt trội hơn người khác chẳng những về sức vóc mà cả về tài năng nữa !

         KÊ THIỆU là con của KÊ KHANG, một trong TRÚC LÂM THẤT HIỀN:Gồm có Nguyễn Tịch 阮籍、Kê Khang 嵇康、Sơn Đào 山涛刘伶 Lưu Linh、阮咸 Nguyễn Hàm、向秀 Hướng Tú、王戎 Vương Nhung; Họ sống và ở ẩn giữa đời Ngụy và đời Tấn. KÊ KHANG chẳng những là Nhà Tư Tưởng, nhà Văn Học mà còn là Nhà Âm Nhạc nổi tiếng lúc bấy giờ với bản đàn Quảng Lăng Tán 廣陵散, mà cụ Nguyễn Du đã mượn NÓ để khen tài đờn của Thuý Kiều, khi cô đờn cho Kim Trọng nghe lần đầu tiên là :

                      Kê Khang nầy khúc Quảng Lăng,

                   Một rằng lưu thủy hai rằng hành vân.

        dcd_namga_9.jpg

              Hạc Lập Kê Quần                 Trúc Lâm Thất Hiền 

 

      YAO MING 姚明 : là Diêu Minh ( người mặc áo đỏ trong hình trên ), cầu thủ bóng rổ của Trung Quốc được Hội Bóng Rổ nhà nghề Rocket của thành phố Houston ký hợp đồng từ năm 2003 đến 2008 để tranh Giải Bóng Rổ Toàn Quốc Hoa Kỳ NBA. Yao Ming có thân hình cao 7'6" ( 226cm )= 2 mét 26, nên khi đứng giữa các cầu thủ khác thì như là  HẠC LẬP KÊ QUẦN 鶴立雞群 vậy ! 

      Con GÀ trống oai vệ mạnh mẽ là thế, nên có những con người yếu đuối không thể khống chế nỗi con gà, ngay khi cả con gà đã bị kềm chế ... thúc thủ chịu trói rồi mà còn trói không chặc, để đến đỗi mang tiếng là THỦ VÔ PHƯỢC KÊ CHI LỰC 手無縛雞之力 là Tay không đủ sức để trói gà. Thành ngữ nầy thường dùng để chỉ những chàng thư sinh ngày xưa, tối ngày chỉ biết ôm lấy quyển sách, miệng luôn đọc câu THI VÂN 詩云 ...TỬ VIẾT 子曰 ... ( Kinh Thi nói rằng... Khổng Tử dạy rằng ... ) mà không chịu rèn luyện thân thể cho khỏe mạnh để đến nỗi không có sức trói nỗi con gà, ta nói là " Thứ cái đồ thư sinh trói gà không chặc !".

       Nhưng dù " Trói gà không chặc " nhưng các bà các cô ngày xưa cũng vẫn cứ ... xáp vào ! Và còn biện bạch là :

                       Chẳng tham ruộng cả ao liền,

                    Tham vì cái bút cái nghiên anh đồ !

       Khéo mà nói xạo ! Chẳng là vì " Cái bút cái nghiên " của anh đồ, một khi " ảnh " Kim Bảng Đề Danh thì sẽ có được " Ruộng cả Ao liền " như chơi mà thôi ! Nên khi còn hàn vi thì đành bóp bụng mà GIÁ KÊ TÙY KÊ, GIÁ CẨU TÙY CẨU 嫁雞隨雞,嫁狗隨狗 Là Gả cho Gà thì theo Gà, Gả cho Chó thì theo Chó, mười hai bến nước, trong thì nhờ, đục thì  ... chịu khó " lóng phèn " mà thôi !

       Con Gà rất gần gũi với người nông dân Việt Nam, là gia cầm quen thuộc và gắn bó mật thiết với đời sống hàng ngày của dân nước nông nghiệp, nó còn xuất hiện rất nhiều trong ca dao, tục ngữ để khuyên nhủ, nhắc nhở hay chê trách một điều gì đó trong cuộc sống, đôi khi lại cảm thông tưởng thưởng, như những người góa vợ mà chịu khó " Gà trống nuôi con "; những người biết nhẫn nhịn, không như " Con gà tức nhau vì tiếng gáy ". Khi chê trách thì không thiên vị người nào, kể cả các bậc vua chúa như Lê Chiêu Thống cũng bị quở là " Cõng rắn cắn gà nhà "!. Anh em trong nhà thì luôn được nhắc nhở là " Anh em như thể tay chân ", nên :

                     Khôn ngoan đá đáp người ngoài,

                   Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau !

        Khuyên thì khuyên vậy, chớ đôi khi vì quyền lợi, tài sản, thậm chí chỉ vì miếng cơm manh áo vẫn có thể " Gà nhà bôi mặt đá nhau như thường !". Có được đứa " Con gái rượu " lấy chồng giàu sang quyền quý, thậm chí được làm Thiếp làm Phi của vua, như Dương Qúy Phi ngày xưa, hoặc như cô Giả Nghinh Xuân trong Hồng Lâu Mộng của Tào Tuyết Cần thì cả nhà đều được vinh hoa phú qúy như có được " Con Gà đẻ trứng vàng " vậy ! Trước mắt, các cô lấy chồng ngoại quốc, hay Việt Kiều Mỹ, Úc, Canada ... thường xuyên gởi " đồ tiên " ( là  Tiền Đô ) về cho gia đình chi dụng, cũng gọi được là có " Con Gà đẻ trứng vàng ", hay mĩa mai hơn thì nói là " Gia đình đó có được miếng đất xéo ở bên Mỹ đó !".

 

        dcd_namga_10.jpg
          Gà trống nuôi con    " Đồ Tiên "      Gà đẻ trứng vàng
 
        Con GÀ đi liền với con người từ bé đến lớn, từ nhỏ đến già. Hình ảnh đàn gà con tíu tít bên gà mẹ, hay hình ảnh gà mẹ dang rộng đôi cánh ra để che chở cho con mình, luôn là hình ảnh đẹp trong hội họa, trong nhiếp ảnh ... Không buồn như cảnh :

                         MẸ GÀ CON VỊT chít chiu,

                   Mấy đời mẹ ghẻ thương yêu con chồng !

        Nhắc đến " Mẹ Gà Con Vịt " lại nhớ đến bốn chữ " Đầu Gà Đít Vịt " của dân miệt Cần Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu ... để chỉ các cô gái người Hoa lai ... Miên. Các cô em nầy có nước da ngâm ngâm... bánh it, với đôi mắt to đen lay láy, đặc biệt là hai hàng lông nheo dài cong vút thường hay chớp chớp như để hớp hồn người đối diện. Nhất là các cô người Tiều Châu. Trong truyện ngắn " Đầu Gà Đít Vịt " của nhà văn Bình Nguyên Lộc, ông đã viết như thế nầy :....

    ... Người đàn bà cha Tàu mẹ Miên vừa có sắc đẹp, lại vừa ngây thơ, chân thật, dễ yêu lắm !

                  dcd_namga_12.jpg 

           Trứng gà, thịt gà với đủ các món như Ốp la, Ốp lết, Xé phay, Luộc, Nướng,  Quay, Chiên, nấu Cà-Ri ... luôn hiện diện hằng ngày trong các bửa ăn gia đình. Định cư ở Mỹ rồi thì lại càng " gần gũi " với thịt gà hơn, vì đây là món thịt rẻ nhất nước Mỹ, với 10 pounds ( khoảng 4 ký Rưởi ) Leg quarters ( Phần tư gà có luôn đùi ) lắm khi hạ gía chỉ còn có một đồng 99 xu mà thôi. Bửa ăn tiện lợi và nhanh nhất cho những ngày bận rộn là Fry chicken ( Gà lăn bột chiên ). Bảo đãm rất ngon miệng, rất no nê và sẽ ... rất mau lên cân, rất mau lên máu ! Và cũng sẽ rất mau ... " quáng gà ", " Trông gà hóa cuốc ", đưa đến cảnh " Ông nói gà bà nói vịt " : Đi chưa tới chợ mà mua tương cái nổi gì !

        Bà con miền Bắc nói : " Con gà cục tác lá chanh ", tôi không biết là họ đang làm món gì, chắc họ đang ăn gà luộc ?! Tôi là dân Nam Kỳ lục Tỉnh chỉ biết " Rau răm nó hại con gà chết tươi !" Thịt gà " xé phay " thì không thể nào thiếu rau răm cho được. Thịt gà ngoài việc xào gừng, xào xã ớt, còn một món xào thật đặc sắc mà không dân nhậu nào không thích cả, đó chính là " Gà xào bún nấm củ hành !", nhậu cũng " bắt " mà ăn cơm cũng " hết xẩy " luôn ! Rất thực tế chân thật, không mĩa mai như miền ngoài :

                          Gà tơ xào với mướp già,

                   Vợ hai mươi mốt chồng đà sáu mươi.

        Nói đến đây, lại nhớ đến một câu chuyện dân gian về " ăn chia " thịt gà trong gia đình; để thay đổi không khí, xin được kể theo kiểu phóng tác của ông Ly Cu Tê ở CANADA, vừa có phong thái cổ điển lại vừa có hơi hám thời sự của hiện tình đất nước .... Trích :

 

        Xưa bên nước Vệ có ông nọ làm quan đến chức Tể Tướng. Hơn thập niên nắm quyền sinh sát trong triều đình, của cải ngân lượng ở bá tánh thuộc về ông không biết cơ man nào mà kể. Ngày kia, biết mình đã sắp đến lúc bị cho về vườn giăng câu đặt trúm, chích thuốc dạo, Tể Tướng bèn sai gia nhân làm thịt một con gà mái dầu luộc chín bày lên dĩa, sau đó ông gọi các con lại mà rằng:

      - Các con nghe đây, tuổi cha nay đã cao, sức nhai sắp hết mà sức bú cũng chẳng còn, thời khắc giã từ mũ mão áo gấm không còn xa nữa. Hôm nay ta có con gà luộc, các con hãy tới chọn một bộ phận trên mình gà, rồi làm câu thơ ứng với thứ mình chọn. Để ta biết chí hướng của từng đứa mà lo đường công danh sự nghiệp mai sau cho !

       Bốn người con đồng thanh dạ ran. Chàng trưởng nam giơ tay xin ứng khẩu trước, anh bước tới đĩa ngắt lấy cái đầu gà bỏ vào chén mình, rồi dõng dạc ngâm:

     - Trai thời trung hiếu làm ĐẦU !

Ông quan nghe vậy khoái chí phán:

     - Chọn đầu gà chứng tỏ con là người thao lược, lắm mưu nhiều kế. Để ta cho con làm quan ở bộ Xây, mỗi năm xây chừng mười cái tượng đài và tháp tàng hình thì mặc sức mà đếm ngân lượng !

       Đến phiên người chị cả bước lại bàn bẻ cặp đùi, hai cánh và chiếc phao câu, rồi thong thả ứng khẩu:

     - Gái thời tiết hạnh PHAO CÂU, CÁNH, ĐÙI !

Tể tướng nghe xong vuốt tóc con gái tấm tắc khen:

     - Giỏi lắm con gái rượu của ta, chọn đùi cánh là số phải đi xa, chọn phao câu là người đảm đang có hậu. Được, ta cho con qua xứ Cờ Hoa du học, rồi kiếm thằng Vệ kiều liu vong nào bên ấy mà kết tình phu phụ đặng yên bề gia thất nghe chưa !

       Người thứ ba là cô con dâu, nàng rón rén bước lại đĩa gà bê nguyên bộ lòng e thẹn ngâm nga:

     - Phần con một DẠ một LÒNG !

       Thấy con dâu xinh đẹp mặt hoa da phấn chọn bộ lòng gà, Tể tướng gật gù:

     - Lòng mẹ bao la như biển Thái Bình, con đã chứng minh lòng hiếu thảo với gia đình ta, sau này con sẽ là đệ nhất phu nhân xứ Vệ !

       Người cuối cùng là chàng út có dung mạo giống cha mình hồi trẻ như đúc, anh nhanh nhảu bước lại đĩa rinh hết cái mình gà, rồi hí hửng đọc:

    - Công cha nghĩa mẹ hết MÌNH vì con !

Ông quan vỗ đùi đánh đét một phát, rồi đưa tay vuốt vuốt chiếc cằm nhẵn thín, mặt ngửa lên trời cười ha hả ý chừng vô cùng khoái lạc:

    - Kha khá khá. Đúng là hổ phụ sanh hổ tử, chọn mình gà chứng tỏ biết bao quát nhìn xa trông rộng giống ta, nay ta cho con về cai quản vùng đất Trung phần, ở đấy rất thuận lợi cho việc thăng quan tiến chức của con sau này !

       Bốn người con cúi đầu vâng mệnh ai về chỗ nấy. Bắt đầu từ hôm đó cô chị cả được ông cho qua xứ Cờ Hoa du học, rồi yên bề gia thất với một chàng Vệ kiều lưu vong. Người con trai thứ được ông cho về bộ Xây, nghe đâu mới được thăng lên quan đầu tỉnh thuộc miền Tây giang thuỷ. Chàng út cùng cô dâu xinh đẹp giờ đang cai quản miền Trung nắng gió đầy sản vật, chuyện đến đây không có gì đáng nói.

       Nhiều năm sau, câu chuyện chia gà của ông quan Tể Tướng bị lũ dân đen bần nông vàng vẩu đất Vệ đồn đãi khắp hang cùng ngõ hẻm nên người trong thiên hạ mới có thơ rằng:

                     Con vua thì cứ làm vua,
                 Con sãi ở chùa vẫn quét lá đa,
                     Còn lâu dân mới dám... nổi can qua,
               Nên con vua cứ thế mà... làm cha dài dài !

         

         dcd_namga_13.jpg
                   

 

         Sau khi Tổng Thống Ngô Đình Diệm quyết định xóa số 2 sòng bạc lớn nhất Sài Gòn Chợ Lớn là Kim Chung và Đại Thế Giới, thì đề 36 không còn nữa . Nhưng nhóm quân đội người Nùng giúp Tổng Thống dẹp loạn Bình Xuyên vẫn còn xổ đề ở vùng Cây Da Xà Phú Lâm Chợ Lớn, và họ đã thêm vào 4 con nữa cho đủ 40. Bốn con thêm vào là 37 Thiên Công ( Ông Trời ), 38 Địa Chủ  ( Đất Đai ), 39 Thần Tài và 40 là Táo Quân ( Ông Táo ). Theo đề 36, thì CON GÀ tên chữ là NHỰT SƠN, đứng đầu trong nhóm TỨ HÒA THƯỢNG mang số 28, nếu đánh theo Xổ số Kiến Thiết từ 00 đến 99, thì phải thêm một con 68 nữa là Con Gà Lớn, theo như ...

                     Đêm qua mơ thấy con gà,

                     Sáng ra 28 cứ đà ghi ngay.

                     Số lớn 68 chẳng sai,

                     Ai dè nó xổ ...con Nai ... hết tiền !

          Nạn đánh đề càng trầm trọng khi xã hội càng phân biệt giàu nghèo. Dân càng nghèo càng phải chạy theo cuộc sống và càng mê số đề hơn, và... càng thua nhiều hơn nữa, rồi càng phát sinh nhiều tệ nạn xã hội hơn và cuối cùng là xã hội càng băng hoại hơn ! Đến nỗi phát sinh thêm một loại gà mới : " Gà Móng Đỏ " ! Nghe mà đau lòng, vì đây không phải là Gà thật, mà là tiếng lóng dùng để gọi các cô gái ăn sương, bán trôn nuôi miệng, sống lang thang vất vưởng  mà người đời miệt thị là hạng " Mèo mả Gà đồng ", như Hoạn Bà, mẹ của Hoạn Thư đã hạ nhục Thúy Kiều :

                       Con này chẳng phải thiện nhân,

                Chẳng phường trốn chúa thì quân lộn chồng

                       Ra tuồng MÈO MẢ GÀ ĐỒNG,

                 Ra tuồng lúng túng chẳng xong bề nào !

        Buồn thay số đề ! Con Gà là NHỰT SƠN 日山, là Trời đã về chiều, Mặt trời sắp lặn xuống núi. Theo số đề hoài thì đời sẽ sớm ... về chiều và sẽ ... lặn xuống núi luôn ! Thua đề hết tiền thì đi vay nguội, vay nóng, vay " xã hội đen " ký giấy nợ với mức lời cắt cổ " Xanh xít đít đui ( cinq six dix douze : Mượn 500 thì cuối tháng trả 600; mượn 1000 thì cuối tháng phải trả 1200 )." Bút đã lỡ sa, thì Gà cũng chết ngắt !". Ông bà ta dạy :

                   Nhất tự nhập công môn,   一字入公門,

                   Cửu ngưu đà bất xuất.      九牛拖不出。

Có nghĩa :

     Một chữ đã " lỡ " vào đến công đường rồi, thì ...

     Sức mạnh của chín con trâu cũng kéo ra không nỗi !

    " Bút đã lở sa, thì Gà phải chết " mà thôi ! Như nhắc đến câu " Cỏng rắn cắn gà nhà, Rước voi giày mả Tổ " là bàng dân thiên hạ sẽ nghĩ ngay đến ông vua cuối cùng của triều Hậu Lê :

                                   Lê Chiêu Thống  !

 

                dcd_namga_15.jpg

                               Bút  sa  gà  chết


       Gà chết vì là món ăn khoái khẩu của người đời, nên hễ có dịp là mỗ gà, là giết gà, là làm thịt gà để đãi nhau khi gặp bạn, để ăn nhậu lúc hội hè. Thề thốt nghiêm trang thì vặn cổ gà, Tế thần tế thánh cũng cắt cổ gà, cúng quải ông bà cũng luộc con gà ... Hễ có dịp là sẽ mượn cớ để giết gà, giết gà để dọa khỉ, mất đồ mất đạc thì vái cúng con gà ... Con gà được dùng để trả lễ cho thần thánh, dùng để trả ơn, như ở Mỹ hiện nay, mỗi năm trong ngày Lễ TẠ ƠN ( Thanksgiving ) hơn 50 triệu con Gà Tây được đưa lên bàn ăn để  làm lễ " Tạ Ơn "...

         Lễ Tạ Ơn ở xứ Mỹ nầy được cho là bắt nguồn từ lễ kỷ niệm tại Plymouth, Massachusetts, nơi những người hành hương tị nạn tôn giáo Anh đã mời người da đỏ bản địa đến dự một bữa tiệc thu hoạch sau một vụ mùa bội thu để tỏ lòng biết ơn.

         Vụ thu hoạch của năm trước bị thất bát là vào mùa đông năm 1620, một nửa số người hành hương bị chết đói. Những người sống sót may mắn được các thành viên của bộ lạc Wampanoag địa phương dạy cách trồng ngô, đậu, bí đỏ và đánh bắt cá hải sản, săn gà rừng....

        Bữa tiệc được tổ chức kéo dài trong 3 ngày, gồm các món như gà Tây, ngỗng, tôm hùm, cá tuyết và nai.

        Đặc biệt là mỗi năm, ít nhất có một con gà tây sẽ được Tổng thống Hoa Kỳ " ân xá ". Ân xá cho gà tây chính thức trở thành nghi lễ của Nhà Trắng dưới thời Tổng thống George H.W. Bush ( Bush cha ) vào năm 1989 khi ông " miễn tội " cho một con gà tây tại Vườn hoa hồng trong Nhà Trắng.

        Năm rồi, Tổng thống Obama đã ân xá cho một trong hai con gà tây tại Nhà Trắng vào ngày 23/11.

        Năm nay, Tổng thống tân cử Donald Trump sẽ quyết định có tiếp tục nghi lễ này không, hoặc ông sẽ chọn một hình thức khác ? Chúng ta hãy chống mắt chờ xem !

 

            Sang qua Pháp thì con Gà Trống trở thành thần vật, là biểu tượng của nước Pháp với danh xưng " Con Gà Trống Gô-loa ". Thực ra đây chỉ là một cách chơi chữ, rồi lộng giả thành chơn. Vì Tổ Tiên của Pháp là người Gô-loa ( Gaulois ),tiếng La-tinh viết là Gallus, mà Gallus còn có nghĩa là " gà trống ".  

       Nhận thấy con Gà Trống có nhiều ưu điểm hơn người, từ hình dáng cho đến đi đứng tính cách đều có điểm ưu việt, như " Nó " sở hữu một ngoại hình đẹp đẽ : oai vệ với mào đỏ rực, đuôi dài màu xám xanh cong lên như những đoản kiếm. Mỗi buổi sáng đều gáy vang báo thức đúng giờ, rồi hiên ngang đi vòng quanh trang trại để bảo vệ bầy đàn. Sự cảnh giác và lòng dũng cảm của những chú gà trống đã trở thành lý do khiến nó trở thành biểu tượng của người Pháp.
        Thời trung cổ, gà trống Gô-loa được người Pháp sử dụng như một biểu tượng tôn giáo, thể hiện niềm hy vọng và đức tin. Hình ảnh những con gà trống thường xuất hiện trên các tháp chuông nhà thờ, tháp canh.
        Vào thời kỳ Văn Hóa Phục Hưng, hình ảnh những con gà trống được gắn liền với sự hình thành của nước Pháp. Dưới các vương triều ở thời kỳ này, các bản chạm khắc và đồng tiền đều mang hình ảnh gà trống. Nó cũng xuất hiện trên lá cờ trong cuộc Cách mạng Pháp 1789 và tượng trưng cho sự kiên cường, lòng dũng cảm của người dân nước này trong Thế Chiến Thứ Hai. Ngoài ra, phần lớn người Pháp đến bây giờ vẫn coi gà trống Gô-loa là biểu tượng của sự chân thành và tươi sáng. 

       Khi các đội tuyển Thể Thao của quốc gia Pháp đi giao đấu, mọi người trên thế giới đều gọi họ với biệt danh " Những chú gà trống Gô-loa " là vì thế !

      dcd_namga_16.jpg
           Biểu tượng của nước Pháp : Con Gà Trống Gô-Loa.

 

       Trở lại với phong trào THƠ MỚI của ta thời Tiền Chiến, ngoài những thơ tình ướt át làm rung động lòng người, như những bài thơ tình của Xuân Diệu, Nguyễn Bính, Đông Hồ, Tương Phố, TTKH.... Ta còn nghe được tiếng Gà Gáy của miền quê thôn dã vang vang cả sáng trưa chiều tối vọng mãi trong tâm hồn người dân Việt, nhất là những người dân Việt sống lưu vong nơi xứ lạ quê người như chúng ta hiện nay. Nào hãy nghe ...

 

                     Tiếng gà gáy ơi! gà gáy ơi! 
                     Nghe sao ấm áp tựa nghe đời. 
                     Tuổi thơ gà gáy ran đầu bếp, 
                     Trâu dậy trong ràn, em cựa nôi.

                      ..........................................

                     Gà gáy đầu thôn, gáy giữa thôn, 
                     Mưa tinh sương mát tận tâm hồn.

 
        Đó là tiếng gà gáy trong buổi ban mai vang lên từ đầu bếp  đến đầu thôn, giữa thôn của Huy Cận, Ông còn cho gà gáy hòa âm trên biển sóng :

                      Tiếng gà trên biển hạ cung trầm, 
                      Tiếng sóng hòa theo chẳng tạp âm. 
                      Tiếng sóng làm nền cho tiếng gáy, 
                      Trầm bao nhiêu, lại bấy xa xăm !...

Và tiếng

            Gà gáy trong mưa khi được mùa :

 

                      Gà gáy trong mưa tiếng vẫn trong, 
                      Giọng kim giọng thổ rộn vang đồng. 
                      Được mùa giống mới, gà no bữa, 
                      Tiếng gáy tròn như lúa nặng bông.

 

   .... Và không riêng gì Huy Cận, ta còn nghe thấy tiếng gà gáy trong ký ức tuổi thơ của Chế Lan Viên :

 

                     Nhớ biển miền Trung tiếng sóng đùa
                     Nhớ nhà cha mẹ, cảnh trường xưa...
                     Nhớ chao ôi nhớ ! Trời xanh thế !
                     Gà lại dồn thêm tiếng gáy trưa !

 

         Nhắc đến gà gáy trưa thì không thể nào thiếu được tiếng gà gáy trong Nắng Mới của Lưu Trọng Lư :

 

                      Mỗi lần nắng mới hắt bên song,
                      Xao xác gà trưa gáy não nùng,
                      Lòng rượi buồn theo thời dĩ vãng,
                      Chập chờn sống lại những ngày không.

 

          

         Bỏ văn sang võ : Võ Gà, đương nhiên phải là Võ Gà Trống, là HÙNG KÊ QUYỀN 雄雞拳 !...

         Vào thời Tây Sơn, tương truyền Nguyễn Lữ là người đã sáng tạo ra môn võ Hùng Kê Quyền (quyền gà chọi) hay Hồng Kê Quyền, là bài quyền mô phỏng các kỹ thuật của gà chọi, một trong 10 bài danh võ được Liên đoàn võ thuật cổ truyền Việt Nam lựa chọn qua các kỳ hội nghị chuyên môn toàn quốc ( sau 1975 ). Đặc trưng của bài quyền là những động tác dũng mãnh của con gà chọi nhỏ bé mà nhanh nhạy trước đối thủ, bài Hùng Kê Quyền sử dụng ngón tay trỏ để đâm mô phỏng hình mỏ gà, và các ngón còn lại co vào như chiếc cựa gà. Thủ pháp độc đáo như vậy lại nhằm vào những mục tiêu hiểm của đối thủ, như các huyệt đạo, ngực, hầu v.v. Bộ pháp của bài quyền hết sức linh hoạt, thần tốc, xoay chuyển một cách biến ảo đã hỗ trợ cho việc thi triển thủ pháp một cách kiến hiệu, khiến đối thủ luôn phải hứng chịu những đòn thế có tính sát thương.

 

        Còn ai mê đọc tiểu thuyết võ hiệp của nhà văn Kim Dung thì không thể nào không biết đến chiêu thức KIM KÊ ĐỘC LẬP 金雞獨立, một chiêu thức võ công độc đáo, đứng thẳng một chân với nhiều tư thế, hai tay cung ra hai bên với nhiều điệu bộ khác nhau. Đây cũng là một chiêu thức của môn Thái Cực Quyền, đồng thời cũng là một phương pháp dưỡng sinh độc đáo có một không hai để phòng ngừa các bệnh như Tiểu đường, Cao huyết áp, Mất trí nhớ ...


      
dcd_namga_17.jpg

               Các tư thế của chiêu thức Kim Kê Độc Lập

         Ta thấy, CON GÀ gần gũi thân thiết với con người là thế, NÓ hiện diện trong sinh hoạt, thực phẩm, giải trí và cả phương pháp dưỡng sinh nữa, lại mang những đức tính tốt đẹp như duy trì kỷ luật, đúng giờ, có tinh thần trách nhiệm, "ga-lăng" với phái yếu và bảo vệ bầy đàn ... Nên các Thầy Đồ Nho xưa thường hay khuyên học trò là :

                " NINH VI KÊ THỦ, BẤT VI NGƯU HẬU "

                     寧   為  雞   首,  不   為   牛   後。 

Có nghĩa :

       Thà làm đầu gà, ( chớ ) hổng thèm làm đít trâu !

       Đầu gà tuy NHỎ nhưng mồng mỏ đẹp đẽ hiên ngang, còn đít trâu tuy LỚN mà là nơi thải ra những thứ ... thối không chịu được ! 

 

       Trở lại với sấm Trạng Trình của 500 năm trước : " Mã đề Dương cước anh hùng tận, Thân Dậu niên lai kiến thái bình !" . Thêm một " anh hùng hay anh khùng " Fidel Castro vừa mới " tận " cuối năm 2016 đây, chú khỉ THÂN thì đã đi qua rồi, liệu con gà DẬU có mang đến Thái Bình được hay không ? Dân Chợ Lớn nói " DẬU 有 là CÓ " . Trong khi tổng thống đắc cử của nước Mỹ là tỉ phú ĐỖ NAM TRUNG ( Donald Trump : Báo chí trong nước dịch âm là Đỗ Nam Trung !) chỉ muốn rút vào cái vỏ sò MỸ xinh đẹp của mình mà không màng đến thế giới nữa. Điệu nầy chắc phải cầu cứu với CHỊ DẬU người mẫu mặc rất ít đồ là Melania Trump thúc vào hông của ông ta xem sao !?

 

       Mong rằng trong năm ĐINH DẬU 2017 nầy, thế giới sẽ KIẾN THÁI BÌNH trong phép lạ !!!

 

                                                                 Đỗ Chiêu Đức

 

Thơ Vịnh Năm Gà 2017 :

 

                      CHUYỆN GÀ NĂM DẬU

 

                Thứ mười chi Dậu thuộc con Kê,

                Gặp phải thiên Đinh trở lộn về.

                Đinh Dậu gà nòi đang tạo dáng,

                Bính Thân khỉ đột đã về quê.

               "Văn kê khởi vũ" tua cần mẫn,

               "Độc lập kim kê" thỏa mọi bề.

               "Cỏng rắn cắn gà" gương lịch sử,

               "Bút sa gà chết" tội vua Lê !

 

                                                  Đỗ Chiêu Đức

 

Câu đối cho năm Đinh Dậu 2017 :

 

     Bính Thân khỉ đã về non,

                               Thân hữu bốn phương cùng đón Tết.

     Đinh Dậu gà đang tạo dáng,

                               Đồng hương khắp chốn thảy mừng xuân !

 

                                                                  Đỗ Chiêu Đức

______________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________ 

THẨN THƠ 12 THÁNG

 

Tháng Chạp cứ hằng năm,

Trong gió rét căm căm.

Xuyến xao đời lữ thứ,

Nhớ " Giây Phút Chạnh Lòng " !

                         Hôm nay tạm nghĩ bước gian nan,

                            Trong lúc gần xa pháo nổ ran.

                            Rũ áo phong sương trên gác trọ,

                            Lặng nhìn thiên hạ đón xuân sang !

                                                       ( Thế Lữ )

Mười một quạnh thu đông,

Sau " Giấy Phút Chạnh Lòng ".

Nhớ hoài anh Thứ Lễ,

Mai khóc, hạt sương đong !

                          Em đứng nghiêng mình dưới gốc mai,

                             Vin cành sương đọng lệ hoa rơi,

                             Cười nâng tà áo đưa lên gió,

                             Em bảo : " Hoa kia khóc hộ người ! ".

                                                      ( Thế Lữ )

Tháng Mười gió thu sang,

Hờ hững cuốn lá vàng.

Vàng bay đầy muôn lối,

Ai xui thiếp phụ chàng ?!

                       Trận gió thu phong rụng lá vàng,

                          Lá bay hàng xóm lá bay sang.

                          Vàng bay mấy lá năm già nữa,

                          Hờ hững ai xui thiếp phụ chàng ?!

                                                ( Tản Đà )

Tháng chín lễ Đăng Cao,

Rừng thu lá xạc xào.

Nhạn từng bầy nam độ,

Ngơ ngác chú hươu sao.

                       Em không nghe rừng thu,

                          Lá thu kêu xào xạc,

                          Con nai vàng ngơ ngác,

                          Đạp lên lá vàng khô !

                                         ( Lưu Trọng Lư )

Tháng tám ước đoàn viên,

Trăng sao cùng Thơ Thẩn.

Nội ngoại khắp mọi miền,

Thoả tình lòng hoài vọng !

                        Hẽm rộng thênh thang bỗng nở hoa,

                           Hân hoan đón bạn nắng chan hòa.

                           Hôm nay họp mặt Vườn Thơ Thẩn,

                           Trả lại hồn thơ tuổi ngọc ngà !

                                           ( Vương thủy Tùng )

Tháng bảy ướt mưa Ngâu,

Đôi lứa ngẩn ngơ sầu.

Hai phương trời cách biệt,

Chờ Ô thước bắt cầu !

                        Từ đó thu rồi thu lại thu,

                           Lòng tôi còn giá đến bao giờ.

                           Chồng tôi vẫn biết tôi thương nhớ...

                           Người ấy, cho nên vẫn hững hờ !!!

                                            ( T  T  KH )

Tháng sáu hè đỏ lửa,

Phượng hồng phủ lối đi.

Tiếng ve sầu ra rả,

Não nề thay, chia ly !

                        Rồi chiều nay hè trở về đây...

                           Phượng thắm ơi phượng thắm rơi đầy ...

                           Lại cách xa nhau chín mươi ngày,

                           Hay là một thế kỷ dài,

                           Mà lòng ai đang khóc ai !....

                                     ( Mùa Chia Tay - Duy Khánh )

Tháng năm ngày mùng năm,

Cùng chào Đoan Ngọ lại.

Văn học cổ nhớ hoài,

Tích xưa Nhị Độ Mai.

                         Nụ hồng rãi lối liễu tơ phai,

                            Vườn cũ rêu lan cỏ mọc dài.

                            Bên gốc mai già xuân vắng vẻ,

                            Âu sầu thiếu nữ khóc hoa mai.

                                              ( Jean Leiba )

Tháng tư ngày dài thế,

" Phù Dung " nở trong ao.

Ngó sen non mới nhú,

Gió đưa hương ngạt ngào !

                         Trong đầm gì đẹp bằng sen,

                            Lá xanh bông trắng lại chen nhụy vàng.

                            Nhụy vàng bông trắng lá xanh,

                            Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn !

                                                      ( Ca dao )

Tháng ba đào mai úa,

Hoa nở cuối Trà Mi.

Âu sầu nàng thôn nữ,

Lặng lẽ mối tình si.

                        Danh lợi như mây nổi giữa trời,

                           Hồng nhan phải giống mãi trên đời.

                           Đợi anh áo gấm xuân sau lại,

                           Chỉ sợ nghiêng giành hốt qủa mai !

                                                    ( Jean Leiba )

Tháng hai xuân thắm tươi,

Gieo sức sống bao người.

Kỷ niệm hồng êm ái,

Chan hòa khắp nơi nơi !

                        Xuân đã đem mong nhớ trở về,

                           Lòng cô lái ở bến sông kia.

                           Cô hồi tưởng lại ba xuân trước,

                           Trên bến cùng ai đã hẹn thề.

                                             ( Nguyễn Bính )

Tháng giêng Tết thong dong,

Vạn vật như bừng sống.

Pháo đỏ với liễn hồng,

Niềm vui cao lồng lộng !

                            Đã thấy xuân về với gió đông,

                            Với trên màu má gái chưa chồng.

                            Bên hiên hàng xóm cô hàng xóm,

                            Ngước mắt nhìn trời đôi mắt trong !

                                               ( nguyễn Bính )

           .......................................

 

Xuân đến xuân đi xuân lại qua,

Thời gian vùn vụt khéo ru mà.

Vui xuân vui cả Ngày Năm Tháng,

Chớ để xuân qua phí tuổi già !

 

                                      Đỗ Chiêu Đức

 

ÔNG GIÀ TỨ CANG

            dcd_chonoiCR.jpg     

            

dcd_CRgirl.jpg

 Hò hơ....

                       Cái Răng, Ba Láng, Vàm Xáng, Phong Điền,

                       Anh có thương em thì cho bạc cho tiền,

                       Đừng cho lúa gạo ...ờ ... hò hơ ...

                       Đừng cho lúa gạo...ờ... Xóm giềng họ cười chê !


           Tôi sinh ra ở xã Thường Thạnh, Ba Láng, tức là ấp Yên Thượng của Thị Trấn Cái Răng, huyện Châu Thành, tỉnh Phong Dinh, nên nghe thuộc lòng câu hò trên từ lúc còn chưa vào lớp Đồng Ấu. BA LÁNG quê tôi, nơi đây lúc tôi còn nhỏ, trong làng xóm còn có những vị tiền bối chức sắc của tổ chức xã hội trước kia, như : Hương Quản, Hương Sư... Đặc biệt nhất là ông Ba  Hương Sư, tác phong nghiêm chỉnh, đạo mạo. Theo nghĩa của chữ Sư, thì chắc hồi xưa ông Ba là Thầy dạy chữ Nho trong làng.

 

          Khi tôi khoảng 11, 12 tuổi gì đó, thì ông Ba làm nghề thầy thuốc, bắt mạch cho toa rất nổi tiếng, có thể là lúc bấy giờ đã không còn có người học chữ Nho nữa, nên ông xoay sang nghề làm thầy thuốc chăng ?! Bây giờ thì không nói về những vị Hương Thân đạo mạo khả kính nữa,  tôi xin kể về một ông Hương Thân rất vui tính ở trong làng để các bạn nghe chơi tiêu khiển trong những ngày cuối năm chờ Tết đến !...

    dcd_hoite.jpg

             Hương Chức Hội Tề                Hương Sư

             Không biết xưa kia giữ chức vụ gì trong Hương Chức Hội Tề, ÔNG SÁU rất được mọi người trong xóm kính trọng, giỏi chữ Nho, am tường về phong tục tập quán cổ truyền, tính tình vui vẻ thích nói chơi, nên rất được thanh thiếu niên trong xóm yêu mến...

        Cũng không biết ưu thời mẫn thế như thế nào, Ông Sáu hay nói ngược lại những câu chữ Nho của người xưa. Ví dụ như câu :


                      Tiền tài như phân thổ,              錢 財 如 糞 土,
                      Nhơn nghĩa trị thiên kim.          仁 義 值 千 金。

Nghĩa là :

           Tiền của tài sản thì như là đất là phân, không đáng quí trọng.

           Nhân nghĩa ở đời mới đáng giá ngàn vàng !


thì ông Sáu cũng nhại lại cái âm của câu nói mà nói ngược lại là :
                     Tiền tài như ...ông Tiên Tổ,
                     Nhân nghĩa tợ... cục cức khô !
để mĩa mai thói đời xem trọng kim tiền mà coi nhẹ nghĩa nhân. Hoặc như câu :
                         Nhất ngôn ký xuất,                一 言 既 出,
                         Tứ mã nan truy.                    四 馬 難 追。

Nghĩa là :

           Một lời đã nói ra thì Xe bốn ngựa ( phương tiện giao thông nhanh

                 nhất ngày xưa ) cũng không thể rượt theo mà lấy lại lời nói đó

                 cho được !
thì ông nói thành :
                        Nhất ngôn ký xuất,                一 言 既 出,
                        TỬ ... mã nan truy .              死 ...馬 難 追。
hàm Ý con ngựa Chết thì làm sao rượt theo mà lấy lại lời nói cho được, cho nên cứ nói càn !...

              Nhiều khi Ông chỉ sửa những câu chữ Nho để nói chơi cho vui mà thôi. Ví dụ như câu :

                     Bần cư náo thị vô nhân vấn,        貧 居 鬧 市 無 人 問,

                     Phú tại thâm sơn hữu viễn thân.  富 在 深 山 有 遠 親。

Có nghĩa :   

       Nghèo mà ở nơi chợ búa náo nhiệt cũng không có ai thèm hỏi tới, còn...

       Giàu mà ở nơi núi sâu rừng thẳm, cũng có bà con xa tìm đến thăm !

thì Ông nói thành :
                       Bần cưa ván ngựa đen như sắn,

                       Cú tại màng tang đứng chết trân ! 
hoặc như câu :
                         Đạo cao long hổ phục,         道 高 龍 虎 伏,
                         Đức trọng quỉ thần kinh.       德 重 鬼 神 驚。
Nghĩa là :

            Đạo pháp mà cao cường thì rồng cọp cũng phải phủ phục mà chịu phép. Cái đức của con người mà cao trọng thì quỉ thần cũng phải kinh sợ ( mà không dám làm hại ).

                  dcd_daoao.jpg
                  Đạo cao long hổ phục,                   Đào ao lên đất cục,


thì Ông nói lại cho vui là :
                           Đào ao lên đất cục,
                           Đứt họng cổ lòi gân !

           Nghe Ông nói, lúc đó tôi bèn quay sang nói nhỏ với thằng bạn là : " Đạo cao long hổ phục, mà ổng nói thành Đào ao lên đất cục kìa !". Nhè đâu ông Sáu nghe thấy, mới quay lại nói với tôi là : " Cái thằng nầy, Đào ao không lên đất cục thì lên cái gì mậy ? Mà nầy, mầy học chữ Nho mà mầy có biết " TAM CANG " là gì không ? ". Tôi được dịp, bèn đáp một cách hãnh diện :
       - Thưa Ông Sáu, TAM CANG là Quân thần cang, Phụ tử cang và Phu thê cang. Bà con ta hay nói tắt TAM CANG là : Quân thần, Phụ Tử, Phu Phụ.   

        Ông Sáu cười cười gằn giọng :
      - Mầy giỏi quá há ! Vậy tao hỏi mầy, mầy có biết TỨ CANG không ?

        Tôi há hốc, ngạc nhiên quá hỏi lại :
       - Sao có Tứ Cang nữa ông Sáu ?. Ông Sáu cười lớn nói :
       - Cái thằng nầy không biết gì hết, TỨ CANG là cái lớn nhất không thể CAN được !. Tôi càng ngạc nhiên hơn , hỏi :
       - Cái gì mà hổng CAN được ông Sáu ? Ông Sáu nghiêm mặt lại nói :
       - TAM CANG là Quân thần Cang, Vua đánh tôi, có người CAN được. Phụ Tử Cang, Cha đánh con, cũng CAN được. Phu Thê Cang, Chồng đánh Vợ, cũng còn CAN được. Nhưng , Ông đánh thì vô phương CAN !... Tôi làm tài khôn nhanh nhẩu chen vào :
       - Ông đánh thì cũng CAN được chớ sao không ?. Ông Sáu phá lên cười lớn :
       - Thằng nầy, Ong Vò Vẻ đánh làm sao ai dám CAN. Ong đánh là TỨ CAN đó biết không ?!... 

 

           Vừa lúc đó anh Ba từ ngoài vườn chạy vào, hai tay che đầu miệng la oai oái, có mấy con ONG bay theo phía sau... Ông Sáu cười ngất nói :
      - Đó, đó ! Thằng Ba nó bị TỨ CANG đó, mầy giỏi mầy vô CAN đi !

  Thì ra ...
        Gần Tết, anh Ba ra vườn sửa sang lại vườn tược cho gọn ghẽ sáng sủa để Ăn Tết, kéo nhằm ổ ONG BẦN, nên bị  NÓ rượt chạy vào...

 

        Thì ra, ONG ĐÁNH là TỨ CANG. Ong đánh thì không ai dám CAN cả !!!


       Từ đó, Tôi và các bạn trong xóm gọi ông Sáu là ÔNG GIÀ TỨ CANG !

                   DCD_TuCang.jpg

                                        Ảnh Minh Họa : Ông Già Tứ Cang

          Đây là chuyện có thật, tên cúng cơm của Ông Sáu là ĐỰC. Mọi người trong xóm đều gọi là Ông Sáu Đực. Bà con bên ngoại của Má tôi, nên Má tôi gọi ông là Cậu Sáu.

         Vì là dân Nam Kỳ Luc Tỉnh, nên nói chuyện phát âm không có phân biệt giữa CAN và CANG hay ONG và ÔNG gì cả !

 

        Bây giờ, đã hơn 60 năm qua, ông Sáu đã không còn nữa. Gần Tết, tha hương đất khách, ngồi đây nhớ lại chuyện xưa, lòng bồi hồi xúc động. Đâu rồi thời gian thơ ấu, đâu rồi những phong hóa cũ, đâu rồi những tập tục của ngàn xưa, đâu rồi ÔNG SÁU của dạo nào ?!... đành ngậm ngùi đọc lại 2 câu thơ cuối của Vũ Đình Liên trong bài thơ Ông Đồ là :

 

                    Những người muôn năm cũ,
                    Hồn ở đâu bây giờ  ?!!! ..........

 


                                                                            Đỗ Chiêu Đức

                                                               Viết lại cuối năm Bính Thân 2016.  

___________________________________________________________________________________________________________________________________________________________ 

 

CHỮ NHO DỄ HỌC MÀ...HỌC KHÔNG DỄ:  
bài 21 đến bài 25  

PHIẾM LUẬN :

 

                   GIÓ là PHONG

 

                      DCD_Phong_1.jpg

 

        GIÓ từ Hán Việt là PHONG 風, thuộc dạng chữ Hình Thanh, gồm chữ PHÀM 凡 ở phía trên và bên ngoài chỉ ÂM, bộ TRÙNG 虫 là Sâu Bọ ở dưới bên trong chỉ Ý, theo diễn tiến hình thành của chữ viết như sau đây :

 

目前所在的位置:风的甲骨文、金文、小篆在线转换

甲骨文 Giáp Cốt Văn

金文

金文大篆Kim văn Đại Triện

小篆

繁体隶书Chữ Lệ phồn thể

 

 

             

 

目前所在的位置:風的甲骨文、金文、小篆在线转换

甲骨文

金文

金文大篆

小篆 Tiểu   Triện

繁体隶书

     

 
             

           Chữ viết giản thể của chữ PHONG như sau :

基本解释  Giải thích cơ bản, nét bút  và phiên âm.

拼音:

fèng,fěng,fēng,

笔划:

4

部首:

五笔输入法:

mqi

       

 

       Với hàm Ý : Phong động Trùng sinh 风动虫生 ( Gió chuyển động thì côn trùng sinh sôi nẩy nở ). Nên PHONG là GIÓ, mà...
      GIÓ là Hiện tượng tự nhiên của không khí lưu thông từ chỗ nầy sang chỗ khác, từ cao xuống thấp, từ lạnh sang nóng, từ đông sang tây... là sự vận động tự nhiên của bề mặt Trái Đất.

       PHONG chỉ sự di chuyển, thay đổi, lan truyền nhanh chóng, như : Phong ba ( sóng gió ), Phong trào ( sóng nước ), Phong vũ ( gió mưa ) ...
       PHONG chỉ những thói quen được hình thành trong đời sống xã hội, như : Phong Tục, Phong dao, Phong hóa ...
       PHONG chỉ sự lan truyền tin tức, như : Phong thanh ( Ta hay nói trại thành " Phong Phanh "), Phong Truyền...
       PHONG chỉ Cảnh trí,Thái độ, cử chỉ, như : Phong Cảnh, Phong độ, Phong cách, Tác Phong...

       PHONG LƯU là chỉ sự lưu chuyển như dòng chảy của gió, nên rất thoải mái dễ chịu. Cuộc sống Phong Lưu là cuộc sống dư dã giàu có. Con người Phong Lưu là con người Phóng khoáng Rộng rãi... chịu chơi !

       Nhưng... Chịu chơi quá thì rất dễ bị bệnh Phong Thấp  ( thấp khớp, nhức xương ), thậm chí bị bệnh Phong Tình, và bây giờ thì chữ PHONG 瘋 phải đội thêm một cái mão nữa là Bộ TẬT 疒, có nghĩa là ngồi dựa vào khi Bệnh Hoạn. Trong tiếng Việt ta có 2 từ Phong Tình cần phân biệt :
     * Từ Hán Việt : Phong Tình 風情 là Tình cảm dồi dào ướt át, nên Chuyện Phong Tình là chuyện Tình yêu lãng mạn, ủy mị, thậm chí khiêu dâm tục tiểu..... Mở đầu Truyện Kiều, Cụ Nguyễn Du viết :
                     Cảo thơm lần giở trước đèn,
              PHONG TÌNH cổ lục còn truyền sử xanh.
     Chuyện PHONG TÌNH ở đây là Chuyện tình trai gái của cuộc đời cô Kiều với các chàng trai Kim Trọng, Thúc Sinh, Từ Hải... thì làm sao mà truyền SỬ XANH cho được ?! Nên có Ý kiến cho là chữ " CỔ LỤC "( Ghi chép từ xưa để lại, chỉ Sách Xưa ) của bản Nôm có thể đọc thành " CÓ LÚC ", và câu thơ sẽ là :
              PHONG TÌNH CÓ LÚC còn truyền sử xanh.
chỉ CÓ LÚC mà thôi, phải đặc biệt như cô Kiều mới được truyền sử xanh, chớ không phải chuyện Phong Tình nào cũng được truyền sử xanh cả !  

     * Từ thuần Nôm : PHONG TÌNH là Bệnh Phong do quan hệ tình dục, chơi bời phóng đảng gây ra. Nói theo bình dân : Bệnh Phong Tình tức là Bệnh Cùi, bệnh Mắc Tiêm La đó vậy ! Người Hoa thì không gọi thế, họ gọi bệnh Cùi bằng từ MA PHONG 痲瘋, còn người miền Bắc thì gọi là Bệnh Hủi !

 

      PHONG là gió, GIÓ là phong, Gió thổi suốt ngày , từ sáng tới tối, từ ngày này qua ngày khác, từ tháng này qua tháng nọ, từ năm nọ tới năm kia, nên... 

      Mùa Xuân thì ta có gió từ hướng Đông thổi đến. Đông phương Giáp Ất thuộc Mộc, nên cây cỏ đâm chồi nẩy lộc, trăm hoa đua nở, muôn hồng ngàn tía, ta nhớ lại 2 câu thơ cuối trong bài Đề Tích Sở Kiến Xứ 題昔所見處 của Thôi Hộ 崔護 đời Đường là :

dcd_Phong_4.jpg 

 

                     


         Nhân diện bất tri hà xứ khứ,          人面不知何處去,
         Đào hoa y cựu tiếu ĐÔNG PHONG. 桃花依舊笑東風。


mà cụ Nguyễn Du đã mượn ý thoát dịch trong Truyện Kiều rất hay là :
                 Trước sau nào thấy mặt người,
           Hoa đào năm ngoái còn cười GIÓ ĐÔNG.

dcd_phong_5.jpg 

 

      Gió Đông là Đông Phong, là gió của mùa Xuân từ hướng Đông thổi tới, nên cũng còn được gọi là Xuân Phong.
      Rất nhiều người cứ lầm tưởng Đông Phong là gió của mùa Đông, kể cả người Hoa ở Chợ Lớn hồi xưa, nên đã sửa câu thơ của Thôi Hộ thành :
                Đào hoa y cựu tiếu XUÂN PHONG.

                   桃  花  依  舊   笑    春     風。
mà không biết rằng mình đã làm tài khôn sửa bậy thơ của cổ nhân !

      Trở lại phong trào Thơ Mới thời Tiền chiến với bài MAI RỤNG của Jean Leiba có các câu :

 

                 Yêu chàng em cố chuốc hình dong,

                 Tô cặp môi son điểm má hồng.

                 Em thấy xuân nay hoa nở đẹp,

                 Cảm tình Thanh Đế tạ ĐÔNG PHONG !

 

                      

 

      Thanh Đế là ông vua của mùa xuân, là Chúa Xuân, còn Đông Phong là Gió Xuân ấm áp thổi đến cho muôn hoa nở rộ !


      ĐÔNG PHONG là gió của Mùa XUÂN, còn gió của mùa Đông thì gọi là BẮC PHONG, Bắc Phương Nhâm Quí thuộc Thủy, Thủy ở đây là băng giá của vùng Bắc Cực, là gió từ phương Bắc khô khan lạnh lẽo thổi đến. Gió Bắc được bà con ta gọi trại thành Gió Bấc, nên có những câu Ca Dao trong dân gian Nam Bộ như sau :
                 Gió Bấc non thổi lòn hang chuột,
            Thấy chị hai mầy tao đứt ruột đứt gan !

hoặc ...
                 Gió bấc non thổi lòn hang dế,
            Thấy chị hai mầy tao bế hế băng hăng !

 

      Hướng Bắc còn gọi là hướng Sóc, nên Bắc Phong còn gọi là Sóc Phong, như trong bài Tòng Quân Hành 從軍行 của Lệnh Hồ Sở 令狐楚 :

dcd_phong_6.jpg 

                     Sóc phong thiên lý kinh,          朔風千里驚,

           Hán nguyệt ngũ canh thanh.    漢月五更清。
           Túng hữu hoàn gia mộng,        縱有還家夢,
           Do văn xuất tái thanh !            猶聞出塞聲。
 Tạm dịch :
                Ngàn dặm gió bấc thổi,
                Năm canh trăng quê nhà.
                Dẫu có mộng hoàn gia,
                Còn nghe lời xuất tái !

 Song thất Lục bát :
                Gió bấc thổi làm kinh lính thú,
                Trăng Hán gia vằng vặc canh tà.
                Dẫu cho mộng được về nhà,
                Bên tai còn vẳng tiếng ra ải ngoài !

                                                 

         Ngược với gió Bắc là gió Nam, luôn luôn dịu dàng mát mẻ. Nam Phương Bính Đinh thuộc hỏa, gió của mùa hè oi bức, xoa dịu cái nóng cho vạn vật chúng sinh.
         Trong Khổng Tử Gia Ngữ, có dẫn bài ca của Đế Thuấn là : " Nam phong chi huân hề, khả dĩ giải ngô dân chi uẩn hề. 南風之薰兮,可以解吾民之愠兮。 "... Có nghĩa : Cái mát mẻ ấm áp của gió Nam, có thể giải tỏa được nỗi lòng u uẩn ẩn ức của dân Nam ta ! Và... với thâm Ý nầy, ông Phạm Qùynh đã lập ra Nam Phong Tạp Chí với Ý đồ mở mang dân trí và xoa dịu lòng dân để ẩn nhẫn đợi thời !
          Gió Nam thường hây hẩy vào các buổi trưa hè oi bức làm dịu đi cái nắng hạ chói chan gay gắt, nên theo các thầy Phong Thủy thì nhà nên cất xây mặt về hướng Đông Nam, để buổi sáng hứng lấy ánh mặt trời và buổi trưa thì đón gió Nam cho mát mẻ ! Điều nầy cũng hợp với sự tự nhiên của cuộc sống mà không cần đến thầy Địa Lý chỉ vẻ ta vẫn có thể thấy được !

          Gió Nam dễ chịu là thế, cho nên dân Nam Bộ hay mượn gió Nam để chỉ những việc vui vẻ hoặc để nói chơi : " Thằng đó nó đi hứng gió Nam rồi !. Con đó không chồng mà có chửa, bộ hứng gió Nam sao vậy ?!...."

          Nói đến cái mát mẻ của gió, ta nhớ đến câu " Khoái tai phong dã ! 快哉風也 !  trong bài Hát Nói  của Tản Đà :

 

                       HỎI GIÓ
             Cát đâu ai bốc tung trời ? 
             Sóng sông ai vỗ ? Cây đồi ai rung ? 
             Phải rằng Dì Gió hay không ? 
             Phong tình đem thói lạ lùng trêu ai ?

dcd_phong_7.jpg 

 

              À, Thì ra Thần Gió là phái nữ, là DÌ GIÓ, là PHONG DI 風姨. Thảo nào, khi thì mát mẻ, dịu dàng, mơn trớn êm ái hết chỗ chê, khi thì nổi tam bành cuồng nộ, xô xập nhà cửa, làm gãy đổ cây cối, nhấn chìm thuyền bè cũng... hết chỗ nói ! Đúng ra thì ....

         Theo truyền thuyết cổ đại Trung Hoa xưa, sách " Bắc  Đường Thư Sao ", quyển 144 ghi : " 风伯 名 姨 .此"风姨"之所本. Phong Bá danh Di. Thử Phong Di chi sở bổn ". Có nghĩa : Ông thần gió tên là DI, đó là cái lý do tại sao gọi là PHONG DI. Nhưng vì chữ DI 姨 có nghĩa là DÌ ( chị em gái của mẹ ) nên mọi người cứ lầm tưởng PHONG DI là DÌ GIÓ, hay cố ý tưởng là DÌ GIÓ cho nó... thi vị hơn ! Không phải chỉ riêng Tản Đà mà trong Liêu Trai Chí Dị Bồ Tùng Linh cũng có hẵn một bài viết về câu truyện giữa Dì Gió và các loại hoa hẵn hoi !

      Bây giờ thì đến 4 chữ " Khoái tai phong dã 快哉風也 !"

      KHOÁI 快 : Chữ có bộ Tâm đứng 忄bên trái, nên nghĩa gốc là Vui Vẻ ( trong lòng ), như Khoái Lạc, Khoái cảm.

      Nghĩa phát sinh là Nhanh nhẹn, mau mắn, như Khoái Mã.

      Chỉ Mát Mẻ như Lương Khoái.

      Chỉ tánh tình thoải mái, dễ chịu, như Sảng Khoái, Thống Khoái ... Nên ...

      Khoái tai Phong Dã ! có nghĩa :

             * Nhanh thay là gió !

             * Mát mẻ thay là gió !

             * Vui vẻ thay là gió !

             * Sảng khoái thay là gió ! ....

      Bây giờ thì ta đọc phần còn lại của bài " Hỏi Gió " nhé !

 

              Khoái tai phong dã !

                              !

      Giống vô tình cây đá cũng mê tơi 
      Gặp gió đây hỏi một đôi lời 
      Ta hỏi gió quen ai mà phảng phất?

      Thử thị Đà Giang, phi Xích Bích,

                           壁,
      Dã vô Gia Cát dữ Chu Lang.

                      郎。 

      Ai cầu phong mà gió tự đâu sang! 
      Hay mải khách văn chương tìm kết bạn? 
      Gió hỡi gió, phong trần ta đã chán 
      Cánh chim bằng chín vạn những chờ mong 
      Nên chăng gió cũng chiều lòng ! 


Nghĩa của 2 câu thơ chữ Hán :

    * Nơi đây là sông Đà Giang chớ không phải sông Xích Bích,

    * Chẳng có Gia Các Lượng mà cũng chẳng có Chu Du !

    Ý muốn nói : Ở đây không có ai đánh nhau và cũng không có ai cầu phong cầu gió gì cả !

 

      Còn ...
         Gió Tây là gió thổi đến từ hướng Tây. Tây phương Canh Tân thuộc Kim, nên gió Tây còn gọi là Gió Vàng là Kim Phong, là ngọn gió thổi se sắt lạnh lùng như Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều đã mở đầu Cung Oán Ngâm Khúc bằng câu :


                Trải vách quế GIÓ VÀNG hiu hắt,
                Mảnh vũ Y lạnh ngắt như đồng !

 

        Gió Tây, gió Vàng hay Kim phong là gió của mùa Thu, ta thường gọi là Thu Phong như bài thơ nổi tiếng của Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu :

dcd_phong_8.jpg 

 

                   Trận gió THU PHONG cuốn lá vàng,
                  Lá bay hàng xóm lá bay sang,
                  Vàng bay mấy lá năm già nữa,
                  Hờ hững ai xui thiếp phụ chàng !
                                    ***
                  Trận gió THU PHONG rụng lá hồng,
                  Lá bay tường bắc lá sang đông.
                  Hồng bay mấy lá năm hồ hết,
                  Thơ thẩn kìa ai vẫn đứng trông !

 

      Gió Thu hiu hắt, se sắt, lạnh lùng cộng với bầu trời thu bao la xanh biếc với :

                  Ao thu lạnh lẽo nước trong veo,

         và ...

                  Lá vàng trước gió sẻ đưa vèo !

làm cho ta lại nhớ đến Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu với bài thơ Cảm Thu, Tiễn Thu làm hồi tháng chín năm Canh Thân - 1920 :

                 Từ vào thu đến nay,
                 Gió thu hiu hắt,
                 Sương thu lạnh,
                 Trăng thu bạch,
                 Khói thu xây thành.

                 Lá thu rơi rụng đầu nghềnh
                 Sông thu đưa lá bao ngành biệt ly.

                                               ..............................

          Gió thu hiu hắt luôn là nguyên nhân khơi dậy " bao ngành biệt ly ", khơi dậy mối sầu cô đơn của người lữ khách xa nhà như bài Thu Phong Dẫn 秋風引 của Lưu Vũ Tích 劉禹錫 đời Đường :

dcd_phong_9.jpg 

             
      

            何處秋風至?   Hà xứ thu phong chí ?
            蕭蕭送雁群。   Tiêu tiêu tống nhạn quần.
            朝來入庭樹,   Triêu lai nhập đình thọ,
            孤客最先聞。   Cô khách tối tiên văn.

Có nghĩa :

                    Gió thu từ đâu thổi đến ?

                    Hắt hiu đưa tiễn nhạn bầy,

                    Sáng nay luồn vào cây lá,

                    Lữ khách hay trước hơn ai !

 Lục bát :

                    Từ đâu thổi đến gió thu ?

              Hắt hiu đưa nhạn mịt mù bay cao.

                    Sáng nay cây lá lao xao,

              Cô đơn lòng khách nao nao trước người !

                                                     

 

       Ở gần đường Xích Đạo, vùng Nhiệt Đới như Miền Nam của đất Nam Kỳ Lục Tỉnh, khi gió Tây thổi cũng vẫn cảm nhận được cái hiu hắt lạnh lùng, nên trong Ca dao Dân gian vẫn có câu hát :

                      Anh về để áo lại đây,
              Để khuya em đắp Gió Tây lạnh lùng !

                 - Có lạnh lùng lấy mùng mà đắp,
                Trả áo anh về đi học kẻo trưa !

dcd__phong_10.jpg 

 Nhớ hồi còn nhỏ, trong giờ học môn Khoa Học Thường Thức trên lớp, thầy giáo giảng rằng : " Gió là sự chuyển động của không khí trên bề mặt trái đất, không màu sắc, không mùi vị .... " Một anh bạn giơ tay phát biểu : " Thưa thầy, gió có màu chứ thầy." Thầy hỏi : " Màu gì ? "- " Thưa thầy, màu đỏ bầm. Hôm qua anh của em trúng gió, má em cạo trên lưng 2 đường đỏ bầm và nói là : Gió nhiều quá ! " . Cả lớp cười ồ, có tiếng ai đó nói : " Đồ trúng gió !".

        Đó là cách ăn nói lịch sự, còn bình thường mắng nhau thì là " Đồ Khỉ Gió !", " Đồ... Cái thằng mắc gió !"... Viết đến đây, tôi chợt nhớ đến " Thằng Phải Gió " của Miền Bắc, xin được nhắc lại để đoc chơi tiêu khiển !   
        Về cô gái hái chè gặp " Thằng Phải Gió " dưới đây, diễn tả một câu chuyện xảy ra trên một đồi chè ngoài ý muốn của cô gái, thế nhưng cô ta lại tỏ ra rất... hài lòng. Đây là cái hay của đoạn ca dao đã lột trần được cái tương phản của tâm lý con người !

 

dcd_phong_11_cohaiche.jpg

                   

                  CÔ GÁI HÁI CHÈ - Chính Bản

 

                Hôm qua em đi hái chè 
                Gặp thằng phải gió nó đè em ra 
                Em lạy mà nó chẳng tha 
                Nó đem đút cái mả cha nó vào 
                Bấy giờ em biết làm sao ? 
                Nếu em càng giẩy nó vào thêm sâu 
                Cái gì như thể củ nâu 
                Cái gì như cái cần câu vật vờ 


         Đọc bài thơ, ta thấy được sự phản kháng yếu ớt, chiếu lệ của cô gái, và cuối cùng thì ... nằm im chịu trận, vì ...

                 Nếu em càng giẩy nó vào thêm sâu !

         Chính vì cái tâm lý tương phản của cô gái mà ta còn tìm thấy thêm được ở trên mạng nhiều Hậu Bản của bài thơ nữa. Mời đọc một Hậu Bản sau đây :

 

Cô Gái Hái Chè - Hậu Bản

Mấy hôm sau đến vườn chè, 
Kiếm thằng phải gió em đè nó ra.
Nó lạy em, nó xin tha, 
Nhưng em cứ đút mả cha nó vào. 
Bây giờ mới sướng làm sao, 
Nên em càng giẩy cho vào thêm sâu. 
Giẩy sao cho dập củ nâu, 
Giẩy sao cho gẩy cần câu vật vờ !

                                     Vô danh

 

          Lại một Hậu Bản nữa !

       Cô Gái Hái Chè - Mười Năm Tái Ngộ    

          Mười năm thắm thoát trôi qua 
          Gặp lại phải gió nó già hơn xưa 
          Mừng như nắng hạn gặp mưa 
          Em đè nó xuống em lùa chim ra 
          Nó nằm nó khóc xin tha

          Em ngồi em bóp mả cha ngày nào 
          Khi xưa củ cứng cần cao 
          Ngày nay củ xẹp cần dâu cần xìu

                                                  Vô danh

          Để viết tiếp đoạn kết cho có hậu, Ông ccNN trên mạng đã cho "Thằng Phải Gío" vượt biên,vinh quy bái tổ về làng, tay lủng lẳng bị đô la, túi đầy thuốc Viagra...

 

                    Thằng Phải Gió là Việt Kiều

 

                  "Phải Gió" mang mã Việt kiều,
                   Viagra đầy túi làm liều kiếm em.
                   Tủm tỉm nó nốc hai viên,
                   Mả cha nó đứng chỉ thiên lên liền.
                   Cả giờ nó lắc như điên,
                   Ối giời ! sao sướng như tiên thế này
                   Mười năm nắn bóp rã tay
                   Nó lắc cho bõ những ngày xuội lơ !

                                                                  ccNN

       

       Chuyện Thằng Phải Gió khép lại để kết thúc cho bài phiếm luận " Phải Gió " nầy !

                                                              Đỗ Chiêu Đức

    CHỮ NHO DỄ HỌC

    MÀ...HỌC KHÔNG DỄ

 

BÀI 16 ĐN BÀI 20

https://drive.google.com/file/d/0B6-GwvjUy0dHcEFYWXpHbWJlXzA/view?usp=sharing 

 

BÀI 11 đến bài 15

https://mail.google.com/mail/u/0/?ui=2&ik=e1081c2087&view=lg&msg=155facf4b345ac06  

https://mail.google.com/mail/u/0/?ui=2&ik=e1081c2087&view=lg&msg=155facf4b345ac06 

BÀI 1 ĐẾN BÀI 5:

Click link dưới đây để đọc 

(Download hơi lâu vì cả 5 bài dài 78 trang. Sẽ đăng các bài kế tiếp) 

đ https://drive.google.com/file/d/0B6-GwvjUy0dHc0hvU0I3UzY2a1E/view?usp=sharing

BÀI 6 ĐẾN BÀI 10: 

 https://drive.google.com/file/d/0B6-GwvjUy0dHTjdFXzBoVWNwUlE/view?usp=sharing 

 

(Còn tiếp)_____________________________________________________________________

-

PHIẾM LUẬN :

                       LẠM BÀN VỀ THIỆN ÁC và DỤC

 

       Câu đầu tiên của Huấn Mông TAM TỰ KINH 訓蒙 三字經 là : " Nhân chi sơ, Tánh bản thiện 人之初、性本善 ". Ý muốn nói : " Con người lúc ban sơ khi mới được sanh ra, thì bản tính vốn hiền lành lương thiện ". Điều nầy gần như là hiển nhiên mà mọi người đều thấy rõ, đứa bé mới sinh vô tư hiền lành như tờ giấy trắng. Mọi khả năng, mọi tình huống, mọi biến chuyển về sau của đứa bé đều do một chữ THIỆN của lúc ban đầu nầy mà ra !

       Vậy, THIỆN là gì ? Lần theo từ nguyên ta sẽ thấy ...

甲骨文

金文 Kim Văn

金文大篆 Đại Triện

小篆 Tiểu Triện

繁体隶书 Lệ Thư

 

Ta thấy ...

      Theo Kim Văn ( Chung đĩnh Văn) và Đại Triện, chữ THIỆN gồm có chữ DƯƠNG 羊 là Con Dê là Điềm Lành ở giữa, hai bên là hai chữ NGÔN 言 là Lời Nói, đến Tiểu Triện thì hai chữ NGÔN 言 được nhập làm một, cho đến chữ LỆ, thì chữ NGÔN lại được rút ngắn lên như chữ viết hiện nay 善. Nên ...

       THIỆN 善 là Hiền, Lành, là trái với ÁC, như từ kép Thiện Lương 善良 là Hiền Lành, Thiện Tâm Thiện Ý 善心善意 là Lòng Dạ hiền Lành. Ta hay nghe câu :

                     Vinh danh Thiên Chúa trên trời,

                  Bình an dưới thế cho người THIỆN TÂM.

       Ngoài nghĩa HIỀN ra, THIỆN còn có nghĩa là Thân Mật, như Thân Thiện 親善, Hòa Thiện 和善.

       THIỆN là Giỏi Giắn, Chuyên về việc gì đó là Thiện nghệ 善藝.

       THIỆN KỴ 善騎 : Giỏi về Cởi Ngựa.

       THIỆN XẠ 善射 : Giỏi về Bắn Cung, bắn Súng.

       THIỆN CHIẾN : Giỏi về Đánh Trận, Đánh Giặc.....

 THIỆN còn có nghĩa là TÔT, như :

       THIỆN HẬU 善後 : là Hậu Vận Tốt, Già có nơi nương tựa.

       THIỆN CHUNG 善終 : là Chết Tốt, là Chết An Lành.

       THIỆN ĐỨC 善德 : thì không tốt tí nào, nói lái lại sẽ biết !

THIỆN còn có nghĩa là DỄ, như :

       THIỆN BIẾN 善變 : Dễ Thay đổi.

       THIỆN VONG 善忘 : Dễ Quên.

       ĐA SẦU THIỆN CẢM 多愁善感 : là Đa sầu và Dễ Cảm xúc !

Cuối cùng THIỆN là một trong Bách Gia Tính : Họ THIỆN.

       Kết Luận :....

       THIỆN là Dễ, Hiền, Lành, Tốt, Giỏi . Nên nói theo học thuyết của Manh Tử 孟子 ( 372-289 trước công nguyên ):"Nhân chi sơ, Tính bổn Thiện " là " Cái tính ban sơ của con người vốn Hiền Lành, nên Dễ Giỏi, Dễ trở nên Tốt Lành.  Và  " Cẩu bất giáo, Tính nãi thiên 苟不教,性乃遷 " Nếu không được dạy dỗ thì cái tánh đó sẽ bị thay đổi ( Xấu đi chẳng hạn !).

DCD_thienac.jpg 

 Nói theo đạo Phật, con người sanh ra là đã có sẵn cái THIỆN DUYÊN 善緣 rồi, phải biết vun bồi và phát huy cái Thiện Duyên đó. Đó chính là cái THIỆN NGUYỆN 善願 để kết nên cái Thiện Duyên đã có sẵn trong mỗi con người. Tăng Quảng Hiền Văn của Nho Gia cũng nói rằng :

                 Nhân hữu THIỆN NGUYỆN,      人有善願,

                 Thiên Tất hựu chi.                  天必祐之。                

Có nghĩa :

         Người mà có cái Thiện Nguyện, thì Trời sẽ giúp đỡ phù hộ cho ( được toại nguyện !).

 

         Nhưng theo TUÂN TỬ 荀子 ( 313 TCN - 238 TCN), cũng là một nhà tư tưởng của thời Chiến Quốc, thì " Nhân chi sơ, Tính bản ÁC 惡 " Con người mới sinh ra đã cất tiếng khóc cùng quằn với cuộc sống, đòi ăn đòi bú, quơ được tờ giấy thì muốn nhào nát hoặc xé rách nó đi ... Cái tính bản ÁC 惡 đó cần phải được uốn nắn dạy dỗ, giáo duc thì mới trở nên tốt lành được.

          Bây giờ thì ta truy nguyên tận nguồn gốc của chữ ÁC 惡 nầy nhé !   

甲骨文

金文

金文大篆

小篆

繁体隶书

   

Ta thấy...

       ÁC 惡 là chữ thuộc dạng Hài Thanh, gồm chữ Á 亞 ở trên chỉ ÂM, và chữ TÂM 心 ở dưới chỉ Ý. Nên, ÁC là một sự biểu hiện tình cảm ở trong lòng. Nếu cố giảng theo Hội Ý thì ...Á 亞 chỉ sự thua sút, kém cỏi ( như Á quân, Á Hậu, Á Thánh...), còn TÂM 心 là Tâm lý, là Tình cảm trong lòng. Tình Cảm thì Một là TỐT, Hai là XẤU mà thôi. Nên Á ghép với TÂM là Tình Cảm hạng 2, là Tình Cảm Xấu. Vì vậy nghiã trước tiên của chữ ÁC là XẤU ! Như ...

       ÁC CẢM 惡感 : là Có Cảm giác Xấu về ai đó.

       ÁC DANH 惡名 : là Tiếng Xấu, Tiếng Không Tốt.

       ÁC TẬP 惡習 : là Tập quán Xấu, tức là chỉ Thói Xấu ... 

       ÁC ĐỨC 惡德 : là Cái Đức Xấu. Hành Vi Xấu Xa.

ÁC là HUNG DỮ, như :

       ÁC ĐỘC 惡毒 : Ta nói là Độc Ác !

       ÁC BÁ 惡霸 : là Người Hung Ác, Dữ Dằng.

       ÁC PHỤ 惡婦 : là Người Đàn bà Hung dữ. Tương tự, ta cũng

            có từ ÁC PHU 惡夫. Bạn bè thường hay nói chơi là :

            Hiền Phụ đánh Ác Phu : là Vợ Hiền đánh Chồng dữ !

       HUNG ÁC 兇惡 : là Hung Dữ và Tàn Ác.

       HIỄM ÁC 險惡 : la Hung Hiễm và Ác Độc.

ÁC là Động Từ thì đọc là Ố, có nghĩa là GHÉT, như :

       KHẢ Ố 可惡 : là Đáng Ghét !

       HỈ NỘ ÁI Ố 喜怒愛惡 : là Mừng Giận Yêu Ghét !

       Trong Tiểu thuyết võ hiệp Thiên Long Bát Bộ, Kim Dung đã đặt tên rất hay cho Tứ Ác Nhân của mình, bằng cách xem chữ ÁC nằm ở vị trí nào trong Ngoại Hiệu để biết được vai vế của người  đó trong Tứ Ác như sau :

     * Lão đại, Ác nhất, nên chữ ÁC đứng đầu, hiệu là ÁC QUÁN MÃN DOANH 惡貫滿盈 : là Tội ÁC đã đầy ăm ắp, hết chỗ chứa luôn ! Chính là Thái Tử Đoàn Diên Khánh.

     * Lão Nhị, Ác nhì, nên chữ ÁC đứng ở vị trí thứ 2 là : VÔ ÁC BẤT TÁC 無惡不作 : Có nghĩa là Không Có Cái ÁC Nào Mà Không làm, là Diệp Nhị Nương, mẹ của nhà sư Hư Trúc.

     * Lão Tam, Ác thứ 3, nên chữ ÁC cũng ở vị trí thứ 3 là : HUNG THẦN ÁC SÁT 兇神惡煞 : là Dữ dằng sát khí như một Hung Thần, chính là Nam Hải Ngạc Thần.

     * Lão Tứ, Ác thứ Tư, nên chữ ÁC ở vị trí cuối cùng là : CÙNG HUNG CỰC ÁC  窮兇極惡 : là Hung dữ vô cùng và Ác hết chỗ nói, đó chính là Vân Trung Hạc.

        Kết luận ...

        ÁC là Xấu Xa, Dữ Dằng, Đáng Ghét ! Nên theo Tuân Tử thì vì con người " Tính bản Ác " nên cũng cần phải được chú trọng giáo dục đào tạo thì mởi trở nên người tốt được.

dcd_thienac2.jpg 

       Ta thấy ...

       Dù cho con người tính bản THIỆN hay tính bản ÁC, dù là học thuyết của Mạnh Tử hay Tuân Tử gì ... đều phải chú trọng đến giáo dục. " Ngọc bất trác, bất thành khí. Nhân bất học, bất tri lý " mà ! Tăng Quảng Hiền Văn có câu :

              Sự tuy tiểu bất tác bất thành,     事雖小不作不成,

              Tử tuy hiền bất giáo bất minh.    子雖賢不教不明。

Có nghĩa :

     - Việc tuy nhỏ, nhưng không làm thì sẽ không xong,

     - Con tuy hiền, nhưng nếu không dạy thì sẽ không sáng suốt.
        Tuân Tử thì bảo rằng :" :君子曰:学不可以已。 青,取之于蓝而青于蓝;冰,水为之而寒于水。" Quân tử viết : Học bất khả dĩ dĩ. Thanh, thủ chi vu lam nhi thanh vu lam. Băng, thuỷ vi chi nhi hàn vu thuỷ ". Có nghĩa :

         " Người quân tử nói rằng : Sự HỌC không thể ngừng nghỉ được. Màu xanh được lấy từ cây chàm, nhưng lại xanh hơn chàm. Băng được đong lại bởi nước, nhưng lại lạnh hơn nước ". Nếu chiụ học thì sóng sau sẽ dồn sóng trước, người càng về sau sẽ giỏi hơn người đi trước !

         Mạnh Tử thì cho là :" 學而不思則罔,思而不學則殆。Học nhi bất tư tắc võng, tư nhi bất học tắc đãi.". Có nghĩa :

        " Học mà không biết suy luận thì cũng uổng cho sư học. Biết suy luận mà không chiụ học thì cũng như không ! ".

         Nói chung, là con người thì luôn luôn phải cầu học mới tiến bộ, mới hoàn thiện bản thân và mới giúp ích cho xã hội nhân quần được !

         Về phần chữ DỤC, xin mời đọc lại bài viết về GIÁO DỤC dưới đây :

 

                              GIÁO DỤC

 

      Giáo Dục luôn luôn là đề tài muôn thuở gắn liền với đời sống con người. Bất cứ nơi đâu trên trái đất, bất cứ màu da nào, dân tộc nào đều cũng có một nền giáo dục riêng biệt, đặc trưng của mình. Ngay cả trong mỗi gia đình đều có một nề nếp riêng của gia đình đó, mà người chủ gia đình là đầu tàu dẫn dắt theo cái hướng đi của gia đình mình và của cái xã hội mà gia đình mình đang hiện hữu. Nên từ ngàn xưa ông bà ta cũng đã cảnh báo là :" Dưỡng bất giáo, phụ chi quá. Giáo bất nghiêm, sư chi đọa " 養不教,父之過。教不嚴,師之惰。Có nghĩa : " Nuôi mà không dạy là lỗi của người cha. Dạy mà không nghiêm, là do sự biếng nhác của người Thầy." Vậy nên ...

           Muốn Giáo Dục có hiệu qủa tốt, thì cần phải kết hợp chặc chẽ giữa người dạy, người học và người theo dõi đôn đốc nữa ! Tức là phải kết hợp giữa Học Đường và Gia Đình, phải điều phối hợp lý chặc chẽ giữa Học Sinh, Thầy Cô Giáo và Phụ Huynh ! GIÁO DỤC luôn là vấn đề bức xúc, tế nhị và lâu dài, không phải trong một ngày một buổi mà đem lại hiệu qủa trông thấy được.

           Bây giờ thì ta hãy thử Chiết Tự để tìm hiểu một cách thấu đáo hơn về 2 chữ GIÁO DỤC nhé !

     * GIÁO 教 là chữ Hội Ý, theo diễn tiến của chữ viết như sau :

甲骨文

金文

金文大篆

小篆

繁体隶书

Giáp Cốt Văn          Kim Văn      Đại Triện             Tiểu Triện     Lệ Thư   

Ta thấy các chữ trên ...

        Bên Trái phía trên là 2 dấu chéo chỉ SỰ KIỆN, phía dưới là hình chữ Tử 子 là NGƯỜI, là Thằng Nhỏ. Bên Phải là hình của một Người hai tay dang ra, tay phía trên có cầm một cây Roi giơ cao như đang chỉ huy. HỘI Ý những hình trên lại : Trong xã hội nô lệ, thường thì chủ nô lệ phải cầm roi để chỉ huy, ra lệnh, dạy bảo đám người nô lệ. Nên ...

        GIÁO 教 đầu tiên có nghĩa là Chỉ Bảo, Ra Lệnh. Như :

    - GIÁO HUẤN 教訓 : là Dạy Dỗ, chỉ bảo, bắt buộc phải làm theo. Huấn còn có nghĩa là Huấn Tập, Huấn luyện cho thành thạo. Nghĩa phát sinh hiện nay thì Giáo Huấn có nghĩa là : Dạy cho một bài học cho nên thân !.

    - GIÁO ĐẠO 教導 : Chữ ĐẠO 導 nầy có bộ THỐN 寸 là Tấc ở dưới, Ý chỉ dò dẵm từng tấc đất một. Nên ĐẠO là Chỉ Dẫn để đi cho đúng Đường là Hướng Đạo đó. Nên GIÁO ĐẠO là Dạy dỗ và Hướng dẫn để đi cho đúng với con đường phải đi.

    - GIÁO DƯỠNG 教養 : Chữ DƯỠNG có bộ THỰC 食 bên dưới, nên Dưỡng là Cho Ăn, là NUÔI. Nên GIÁO DƯỠNG là Nuôi Dạy. 

Nuôi dạy là phạm vi của Gia đình, của Cha mẹ đối với Con cái. nhưng nghĩa rộng của Giáo Dưỡng là Giáo dục và Bồi Dưỡng. Có nghĩa dạy xong rồi, còn phải củng cố bồi dưỡng cho kiến thức được vững chắc lâu dài !

    - GIÁO HỌC 教學 : là DẠY và HỌC, nên Giáo Học là Dạy Học. Công Việc Giáo Học là Công việc truyền thụ kiến thức cho người khác, nhưng GIÁO HỌC cũng có nghĩa Dạy tức là Học đó. Càng DẠY thì lại càng HỌC được nhiều kiến thức hơn, càng Giỏi hơn ra.

      Đó là chung quanh các chữ GIÁO mà có liên quan đến DỤC. Vậy DỤC là gì ? Ta hãy xem nguồn gốc của chữ DỤC dưới đây :

甲骨文

金文

金文大篆

小篆

繁体隶书

   

                                                       Đại Triện           Tiểu Triện         Lệ Thư

Ta thấy :

    * Chữ Đại Triện : Có bộ MẪU 母 là Mẹ bên trái, bên phải là chữ Tử 子 là Con lật ngược đầu xuống, dưới cùng là chữ Tiểu 小 là Nhỏ. Ý chữ là : Bà mẹ đang sanh ra đứa con nhỏ, nên chữ Tử 子 mới để ngược đầu trở xuống. Và chữ DỤC 育 ở đây có nghĩa là SANH RA. Như :

        - Sinh Dục 生育 nghĩa như Sinh Sản.

        - Tiết Dục 節育 là Hạn chế Sinh đẻ.

        - Đoạn Dục 斷育 là Nghỉ đẻ luôn !

    * Chữ Tiểu Triện : Phần trên  là chữ TỬ 子 trở ngược đầu, phần dưới là bộ NHỤC 肉 là THỊT,( được viết cách điệu như chữ Nguyệt 月 là Trăng ). Ý chữ là : Đang đút cho đứa bé ăn thịt, nên DỤC 育 có nghĩa là NUÔI NẤNG. Như :

        - Dưỡng Dục 養育 : là từ kép của Nuôi, là Nuôi Nấng.

        - Đức Dục 德育 : Nuôi Nấng về mặt Đạo Đức.

        - Trí Dục 智育 : Nuôi Nấng về mặt Trí Thức.

        - Thể Dục 體育 : Nuôi Nấng cho cơ thể Khỏe Mạnh.

        - Mỹ Dục 美育 : Nuôi Nấng về khiếu Thẩm Mỹ.

           .... và cuối cùng là ...

        - GIÁO DỤC 教育 : Là Nuôi Nấng về mặt Dạy Dỗ.

          Nhưng, Nuôi như thế nào ? Nuôi bằng cách rèn luyện cho người được nuôi có được Phẩm Chất Đạo Đức Tốt ( Đức Dục ). Nuôi bằng cách truyền thụ cho người được nuôi mở mang trí hóa với các kiến thức căn bản ( Trí Dục ). Nuôi cho người được nuôi có được một cơ thể cường tráng ( Thể Dục )  và có được cái năng khiếu về thẩm mỹ mỹ thuật, biết thưởng thức được những cái đẹp của cuộc sống chung quanh ta ( Mỹ Dục ). Còn ...

          DẠY thì phải ra sao ? Dạy  cho nắm bắt được kiến thức cơ bản của xã hội mà ta đang sống, có được một kỹ năng kiếm sống và biết sống cho đáng sống ( Giáo Huấn ). Dạy cho biết bồi dưỡng cập nhật và thích ứng với xã hội luôn luôn phát triển không ngừng ( Giáo Dưỡng ). Dạy cho biết phải đi đúng đường đúng hướng của đạo làm người trong tập thể mà ta đang sống ( Giáo Đạo ) và cuối cùng là Dạy cho ta biết phải luôn luôn học hỏi và không ngừng cầu tiến để thăng hoa hơn con người của bản thân ta ( Giáo Học ). Cho nên ...

          Giáo mà không Huấn sẽ không tinh, không giỏi được. Giáo mà không Dưỡng sẽ không lâu dài bền vững được. Giáo mà thiếu chỉ Đạo sẽ dễ bị chệch hướng, " Tẩu hỏa nhập ma ", lầm đường lạc lối,  còn Giáo mà không chịu trao dồi Học hỏi thêm sẽ bị lạc hậu ngay, như câu nói :

            

            Học như nghịch thuỷ hành chu,    學如逆水行舟,

            Bất tiến tắc thoái dã !                  不進則退也!

dcd_thienac3.jpg 

Có nghĩa :

       - Chuyện học hành như là đang đi thuyền nước ngược vậy,

       - Nếu không cố gắng tiến lên, thì sẽ bị nước đẩy cho lùi trở xuống ! ( chớ không thể đứng một chỗ được !).

 

       Hai chữ GIÁO DỤC  thấy như đơn giản, nhưng lại bao hàm đầy đủ các mặt NUÔI DẠY cần thiết để đào tạo con người. Cho nên, Công Tác Giáo Dục cũng là Công Tác vô cùng phức tạp và hết sức thiêng liêng và Hiệu Qủa Giáo Dục thì không phải là chuyện một ngày một buổi mà có được. Ngạn ngữ Trung hoa xưa có câu :

                 Nhất niên thọ đạo,       一年樹木,

                 Thập niên thọ mộc,      十年樹稻,

                 Bách niên thọ nhơn.     百年樹人!

Có nghĩa :

        - Vì lợi ích trong một năm thì trồng lúa,

        - Vì lợi ích của mười năm thì trồng cây,

        - Vì lợi ích của trăm năm thì phải đào tạo con người !

dcd_thienac4.jpg 

          

      Mong rằng những người làm Công Tác Giáo Dục phải biết cân nhắc, châm chước và trân trọng !

 

                                                             Đỗ Chiêu Đức

_________________________________________________________________________________________________________________________________________________________  

THI THIÊN TỬ


          Những người nghiên cứu và say mê thơ Đường, thường hay kháo nhau về những giai thoại xoay quanh các thi nhân của thời đại nầy. Trong số các giai thoại đó, chuyện thường được nhắc đến nhiều nhất là danh xưng của các thi nhân, như  Thi Tiên là Lý Bạch, Thi Thánh là Đỗ Phủ và Vương Duy là Thi Phật, còn một danh hiệu cao quý thường gây tranh cải là Thi Thiên Tử. Vậy, ai là Thi Thiên Tử của thời đại hoàng kim của thi ca nầy ?. Chính là Vương Xương Linh đó, có giai thoại cho rằng Thi Thiên Tử là Vương Chi Hoán, vì trong một lần cá cược, Vương Xương Linh bị thua, cho nên mới nhường chức Thi Thiên Tử lại cho Vương Chi Hoán, nhưng đây chỉ là chuyện các thi sĩ vui đùa với nhau mà thôi, xin mời nghe giai thoại mà dân gian thường truyền khẩu sau đây.....

 

          Trong thời Khai Nguyên đời Đường, các thi nhân Vương Xương Linh, Cao Thích, Vương Chi Hoán đồng nổi danh ngang nhau. Lúc bấy giờ tuy đời sống, hoàn cảnh của mỗi người mỗi khác, nhưng họ vẫn thường hay đi chơi chung với nhau.

          Một ngày kia, trời lạnh, tuyết rơi nhẹ, ba vị thi nhân cùng đến uống rượu tại Kỳ đình. Bỗng nhiên có các linh quan (con hát) ở Lê viên, độ hơn mười người, cũng lên lầu dự tiệc. Nhân đó, ba vị thi nhân đồng hẹn nhau tránh khỏi bàn ngồi, đến bên lò sưởi trong góc để nghe ngóng.

         Trong chốc lát, có bốn cô ca kỹ lần lượt kéo đến. Các cô đều rất xa hoa diễm lệ, yêu kiều khả ái. Tất cả mọi người cùng tấu nhạc và bắt đầu hát, các bài hát đều là những tác phẩm nổi danh đương thời.

          Vương Xương Linh cùng các bạn ước hẹn với nhau rằng: "Bọn chúng ta hiện nay đều là những người có tiếng trên thi đàn, nhưng việc hơn kém chưa định được. Nay cứ lặng nghe các linh quan ngâm thơ và hát những bài thơ  thuộc Nhạc Phủ, xem thơ của ai được ngâm và hát nhiều nhất thì người ấy sẽ là Thi Thiên Tử nhé ! ".

          Một lúc sau, các linh quan cử nhạc, một cô đào gỏ nhịp hát lên rằng:

 

         Hàn vũ liên giang dạ nhập Ngô        寒雨連江夜入吴,

         Bình minh tống khách Sở sơn cô      平明送客楚山孤.

         Lạc Dương thân hữu như tương vấn, 洛楊親友如相問,

         Nhất phiến băng tâm tại ngọc hồ.     一片冰心在玉壶!

DCD_thinhan_1.jpg 

Ban đêm đi thuyền vào đất Ngô trong khi mưa lạnh giăng giăng ngang sông. Sáng sớm mai tiễn khách chỉ có mỗi ngọn núi Sở cô quạnh. Nếu bạn bè thân thích ở Lạc Dương có hỏi thăm, (thì xin anh đáp rằng ) Lòng tôi như một mảnh băng trong trắng ở trong bình ngọc vậy.

        Đó chính là bài " Phù Dung Lâu Tống Tân Tiệm " của Vương Xương Linh, nên khi ...

        Nghe xong, Vương Xương Linh mỉm cười, đưa tay lên vẽ trên tường một dấu hiệu, nói: "Nhất tuyệt cú!". Lại một cô khác ngâm rằng:

 

             Khai khiếp lệ triêm ức             開箧淚沾臆

             Kiến quân tiền nhật thư           見君前日書

             Dạ đài hà tịch mịch                 夜台何寂寞

             Do thị Tử Vân cư.                    猶似子雲居

DCD_thinhan_2.jpg 

                            
   
Mở hộp ra mà nước mắt ướt đầm trên ngực, vì nhìn thấy bức thư của chàng ngày trước. Chốn dạ đài hiu quạnh biết bao nhiêu, nhưng nơi đó vẫn là chỗ ở của chàng Tử Vân (tức Dương Hùng ) đã mất .

          Đó chính là bài " Khốc Đơn Phụ Lương Cửu Thiếu Phủ " của Cao Thích. Nên khi nghe xong...

          Cao Thích đưa tay lên vách vẽ một vòng, nói: "Nhất tuyệt cú!"

          Tiếp đến một cô khác cũng gõ nhịp ngâm rằng:

 

        Phụng trửu bình minh kim điện khai   奉帚平明金殿開

        Tạm tương đoàn phiến cộng bồi hồi    暫将團扇共徘徊

        Ngọc nhan bất cập hàn nha sắc          玉颜不及寒鸦色

        Do đới Chiêu Dương nhật ảnh lai.       犹带昭陽日影來!

DCD_thinhan_3.jpg 

Buổi sáng cầm chổi quét khi cửa điện vàng vừa mở ra, tay mân mê cây quạt mà trong dạ lại bồi hồi. Mặt ngọc còn không bằng cả nhan sắc của con quạ lạnh, (vì quạ) còn được hưởng ánh nắng mặt trời ở điện Chiêu Dương mà bay đến đây ! Đó là bài " Trường Tín Thu Từ " cũng của Vương Xương Linh ...

          Nghe xong, Vương Xương Linh lại đưa tay lên vẽ lên tường, nói: "Nhị tuyệt cú!". Lại một cô khác đứng lên gỏ nhịp cất tiếng ngâm :

        千里黃雲白日曛, Thiên lý hoàng vân bạch nhật huân,

        北風吹雁雪紛紛.   Bắc phong xuy nhạn tuyết phân phân.

        莫愁前路無知己, Mạc sầu tiền lộ vô tri kỷ,

        天下誰人不識君。 Thiên hạ hà nhân bất thức quân ?!

DCD_thinhan_4.jpg 

              Ngàn dặm mây ngã màu vàng che mờ cả mặt nhựt. Gió bấc thổi cho chim nhạn bay về nam và tuyết rơi phơi phới. Thôi bạn hãy lên đường đi đi, đừng buồn là phía trước mặt không có người tri kỷ. Vì trong thiên hạ nầy ai là người không biết đến bạn đâu !?  Đó là bài " Biệt Đổng Đại " của Cao Thích, nên anh ta lại giơ tay lên ra dấu và điểm : " nhị Tuyệt cú !".

          Bốn cô đã ngâm bốn bài, toàn là tác phẩm của Vương Xương Linh và Cao Thích.

          Vương Chi Hoán thẹn quá, nhưng tự nghĩ rằng thơ của mình nổi danh đã lâu, bèn nói với hai người kia rằng: "Bọn này đều là những nhạc quan không theo kịp thời điểm, những bài họ hát đều là ngôn từ quê mùa của vùng Ba Thục. Còn những khúc hát như Dương xuân Bạch tuyết thì bọn phàm phu tục tử này có dám nói đến đâu ?" Bèn chỉ vào một trong những ca kỹ đẹp nhất bọn, nói: "Đến lượt cô này hát, nếu như không phải là thơ của ta, ta nhất định không tranh đua với các anh nữa. Còn nếu như đúng là thơ của ta, thì các anh phải tôn ta làm Thi THIÊN TỬ nhé !". Nói xong cả bọn vui vẻ cười đợi. Phút chốc, đến lượt cô đào đẹp nhất bọn, búi tóc song hoàn, cất tiếng ca réo rắt :

 

       Hoàng Hà viễn thướng bạch vân gian   黄河逺上白雲間

       Nhất phiến cô thành vạn nhận san       一片孤城萬仞山

       Khương địch hà tu oán dương liễu        姜笛何須怨楊柳

       Xuân phong bất độ Ngọc Môn Quan.    春風不度玉門関

DCD_thinhan_5.jpg 

             Sông Hoàng Hà chảy từ nơi xa tít trong khoảng mây trắng. Một mảnh thành trơ trọi giữa núi cao muôn nhận (đơn vị đo lường thời xưa, ba thước là một nhận). Sáo Khương đừng thổi bài "Oán dương liễu" nữa, vì gió xuân kia cũng không đưa (tiếng sáo) qua được Ngọc Môn Quan đâu. Đúng là bài " Lương Châu Từ " nổi tiếng của Vương Chi Hoán, nên khi cô đào vừa dứt tiếng hát thì ...

           Vương Chi Hoán bèn vỗ tay cả cười nói với hai bạn rằng : " Các anh thấy đấy, ta nói có sai đâu, ta quả là chơn mạng Thi THIÊN TỬ đó nhé !". Cả bọn cùng cả cười chuốc rượu uống mừng.

DCD_thinhan_6.jpg 

             Các linh quan không rõ đầu đuôi câu chuyện, đều hỏi: "Chẳng hay chư vị vui cười chuyện gì thế?" Vương Xương Linh và các bạn liền thuật rõ mọi việc. Các linh quan đồng thưa rằng: "Bọn tục nhân chúng tôi không nhận ra được những bậc cao nhã, xin được muôn vàn ngưỡng mộ!" Xong tất cả đều ngồi vào bàn tiệc cùng vui vẻ uống say  đến sáng.

           Nhân chuyện nầy, mới có giai thoại cho rằng Vương Chi Hoán cũng là Thi Thiên Tử là vì vậy !.....

 

          Kính mời Quý Vị xem  thêm tài liệu bổ sung sau đây :


          詩天子指诗坛的领袖。 唐 诗人 王昌龄 、 王维 和 李白 都有此誉称。 清 陆凤藻 《小知录·文学》:" 王昌龄 集, 王维 诗天子, 杜甫 诗宰相。" 清 宋荦 《漫堂说诗》:"大抵各体有‘初'、‘盛'、‘中'、‘晚'之别,而三 唐 七絶,并堪不朽。 太白 、 龙标 ( 王昌龄 )更有‘诗天子'之号。" 郑振铎 《插图本中国文学史》第二五章八:" 王昌龄 字 少伯 , 京兆 人,与 高适 、 王之涣 齐名,而 昌龄 独有‘诗天子'的称号。"
          Thi Thiên Tử ( Vua trong thơ )  chỉ lãnh tụ trên Thi Đàn. Các thi nhân Vương Xương Linh, Vương Duy và Lý Bạch đều có cái danh xưng danh dự nầy. Theo Lục Phụng Tảo đời Thanh " Văn học- Tiểu tri lục " thì : " Theo Vương Xương Linh tập, Vương Duy là Thi Thiên Tử, Đỗ Phủ là Thi Tể Tướng. "Trong " Mãn đường thuyết thi " đời Thanh thì : " Đại đễ các thể đều phân biệt SƠ, THỊNH, TRUNG, VÃN, mà tam Đường thất Tuyệt, đều có thể  nói là bất hủ hết được. Thái Bạch, Long Tiêu ( Vương Xương Linh ) lại có danh hiệu là "Thi Thiên Tử ".  Theo điều thứ 25 chương 8 trong " Tháp đồ bổn TRUNG QUỐC VĂN HỌC SỬ " của Trịnh Chấn Đạc viết : " Vương Xương Linh tự Thiếu Bá, người đất Kinh Triệu , nổi danh ngang hàng với Cao Thích, Vương Chi Hoán, nhưng Vương lại có danh xưng độc hữu là " THI THIÊN TỬ ".

DCD_thinhan_7.jpg 

 1.  詩仙/詩俠:李白   Thi Tiên, còn gọi là Thi Hiệp : Lý Bạch.

2.  詩聖/詩史:杜甫   Thi Thánh hay Thi Sử : Đỗ Phủ. 
3.  詩豪:劉禹錫       Thi Hào : Lưu Vũ Tích.
4.  詩魔:白居易       Thi Ma : Bạch Cư Dị. 
5.  詩鬼/鬼才:李賀   Thi Quỷ hay Quỷ Tài : Lý Hạ. 
6.  詩佛:王維          Thi Phật : Vương Duy.
7.  詩囚:孟郊          Thi Tù : Mạnh Giao.
8.  詩奴:賈島          Thi Nô : Giả Đảo.
9.  詩骨:陳子昂         Thi Cốt : Trần Tử Ngang.
10.詩狂:賀知章        Thi Cuồng : HạTri Chương.
11.詩傑:王勃           Thi Kiệt : Vương Bột.
12.詩天子:王昌齡       Thi Thiên Tử : Vương Xương Linh.
13.詩腸:張籍           Thi Trường : Trương Tịch. 
15.詩囊 : 齊己           Thi Nang : Tề Kỷ.

DCD_thinhan_8.jpg 

                  

1、詩骨

THI CỐT

陳子昂Trần Tử Ngang

其詩詞意激昂,風格高峻,大有"漢魏風骨",被譽為"詩骨" Có Cốt cách của thời Hán Ngụy. Nên gọi là Thi Cốt.

2、詩傑 THI KIỆT

王勃 Vương Bột

其詩流利婉暢,宏放渾厚,獨具一格,人稱"詩傑"Là Hào Kiệt trong làng thơ.

3、詩狂THI CUỒNG

賀知章Hạ Tri Chương

秉性放達,自號"四明狂客"。因其詩豪放曠放,人稱"詩狂"Phóng túng cuồng ngạo,là Tứ Minh Cuồng Khách.

4、詩家天子七絕聖手

王昌齡Vương Xương Linh

其七絕寫的"深情幽怨,音旨微茫",因而舉為"詩家天子"Thi THIÊN TỬ, Thất Ngôn Thánh Thủ.

5、詩仙 THI TIÊN

李白 Lý Bạch

詩想像豐富奇特,風格雄渾奔放,色彩絢麗,語言清新自然,被譽為"詩仙"Ông Tiên trong thơ.

6、詩聖 THI THÁNH

杜甫 Đỗ Phủ

其詩緊密結合時事,思想深厚。境界廣闊,人稱為"詩聖"Ông Thánh trong thơ

7、詩囚 THI TÙ

孟郊 Mạnh Giao

作詩苦心孤詣,慘澹經營,無好問,曾稱之為為詩所困,苦吟詩人"詩囚"Người bị  Cầm Tù trong thơ.

8、詩奴 THI NÔ

賈島 Giả Đảo

一生以作詩為命,好刻意苦吟,人稱其為為寫詩而寫詩的"詩奴"Nô lệ của thơ.

9、詩豪 THI HÀO

劉禹錫 Lưu Vũ Tích

其詩沉穩凝重,格調自然格律粗切,白居易贈他"詩豪"的美譽Hào kiệt trong thơ

10、詩佛 THI PHẬT

-王維 Vương Duy

這種稱謂除了有王維詩歌中的佛教意味和王維的宗教傾向之外,也表達了後人對王維在唐代詩壇崇高地位的肯定Thơ có ý niệm về Phật Giáo.

11. 詩魔 THI MA

白居易 Bạch Cư Dị

白居易寫詩非常刻苦,正如他自己所說:"酒狂又引詩魔發,日午悲吟到日西。" 過份的誦讀和書寫,竟到了口舌生瘡、手指成胝的地步。所以人稱詩風怪癖的詩人"詩魔"Mê thơ như bị Ma nhập.

12、五言長城Ngũngôn Trường Thành

劉長卿 Lưu Trường Khanh

擅長五言詩,他的五言詩作是全部詩作的十分之七八,人稱其為"五言長城Chuyên vềthơ Ngũ Ngôn. 7-80%thơ của ông đều là thơ Ngũ Ngôn.

13、詩鬼 THI QUỶ

李賀 Lý Hạ

其詩善於熔鑄詞采,馳騁想像,運用神話傳說創造出璀璨多彩的鮮明形象,故稱其為"詩鬼"Thơ có hơi hám của

Ma Quỷ. Tài cũng thế !

 14、杜紫薇 Đỗ Tử Vi

杜牧 Đỗ Mục

曾寫過《紫薇花》詠物抒情,借花自譽,人稱其為"杜紫薇"。

15、溫八叉 Ôn Bát Thoa

溫庭筠 Ôn Đình Quân

才思敏捷,每次入試,八叉手即成八韻,人稱他為"溫八叉"Xoa tay 8 lần thành 8 vận, chỉ làm thơ rất nhanh.

16.詩神 THI THẦN

蘇軾 Tô Thức ( Đông Pha )

蘇軾詩,揮灑自如,清新剛健,一幟獨樹,人稱詩神。Ý thơ mẫn tiệp, tứ thơ thanh tân, Làm thơ trôi chảy như là ông Thần của Thơ vậy !

 

Đỗ Chiêu Đức ____________________

 

    NHẤT TỰ  SƯ

 

           Như tất cả mọi người đều biết, trong trời đông giá rét, thậm chí tuyết phủ ngập trời, hoa mai vẫn cứ ngạo nghễ vương lên, kết nụ trổ hoa bất chấp sương rơi tuyết phủ. Cùng với Tùng Trúc hợp thành : TÙNG TRÚC MAI TUẾ HÀN TAM HỮU 松竹梅歲寒三友, là ba người bạn trong mùa đông hàn lạnh lẽo ! Không mạnh mẽ cao lớn chửng chạc như Tùng, không xanh tốt dẽo dai vươn dài như Trúc, Mai ẻo lả khẳng khiu với những cành nhánh mảnh mai, nhưng những đọt xanh vẫn manh nha, nụ non vẫn đâm chồi nẩy lộc ... Xin mời nghe một câu chuyện mai nở sớm trong trời đông tuyết gía sau đây ...

DCD_Nhatusu_1.jpg 

         Theo sách " Đường Tài Tử Truyện"《唐才子传》ghi chép:

        Nhà sư thi sĩ TỀ KỶ 齊己 (863-937) , người ở cuối đời  Đường, đầu đời Ngũ Đại. Lúc nhỏ gia đình nghèo khó, phải đi chăn trâu độ nhật. Nhưng lại có chí cầu học, mỗi ngày đều đọc sách và làm thơ trên lưng trâu. Sư Cụ trong chùa thương tình cho vào chùa tu để có thời gian học hành và nghiên cứu Kinh Phật.

         Một hôm gần cuối năm, như thường lệ, Tề Kỷ thức sớm cúng Phật và làm công phu buổi sáng trong khi đêm qua tuyết rơi rất lớn. Mở cửa ra sân nhìn về thôn xóm xa xa, chợt thấy trong nền tuyết trắng bao la lấm tấm có mấy cành mai đà hé nở ! Cảm cho cái tinh thần bất khuất trước tuyết đông giá lạnh, cái sức sống mạnh mẽ ngạo nghễ vươn lên giữa biển tuyết mênh mông của hoa mai, Tề Kỷ về phòng làm ngay bài thơ " TẢO MAI 早 梅 " để tán thán cho việc hoa mai nở sớm. Trong bài thơ có 2 câu rất hay là :

                  Tiền thôn thâm tuyết lý,    前村深雪裏

                  Tạc dạ SỔ chi khai.            昨夜數枝開。

Có nghĩa :

           - Trong rừng tuyết của xóm phía trước xa xa...

           - Tối đêm qua đã có VÀI cành mai đà hé nở !

        Tề Kỷ rất đắc ý với 2 câu thơ nầy, nên mới đem khoe với

Trịnh Cốc 鄭谷 (849-911), một thi sĩ đương thời. Trịnh Cốc đọc xong phê rằng : " SỔ Chi Khai 數枝開 " là VÀI cành mai đà nở, chưa thấy được cái " TẢO 早 " là SỚM của Mai, nên đổi lại là " NHẤT CHI KHAI 一枝開 " để nêu bật được cái SỚM của Hoa Mai nở trong tuyết lạnh ! Tề Kỷ nghe xong, phục sát đất, bèn sửa lại thành :

                 Tiền thôn thâm tuyết lý,    前村深雪裏

                 Tạc dạ NHẤT chi khai.       昨夜一枝開。

... và từ đó về sau gọi Trịnh Cốc là " NHẤT TỰ SƯ  一字师 ", vừa có nghĩa là " Ông Thầy dạy cho MỘT chữ ", lại vừa có nghĩa là " Ông Thầy dạy cho chữ NHẤT " !

         Toàn bài thơ TẢO MAI của sư Tề Kỷ như sau :   

DCD_nhatusu_2.jpg   

 

         早 梅                      TẢO MAI

        萬木凍欲折,       Vạn mộc đống dục chiết,

        孤根暖獨回。       Cô căn noãn độc hồi. 

        前村深雪裏,       Tiền thôn thâm tuyết lý,

        昨夜一枝開。       Tạc dạ nhất chi khai. 

        風遞幽香出,       Phong đệ u hương xuất,

        禽窺素豔來。       Cầm khuy tố diễm lai. 

        明年如應律,       Minh niên như ứng luật,

        先發望春臺。       Tiên phát Vọng Xuân Đài !

                   齊己                                     Tề  Kỷ

CHÚ THÍCH :

      TẢO MAI : là Mai nở sớm, cũng có nghĩa là : Mai nở sớm hơn tất cả các loài hoa trong trời đông giá lạnh.

      ĐỐNG DỤC CHIẾT : Đống là Đong đá, Dục là Muốn, Chiết là Gãy. Có nghĩa là : Đong đá dòn đến muốn gãy luôn.

      NOÃN là Ấm. HỒI là Hồi Sinh. Nên Noãn Độc Hồi là : Nhờ Hơi ấm mà đơn độc hồi sinh .

      ĐỆ 遞 là Đệ Trình. Ở đây có nghĩa là Truyền đạt. Nên Phong Đệ là : Gió Đưa, gió đẩy.

      CẦM là Chim muông. KHUY là Nhìn ngắm.

      TỐ DIỄM là Trong Trắng đẹp đẽ. Ở đây chỉ Bạch Mai.

      ỨNG LUẬT : là Theo Quy Luật Tự Nhiên.

      VỌNG XUÂN ĐÀI : là Cái Đài Ngóng Xuân, lên đó để đợi mùa xuân tới. Đứng trên đài cao, có thể nhìn thấy mặt trời mọc trước, có thể đón tia đầu tiên của ánh nắng mùa xuân trứơc hơn là những người ở dưới thấp.

 NGHĨA BÀI THƠ :

          Muôn ngàn thảo mộc đều lạnh cóng đến muốn gãy ra. Chỉ riêng có rể của hoa mai là biết hút hơi ấm trong đất mà đơn độc hồi sinh. Cho nên, trong nền tuyết trắng xóa mênh mông của xóm trước xa xa, đêm qua một cành mai đã vươn lên nở hoa trong trời đông giá rét. Gió đã đưa cái hương thơm nhè nhẹ thoảng đi và chim cũng đã ngạc nhiên nhìn ngắm cành bạch mai thanh khiết trắng trong đẹp đẽ mà bay đến. Nếu sang năm lại theo cái quy luật Nở Sớm tự nhiên nầy, thì hoa mai ơi, hãy nở trước ở Vọng Xuân Đài để cho nhiều người nhìn ngắm, chớ ở nơi hoang sơ lạnh lẽo vắng vẻ nầy, có ai biết đến mà thưởng thức nhìn ngắm đâu !

          Như trên đã nói, Sư Tề Kỷ đi tu chỉ vì nghèo, bất đắc dĩ và bất đắc chí không thi thố được tài năng, nên còn nặng nợ với công danh, ông ví mình như cành mai nở sớm kia, vượt lên trên trăm hoa để khoe sắc, nhưng lại khoe sắc trong vùng tuyết lạnh không người.... cũng như tài năng của ông bị mai một ở trong chùa không người biết đến vậy ! Cho nên, ông đã khuyên mai nên nở ở Vọng Xuân Đài cho mọi người nhìn ngắm để biểu lộ cái ao ước thầm kín trong lòng... Nếu đi thi ta cũng sẽ toả sáng như mai sớm tỏa hương cho mọi người ngưỡng mộ vậy !

DCD_Nhattusu_3.jpg 

                  DIỄN NÔM :

                          TẢO MAI

                  Muôn cỏ hoa đong cứng,

                  Rể truyền hơi ấm xanh.

                  Xóm ngoài trong tuyết lạnh,

                  Đêm qua nở một cành.

                  Gió đưa hương thoang thoảng,

                  Chim ngắm vẻ đẹp xinh.

                  Nếu sang năm lại sớm,

                  Vọng Xuân Đài nở quanh.

                  Lục bát :

                  Cỏ hoa lạnh cứng trời đông,

                  Riêng mai hơi ấm vẫn không phai tàn.

                  Xóm ngoài trong tuyết mênh mang,

                  Đêm qua nở trắng một cành bạch mai.

                  Gió đưa hương thoảng ra ngoài,

                  Chim nhìn ngắm vẻ thanh bai trong lành.

                  Sang năm lại sớm nở xanh,

                  Vọng Xuân Đài đó chung quanh lắm người.

                                                          Đỗ Chiêu Đức

 

         Đọc bài thơ nầy, lại làm ta nhớ đến 2 câu cuối của bài " Cáo Tật Thị Chúng 告疾示眾 " của Mãn Giác Thiền Sư (1052-1096) là một Thiền sư  của Việt Nam ta là :

              莫謂春殘花落尽,      Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận,
                    庭前昨夜一枝梅 !     Đình tiền tạc dạ nhất chi mai.

DCD_nhatusu_4.jpg 

                   Có nghĩa :

                   Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết,
                   Ngoài sân, đêm trước, nở cành mai!

 

            Khi viết 2 câu trên, hẵn Mãn Giác Thiền Sư cũng đã đọc qua bài thơ của nhà sư Tề Kỷ rồi.

 

        Hẹn bài viết sau sẽ giới thiệu về TRỊNH CỐC, một thi sĩ của cuối đời Đường, đầu đời Ngũ Đại.

 

                                                                Đỗ Chiêu Đức

________________________________________________________________________ 

https://ssl.gstatic.com/ui/v1/icons/mail/images/cleardot.gif

 

Trịnh Cốc. HOÀI THƯỢNG DỮ HỮU NHÂN BIỆT

 

        Đây là bài viết riêng tặng cho Anh Suôi HUỲNH THANH SƠN, người đã có chung cảm xúc hoài cổ bồi hồi, man mác, bâng khuâng... khi đọc câu :
               ... Sổ thanh phong địch ly đình vãn,...
                  và... Quân hướng Tiêu Tương ngã hướng Tần !.

 

                         .............................................................................................

 

 

        Thơ Tuyệt cú từ sau Đỗ Mục và LÝ Thương Ẩn của thời Vãn Đường thì dần dần chuyển sang phong cách nghị luận mà giảm dần đi tính cách du dương trữ tình. Trịnh Cốc là người còn giữ được vẻ mượt mà tình tứ với âm điệu thiết tha đầy hình tượng của thuở Thịnh Đường....
        Bây giờ là " Mùa Chia Tay ". Sau Tết, Việt kiều về nước định cư, còn Việt Nam thì ở lại ... Xin mời tất cả cùng đọc một bài thơ tả cảnh chia tay giữa 2 người bạn thân với nhau nhé !

DCD_TrinhCoc_1.jpg DCD_TrinhCoc_self.jpg 

 

                           Chân dung TRỊNH CỐC và Bút pháp bài HOÀI THỦY BIỆT HỮU.

 

                       淮上與友人別              HOÀI THƯỢNG DỮ HỮU NHÂN BIỆT

   揚子江頭楊柳春,        Dương Tử Giang đầu dương liễu xuân,

  楊花愁殺渡江人。        Dương hoa sầu sát độ giang nhân.
  數聲風笛離亭晚,        Sổ thanh phong địch ly đình vãn,
  君向瀟湘我向秦。        Quân hướng Tiêu Tương ngã hướng Tần.

  鄭 谷                                                      Trịnh Cốc.

 CHÚ THÍCH :

    1. HOÀI : là đất Dương Châu. HOÀI THỦY là tên con sông chảy qua thành Dương Châu. Bài thơ nầy còn có một tên khác gọn hơn là : HOÀI THỦY BIỆT HỮU ( Giã từ bạn trên dòng sông Hoài ).
    2. DƯƠNG TỬ GIANG : Một nhánh của sông Trường Giang từ Trấn Giang đến Dương Châu của tỉnh Giang Tô, xưa gọi là Dương Tử Giang.
    3. SẦU SÁT : Cái Sầu làm chết người ! Chỉ nỗi sầu ray rức, ta nói là " Buồn Thúi Ruột !"
    4. LY ĐÌNH : ĐÌNH là cái mái che không có vách, cất theo dọc đường ngày xưa để cho người đi đường ngồi nghỉ chân. Cứ 5 dặm thì có một Tiểu Đình và 10 dặm thì có một Trường Đình. Đọc trong Kiều ta cũng thấy :


                       Bề ngoài mười dặm TRƯỜNG ĐÌNH,
                       Vương ông đặc tiệc tiễn hành đưa theo.
vì thường dùng làm nơi đưa tiễn, cho nên còn gọi là LY ĐÌNH, là nơi chia tay ly biệt.

 

   5. TIÊU TƯƠNG : chỉ vùng đất ở tỉnh Hồ Nam hiện nay.
   6. DƯƠNG HOA : Hoa của Dương liễu, còn gọi là Liễu Nhự thường tung bay theo gió, phất phơ trắng xóa một vùng. Thơ Á Nam Trần Tuấn Khải có câu :


                      " Liễu rơi trước gió ngỡ là bướm bay ! "...


   7. TẦN : Chỉ Đô Thành Trường An thuở xưa, thuộc tỉnh Thiểm Tây hiện nay.
   8. PHONG ĐỊCH : Tiếng sáo chập chờn đưa theo gió.

DỊCH NGHĨA :

                         GIÃ BIỆT BẠN TRÊN DÒNG SÔNG HOÀI


      Vẻ xanh tươi của dương liễu trên dòng sông Dương Tử với hoa dương liễu cuốn bay theo gió phất phơ khiến lòng người qua sông buồn muốn thúi ruột ! Văng vẳng đâu đây mấy tiếng sáo thiết tha réo rắc quyện đưa theo gió trong buổi chiều bên ly đình vắng vẻ , thôi thì đất Tiêu Tương bạn cứ đến còn tôi, tôi sẽ đi về đất Tần của xứ Trường An ngàn năm văn vật !


      Bài thơ gợi cảm với cảnh chia tay mỗi người mỗi ngả, những từ Dương Tử Giang, Dương Liễu, Ly Đình, Phong địch... nhất là từ Tiêu Tương khiến người đọc dễ cảm xúc ngẩn ngơ vì những câu thơ trong tiểm thức đã biết được trong Chinh Phụ Ngâm Khúc :


           Chốn Hàm Dương chàng còn ngoảnh lại,
           Bến Tiêu Tương thiếp hãy trông sang.
           Bến Tiêu Tương cách Hàm Dương,
           Cây Hàm Dương cách Tiêu Tương mấy trùng.!!!...

 

       Lúc còn trẻ, tôi cứ ngẩn ngơ mãi khi đọc 2 câu cuối của bài thơ :


           Sổ thanh phong địch ly đình vãn,
           Quân hướng Tiêu Tương ngã hướng Tần !


nhất là câu cuối cùng âm điệu cứ như còn quyện mãi ở trong lòng người đọc : " Quân hướng Tiêu Tương ngã hướng Tần ! ". Ôi, sao mà buồn và nên thơ quá thế ?!!!

DCD_TrinhCoc_3.jpg 

                    DIỄN NÔM :


              Dương liễu xanh xanh Dương Tử Giang,
              Liễu bay sầu chết khách sang ngang.
              Sáo ai réo rắc chiều ly biệt,
              Bạn đến Tiêu Tương tớ đến Tần.


   Lục Bát :


              Vẻ xuân dương liễu giang đầu,
              Qua sông lòng khách nghe sầu chứa chan.
              Sáo ai réo rắc ly tan,
              Tiêu Tương bạn đến, tôi sang đất Tần !


                                                                     Đỗ Chiêu Đức.

 TIỂU SỬ TÁC GIẢ :

                           

         TRỊNH CỐC ( 851-910 ), tự Thủ Ngu, người đất Viên Châu Nghi Xuân ( nay là Huyện Nghi Xuân tỉnh Giang Tây ). Thi nhân của cuối đời Đường ( đầu đời Ngũ Đại ), tự nhỏ nổi tiếng  thông minh, ở tuổi cởi ngựa trúc đã biết Phú Thi. Đậu Tiến Sĩ năm Khải Quang, từng giữ các chức Tham Quân xứ Kinh Triệu, Hữu Thập Di, sau chuyển sang chức Đô Quản Lang Trung, nên người đời thường xưng là Trịnh Đô Quản. Trịnh Cốc thường hay xướng họa với Tiết Năng, LÝ Tần, Trương Kiều, Hứa Đường... mười người, được người đời xưng tụng là " Hàm Thông Thập Triết ". Sau cùng xướng họa với nhà sư TỀ KỶ, được TỀ KỶ tôn là " Nhất Tự Sư " ( ông thầy một chữ, đúng ra là ÔNG THẦY CHỮ NHẤT ) theo tích sau đây   :

 

DCD_TrinhCoc_mount.jpg

       五代著名诗僧齐己一次在下了一夜大雪的早上,发现有几枝梅花已经开了,觉得开得很早,为了突出一个「早」字,便写了一首《早梅》诗,其中有两句是:「前村深雪里,昨夜数枝开。」他对这两句诗很满意,便高兴地拿着这首诗去请教诗友郑谷。郑谷看了几遍后评点说:「数枝梅花开已经相当繁盛了,不足以说明『早』,不如把『数枝』改为『一枝』更贴切。」齐己听了,认为改得很好,欣然接受,并向郑谷拜谢,后人便称郑谷为齐己的「一字师」。

 

      TỀ KỶ là nhà sư nổi tiếng về thơ cuối đời Đường, đầu đời Ngũ Đại. Một lần vào cuối Đông, sau một đêm tuyết lớn, sáng ra phát hiện có mấy đóa mai đà hé nở ở đầu thôn, bèn làm một bài thơ " TẢO MAI " để ca ngợi hoa mai nở sớm, trong đó có 2 câu :


                      Tiền thôn thâm tuyết lí,                   前村深雪里,
                      Tạc dạ sổ chi khai.                          昨夜数枝开.

 

Có nghĩa : Trong bãi tuyết trắng mịt mùng ở đầu thôn, Đêm hôm qua có mấy đóa mai đà nở rộ.


      Nhà sư rất đắc Ý với 2 câu thơ trên, mới đem bài thơ của mình ra khoe với Trịnh Cốc. Không ngờ sau khi đọc tới đọc lui một hồi, Trinh Cốc bèn góp Ý rằng : " Mấy đóa mai nở đã nhiều và phồn thịnh lắm rồi, không nêu bật được cái Ý " SỚM " nữa, sao không đổi lại là " Nhất Chi Khai " ( chỉ có một đóa nở thôi ! ) có phải SỚM hơn không ?!. Nhà Sư TỀ KỶ chợt tỉnh ra và khen hay luôn miệng, bèn đổi chữ " SỔ " trong câu thơ thành chữ " NHẤT " và bái tạ Trịnh Cốc đã điểm hóa cho mình. Người đời sau bèn gọi Trịnh Cốc là " Nhất Tự Sư " của nhà sư TỀ KỶ là vì thế.

 

           Nhân chuyện này làm ta nhớ đến bài CÁO TẬT THỊ CHÚNG của Mãn Giác Thiền Sư Việt Nam ta, trong đó có 2 câu :
                  Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận,            莫謂春殘花落尽,
                  Đình tiền tạc dạ nhất chi mai.          庭前昨夜一枝梅.


Có nghĩa : 

                           Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết,
                           Đêm qua sân trước một cành mai !


       Một nhà sư tả cảnh Mai Sớm, một nhà sư tả cảnh Mai Muộn, một nhà sư ở miền Bắc, một nhà sư ở miền Nam, một nhà sư ở đời Ngũ Đại ( 907-979 ) bên Trung Hoa, một nhà sư ở đời LÝ ( 1009-1225 ) của Việt Nam,một bên chuyên chú về văn chương, một bên chuyên chú về thiền : Mãn Giác (滿覺), 1052-1096, là một Thiền sư Việt Nam thuộc đời thứ 8 của dòng Thiền Vô Ngôn Thông.  Nhưng cả 2 cùng có một cái CHUNG là cùng gặp nhau trong Ý NIỆM về văn chương, cùng một cảm xúc trước một cành mai, một loại hoa tượng trưng cho sự thanh cao liêm khiết trong cảnh thiên nhiên bao la vô cùng tận.... 

Đỗ Chiêu Đức

____________________________________ 

NĂM KHỈ NÓI CHUYỆN ... TỀ THIÊN.

DCD_namkhi2016_1.jpg         

           Chuyện Tề Thiên... là chuyện hoang đường trong Tây Du Ký cuả Ngô Thừa Ân, nói về một con khỉ đá lanh lợi thông minh, học được phép tiên, làm loạn cả long cung, âm tào địa phủ và làm náo loạn cả thiên đình. Cuối cùng Ngọc Hoàng Thượng Đế cũng phải chịu thua mà phong cho chức " Ông Thánh lớn ngang bằng trời " là : TỀ THIÊN ĐẠI THÁNH !

           Năm con khỉ nói chuyện Tề Thiên là nói chuyện phiếm, chuyện tạp nhạp bao đồng về loài khỉ để nghe chơi khi trà dư tửu hậu ...

Image result for 猴年2016  

    

                  Xếp thứ 9 trong bảng thứ tự 12 con giáp, thuộc chi THÂN trong Thập nhị Địa Chi. Khỉ là động vật cực kỳ thông minh, nhanh nhẹn, đồng hành phát triển cùng với đời sống con người từ thời bàn cổ đến nay . Còn có thuyết cho KHỈ là thuỷ tổ cuả loài người nữa !. Loài Khỉ có đặc tính giống như loài người, thuộc loài có vú, sanh con, thường ở trong rừng, ưa nhảy nhót, đu chuyền từ cây này sang cây khác, sống tập thể thành từng đoàn, thông minh hơn các thú vật khác, cho nên thường bắt chước loài người qua các động tác sinh hoạt thường ngày. Khỉ đi vào đời sống văn hóa người Trung Hoa và Việt Nam qua 12 con giáp :  Năm Thân, như năm nay 2016 là năm Bính Thân,  tháng Thân là tháng 7 Âm lịch, ngày Thân là ngày được xếp sau ngày Mùi và trước ngày Dậu, giờ Thân là từ 3 đến 5 giờ chiều.

            Giòng họ của khỉ thì rất nhiều, nói theo tập quán dân gian, ta có : Khỉ, Vượn, Đười Ươi, Lọ Nồi, Dã Nhân ... Gọi theo chữ Nho thì là Hầu Tử 猴子, Hồ Tôn 猢猻, Sơn Viên 山猿, Tinh Tinh 猩猩 ...

            HẦU 猴 là chữ Hài Thanh 諧聲 ( còn gọi là Hình Thanh 形聲 ), được ghép bởi bộ Khuyển 犭(犬) là loài Chó bên trái chỉ Ý ( chỉ loài vật có 4 chân ) và chữ Hầu 侯 là Hầu Tước bên phải chỉ Âm, theo diễn tiến như sau :

     

 

目前所在的位置:猴的甲骨文、金文、小篆在线转换

甲骨文

金文

金文大篆

小篆

繁体隶书

   

             

 Giáp Cốt Văn  Kim văn               Đại Triện         Tiểu Triện          Chữ Lệ         

          Chữ HẦU trong phần Đại Triện, bên trái là hình con thú có 4 chân có đuôi, bên phải là hình người đứng đang giương cung, mũi tên nhắm về phía trước có một vạch ngang là cái bia để tên bắn vào.

          Trong thời Xuân Thu ( 770 - 476 TCN ), người ta không gọi khỉ, mà có tên chính thức trang nghiêm dành cho loài vật có chức vị Hầu Tước 侯爵 này : ( Hóu ) HẦU 侯 là Tước  Hầu,  đứng sau tước Công và đứng trên tước Bá, đồng âm với Hầu là Khỉ. Từ đó về sau, khỉ chính là tượng trưng cho sự tốt lành, hanh thông, may mắn. Hình ảnh của khỉ thường được điêu khắc hoặc dán trên các bức tường và cửa ra vào với mục đích kêu gọi phước lành, quan lộc và niềm vui.

                    DCD_namkhi_2.jpg

 

          Trong văn học cổ, nhắc đến khỉ là người ta nghĩ ngay đến câu : " Sát kê cảnh hầu 殺雞儆猴 " hoặc " Sát kê giáo hầu 殺雞教猴 " cũng thế . Có nghĩa : Giết gà để cảnh cáo khỉ hay giết gà để dạy khỉ, theo truyện kể sau đây :

          Trong một gánh xiệc Sơn Đông bán thuốc, người bầu gánh có nuôi 3 con khỉ và đều dạy cho chúng biết làm trò xiếc như : Đi bằng 2 chân, mặc quần áo, đi dây, nhào lộn ... Nhưng một hôm, 3 chú khỉ đều đồng lòng " đình công " không thèm làm trò xiếc nữa, mặc cho người bầu xiếc gỏ kẻng, thúc phèng la như thế nào, 3 con khỉ vẫn trơ trơ. Hết cách, chẳng lẻ bó tay, người bầu xiếc bèn nghĩ ra một cách, ông ta đem một con gà trống đến giữa sân, rồi gỏ kẻng, gỏ phèng la lên, dĩ nhiên là con gà trống vẫn trơ trơ. Ông ta bèn hươu đao chém bay đầu con gà máu tuôn xối xả . Đoạn, ông cho dắt 3 con khỉ ra sân, tay vẫn còn lăm lăm cây đao, ông ra lệnh cho gỏ kẻng, gỏ phèng la lên, 3 con khỉ sợ bị chém như gà, bèn ngoan ngoản diễn đủ trò theo yêu cầu cuả ông bầu xiếc.

           Vì tích trên mà ta có câu Thành ngữ " Sát Kê Cảnh Hầu " tương đương trong tiếng Nôm ta là : " Giết gà dọa khỉ, Giết gà dạy khỉ hay Giết gà răn khỉ " gì cũng thế. Ý nghĩa của câu thành ngữ nầy cũng tương đương như câu : " Giết một răn mười ", phạt một người để làm gương răn đe cho trăm ngàn người khác !

DCD_namkhi_3.jpg 

Cũng như con ngựa, con khỉ cũng đồng hành với con người từ ngàn xưa đến nay, nên ta cũng có một thành ngữ liên quan đến 2 con vật nầy, đó là câu " Tâm Viên Ý Mã 心猿意馬 ", để chỉ TÂM và Ý không đồng bộ, không ăn khớp với nhau, vừa muốn làm việc nầy, vừa muốn làm việc nọ, tâm ý hoang mang không quyết định được. Thành ngữ nầy có xuất xứ từ đời Hán, Ngụy Bá Dương trong Tham Đồng Khế có phần chú như sau : " Tâm viên bất định, Ý mã tứ trì ". Có nghĩa : Lòng thì không ổn định như lòng con vượn, còn ý thì như con ngựa muốn chạy bốn phương ".  漢·魏伯陽《參同契》注:"心猿不定,意馬四馳。" Thơ của Hứa Hồn đời Đường, trong bài Đề Đỗ Cư Sĩ Thi có câu : " Cơ tận Tâm Viên phục, Thần nhàn Ý Mã hành " 唐·許渾《題杜居士》詩:"機盡心猿伏,神閑意馬行。" Có nghĩa : " Thời cơ đã hết nên lòng cũng lắng xuống như tâm con vượn, Tinh thần nhàn nhã thì ý cũng phóng túng như ngựa chạy vậy ".

           Nhưng, theo kinh văn Duy Ma Cật, thì Phật Giáo cho là lòng của chúng sinh không có ổn định, như lòng của con vượn và ý của con ngựa vậy, luôn luôn động đậy và hướng ngoại, khó mà an trụ cho được ! Nên, phải khắc chế được cỏi lòng cho đừng có " Tâm Viên Ý Mã " thì tâm mới định mà tu hành mới có kết qủa và mới đắc đạo được.

DCD_namkhi_4.jpg 


                         Để thay đổỉ không khí, và để cho Đông Tây được đề huề, Xin được giới thiệu thành ngữ " Lấy Dẽ Trong Lò ". Thành ngữ này dùng để chỉ bị người lợi dụng, làm những việc mạo hiễm để cho người khác được hưởng lợi, ngồi mát ăn bát vàng.

          Thành ngữ nầy lấy từ thơ Ngụ Ngôn cuả đại thi hào Pháp cuả thế kỷ 17 là Jean de La Fontaine (1621-1695). La Fontaine được các nhà văn thời Tiền Chiến của ta nhại âm dịch tên là Lã Phụng Tiên, giống như tên của Lã Bố thời Tam Quốc vậy. Bài thơ Ngụ Ngôn có tựa là KHỈ và MÈO. Nội dung tả lại việc Khỉ dụ Mèo khều lấy hạt dẽ đang được nướng ở trong lò. Khỉ ăn hạt dẽ còn Mèo thì bị cháy cả lông chân. Bài thơ Ngụ Ngôn nầy được diễn nôm như sau :

            KHỈ và MÈO

Khỉ và Mèo cùng chung một chủ 
Chung một nhà, thức ngủ có đôi 
Phá hại thì nhất hạng rồi 
Lại không kiêng nể một ai bao giờ 
Đã biết vậy, đừng ngờ xóm ngõ 
Nếu trong nhà đổ vỡ vật chi 
Khỉ thì trộm cắp quá đi 
Mèo thì chuột bọ để gì ý đâu 
Nhưng phó mát cất đâu cũng biết 
Ăn vụng thì hạng nhất trần gian 
Một hôm hai đứa lưu manh 
Trông thấy hạt dẻ nướng quanh bếp lò 
Cùng rỏ dãi, nhỏ to bàn mãi 
Một việc thôi, mà lợi hai đường 
Trước là thích khẩu no lòng 
Sau thì để khổ cho ông hỏa đầu 
Khỉ cất tiếng yêu cầu chú Mão: 
"Việc làm này ông bạn mới xong 
Nếu tôi mà được như ông 
Bẩm sinh bạo lửa thì không phải nhờ 
Hạt dẻ nướng đương chờ ta đó 
Bạn lấy ra chẳng khó khăn gì!" 
Mèo nghe hành động tức thì 
Gạt tro cẩn thận ra rìa bếp than 
Hai chân nó mấy phen thò thụt 
Rốt cuộc rồi lấy được hạt đầu 
Rồi hai ba hạt tiếp sau 
Khỉ trong lúc đó cúi đầu bóc ăn 
Bỗng con sen ngoài sân đi tới 
Khỉ và Mèo cùng vội lẩn chuồn 
Riêng Mèo vừa tức vừa buồn 

Có nhiều hầu bá giống trường hợp trên 
Nghe phỉnh nịnh, lửa tên liều mạng 
Chiếm đất đai dâng hiến cho vua 
Sánh Mèo cái dại chẳng thua !
                   Bản dịch của Đô Khắc Siêm, Hà Khắc Nguy 

Trở lại Ấn Độ  với thần khỉ  Hanuman là một nhân vật trong thần thoại Hindu được kể lại trong sử thi Ramayana.    Trong sử thi, Hanuman đã giúp đỡ cho người anh hùng Rama trong cuộc chiến chống lại vua quỷ Ravana. Thần khỉ Hanuman là nhân vật trung tâm trong hai bộ sử thi vĩ đại và lừng danh của Ấn Độ là Ramayana và Mahabharata. Các đền thờ khắp nước Ấn Độ đều có hình ảnh Hanuman, vị thần khỉ nổi tiếng với vũ khí là quả chùy ( gada ), biểu tượng của lòng dũng cảm. Thần rất sùng bái người bạn của mình là Rama ( vị Vua anh hùng được kể trong sử thi Ramayana ), và cũng được Rama thương yêu nhất, nên có khi người ta vẽ Hanuman với hình Rama xăm trên ngực. Rama được coi là hóa thân của Vishnu, là Đấng bảo tồn trong quan niệm Trimurti của Ấn giáo. Trong cuộc chiến đấu giữa vua Rama anh hùng và quỷ Ravana, thì Hanuman là người giúp đỡ vua đắc lực nhất, trung thành với vua nhất.    

DCD_namkhi_5.jpg       

                Sang qua châu Mỹ với chú King Kong khổng lồ nhưng lại si tình vào bậc nhất cổ kim với câu nói bất hủ của phương Đông là : " Anh hùng nan qúa mỹ nhân quan !", đằng nầy quái thú cũng không thể thoát khỏỉ lưới tình !

        King Kong là tên một con ác thú khổng lồ (giống loài khỉ đột) được hư cấu trong nhiều loại tác phẩm, đặc biệt là điện ảnh. King Kong nổi tiếng khắp thế giới từ bộ phim cùng tên năm 1933, và tiếp tục được làm lại vào 1976 và 2005.

        King Kong sinh sống trên Đảo Đầu Lâu (Skull Island), ở đâu đó trên Ấn Độ Dương và được cư dân nơi đây thờ cúng như một quái vật ăn thịt linh thiêng. Một đoàn làm phim từ New York lặn lội đường xa đến đây vì nghe nói có nhiều sinh vật huyền bí trên đảo này, do đó sẽ có cơ hội tạo những cảnh quay ngoạn mục.

        Cô diễn viên Ann Darrow xinh đẹp bị bắt cóc và đem ra tế Kong. Con khỉ đột chẳng những không ăn thịt Ann mà còn thích thú và yêu mến nàng. Mọi người trên tàu đi giải cứu Ann, trong đó hăng hái nhất là nhà viết kịch bản Jack Discroll, người yêu của cô. Đoàn người mắc kẹt trong rừng sâu và phải đối mặt với bao sinh vật nguy hiểm, như côn trùng khổng lồ, rắn rết, khủng long... Rồi lại bị Kong tấn công, bao nhiêu người bỏ mạng. Những kẻ sống sót vội vàng bỏ cuộc, trở về New York. Jack vẫn quyết tâm tìm Ann. Khi cứu được thì con khỉ đuổi theo. Đạo diễn Carl Denham nhân cơ hội đó bẫy nó đem về New York. Ông ta gọi nó "Kong- vị vua (King) của thế giới".

         King Kong được đem ra trình diễn cho khán giả có máu mặt ở Manhattan ( Mã Nhật Tân, một khu phố lớn nổi tiếng ở New York ) như là một "Kỳ quan thứ tám của thế giới". Ann lại không đến dự vì phản đối hành động tàn ác đó. Kong phá tan nhà hát trình diễn, thoát ra tìm Ann. Nó đại náo toàn bộ khu đô thị lộng lẫy xa hoa, khiến xe cộ, nhà cửa đổ bể tan hoang. Ann xuất hiện kịp thời, Kong lại bị mê hoặc bởi sắc đẹp của nàng, giống như trong truyện Giai nhân và Quái thú (Beauty and the Beast). Nhưng quân đội ập đến, Kong bế Ann bỏ chạy lên tòa nhà Empire State cao nhất thời đó (trong phim năm 1976 là tòa WTC). Các phi cơ chiến đấu liên tục bắn nó, mặc cho Ann gào khóc ngăn cản. Cuối cùng Kong gục ngã và rớt xuống đất, chết một cách đau đớn. Carl Denham lặng lẽ thốt lên "Con Quái thú không chết vì bị bắn, mà chết vì Giai nhân".

DCD_namkhi_6.jpg 

 
                   Trở về với con khỉ đá đòi lớn ngang bằng trời là " Tề Thiên Đại Thánh ". Được nứt ra từ một tảng đá thụ khí âm dương cuả trời đất ở Đông Thắng Thần Châu. Con thạch hầu nầy được đồng loại tôn xưng là Mỹ Hầu Vương 美猴王. Vì không muốn luân hồi sinh tử như muôn loài, nên Mỹ Hầu Vương ra đi tìm học phép trường sinh. Bái Bồ Đề Tổ Sư làm sư phụ, được đặt tên là Tôn Ngộ Không 孫悟空. Tôn là Hồ Tôn 猢猻, cách gọi riêng về loài khỉ. Ở đây Tôn Ngộ Không học được 72 phép biến hóa gọi là Thất thập nhị Huyền công và có thể bay lộn trên mây ( Cân đẩu vân ), lộn một vòng bay được 10 vạn 8 ngàn ( 108.000 ) dặm ( khoảng 54000 kilometers ) và có một cây gậy "Như ý Kim Cô bổng" ( là Định Hải Thần Châm dưới Đông Hải ) có thể thay đổi kích thước, được đặt sau tai, dùng làm vũ khí để đánh yêu quái. Ở Hoa Qủa Sơn Tôn Ngộ Không tập hợp các động yêu ma làm mưa là gió. Náo Long cung, phá Âm Tào, đại náo Thiên Cung, Ngọc Hoàng phong cho chức Bật Mã Ôn 弼馬溫 là quan giữ ngựa. ( Từ chức vụ nầy ta thấy trong thực tế Ngựa rất sợ Khỉ ). Biết được chức vụ giữ ngựa là chức quan nhỏ nhoi, lại đại náo thiên đình đòi phong làm : Tề Thiên Đại Thánh 齊天大聖, nhưng vẫn chưa chịu yên thân, rảnh rang lại đại náo  Đại hội Bàn Đào, và bị Phật Tổ đè xuống Ngũ Hành Sơn 500 năm. Được Đường Tam Tạng cứu ra để cùng đi Tây Phương thỉnh kinh với tên gọi Tôn Hành Gỉa 孫行者, bị khống chế bởỉ vòng Kim Cô 金箍 của Phật Tổ Như Lai do Quan Thế Âm Bồ Tác trao, kịp đến khi thành chánh qủa là Đấu Chiến Thắng Phật 鬪戰勝佛 thì vòng Kim Cô mới tự nhiên biến mất. 

DCD_namkhi_7.jpg 

               Hình Lục Tiểu Linh Đồng, người vào vai Tề Thiên Đại Thánh ấn tượng nhất, đẹp nhất trong bộ phim Tây Du Ký của đạo diễn Dương Khiết, do Trung Quốc sản xuất năm 1982.

         Một số học giả cho rằng nhân vật Tôn Ngộ Không được phỏng theo Hanuman, " thần khỉ " trong Ấn Độ giáo được thuật lại trong một quyển kinh sách do Trần Huyền Trang từ Tây Phương thỉnh về.

        Các nhà khảo cổ Trung Quốc gần đây lại phát hiện ra một nguồn gốc khác của Tôn Ngộ Không từ những bức bích họa có niên đại hơn 1.000 năm. Những bức vẽ này được tìm thấy trong Động Thiên Phật, cách huyện Tây An, tỉnh Cam Túc khoảng 90 km. Các bức hình có cảnh một vị hòa thượng và " Hầu hình nhân 猴形人 " ( khỉ hình người ) đang trang nghiêm chắp tay hành lễ, hướng mặt về phía Phật Bà Quan Âm trên đài Kim Cương bảo thạch. Bốn bức hình khác khắc họa chi tiết thầy trò Đường Tam Tạng đi thỉnh kinh, tương tự như câu chuyện trong " Tây Du Ký " của Ngô Thừa Ân sau này vậy. 

DCD_2016cards.jpg 

Nhớ hồi xưa, khi tạo mẫu thêu cho má tôi thêu mặt gối hình 12 con giáp. Tới năm THÂN, tôi đã phải mượn hình tượng cuả Tề Thiên Đại Thánh được vẽ theo kiểu hoạt họa ở trên và thêm vào 4 chữ  THÔNG MINH DĨNH NHỘ 聰明穎悟 cho các em bé tuổi THÂN nằm, để cho các em không cảm thấy " Tủi Thân " như dân gian đã hát :

                     Người ta tuổi Ngọ tuổi Mùi,

               Còn tôi riêng chịu một đời " tủi thân " !

 Viết đến đây, lại nhớ đế lần họp mặt của Vườn Thơ Thẩn trong năm qua, anh Huỳnh Hữu Đức đã làm một đôi câu đối để tặng cho chị Phương Hà là người tuổi Thân như sau :

                   Năm Mão là năm mèo. Mèo đội mão

                  Tuổi Thân là tuổi khỉ. Khỉ " tủi thân ".

                  Tội nghiệp, làm chị Phương Hà buồn 5 phút !

 Trở lại với cây nhà lá vườn, khỉ có mặt ở khắp nơi trên đất nước Việt Nam, chả thế mà nông thôn Việt Nam nơi nào cũng có " Cầu Khỉ ", và cây cầu khỉ đã trở thành " top ten " trong 10 cây cầu đáng sợ nhất thế giới ...

DCD_namkhi_caukhi_1.jpg 

 

                  Tên gọi cầu khỉ không phải vì cầu dành riêng cho khỉ, mà là tư thế lom khom của người khi qua cầu trông giống như con khỉ. Những cây cầu nổi tiếng ở các miền quê Việt Nam này làm bằng tre và dây dừa, bắt qua những con sông, rạch, dòng kênh nhỏ. Cầu rất hẹp và lắc lư mỗi khi có người đi qua.

DCD_namkhi_caukhi_2.jpg 

 Các vùng quê hẽo lánh it người qua lại hoặc các vùng rừng đước rừng tràm ... được gọi là các vùng " Khỉ ho Cò gáy ". Hù dọa ai một cách vô ích thì gọi là " Rung cây nhát Khỉ ", làm những chuyện vô bổ không cần thiết thì nói là " Dạy Khỉ leo cây ", gặp chuyện gì cũng nhăn nhó thì mắng nhau " Cái tù mặt mầy như là Khỉ ăn ớt vậy ", hoặc nói nặng hơn " Thứ cái đồ mặt nhăn như Khỉ ". Gặp đứa phản trắc, ăn cơm tui mà hại tao, thì bảo là " Nuôi ong tay áo, nuôi khỉ dòm nhà ". Ghét ai thì mắng " Thứ đồ Khỉ gió !". Muốn phủ định việc gì thì nói là : " Khỉ khô, khỉ mốc, khỉ dọc "!... Con khỉ xấu vậy sao ? Nhưng lúc thấy vui thì cũng sẵn sàng " làm trò Khỉ ", con nít rắng mắt thì gọi là " Liếng Khỉ ", tuổi con khỉ thì dân gian có câu hát rằng :

 

                      Tuổi Thân con khỉ ở lùm,

                Trèo qua trèo lại té ùm xuống sông !

 

         Thương cảm và thân thiết hơn với hình tượng :

 

                    Con khỉ bồng con lên non hái trái,

                Anh cảm thương nàng phận gái mồ côi !

 

        Viết đến đây, làm ta nhớ lại một chuyện tình giữa khỉ vượn và người rất nôỉ tiếng trong văn học dân gian Việt Nam,  đó là truyện LÂM TUYỀN KỲ NGỘ mà giới bình dân gọi là " BẠCH VIÊN TÔN CÁC " với câu hát :

                        Bạch Viên Tôn Các xa trông,

                 Bồng con ôm gói thẳng xông lên đàng. 

        " Lâm tuyền kỳ ngộ " 林泉奇遇 là " Cuộc gặp gỡ kỳ lạ giữa suối rừng ", là một truyện dài bằng thơ, gồm 146 bài thơ thất ngôn bát cú Đường luật, một bài thơ tứ tuyệt và một bài " Thạch tuyền ca khúc " theo thể Hát Nói ( hai bài này đều ở cuối tác phẩm ). Hoàng Xuân Hãn trong " Thi văn Việt Nam " cho rằng tác phẩm này gồm 150 bài thơ Đường luật.

        Tác phẩm này hiện vẫn chưa ai tìm ra được tên tác giả, có một số giả định là tác phẩm được viết vào khoảng đầu thế kỷ XVII. Còn có nơi cho rằng tác giả là hoàng giáp Nguyễn Ðăng, một nho sĩ tài hoa ở Ðại Toán, Bắc Ninh khoảng thời Trịnh Tạc (1657-1682), từng được cử đi sứ nhà Minh năm 1673.

        Nội dung tác phẩm dựa vào " Viên thị truyện " 猿氏傳 của Cố Quýnh đời Đường, Trung Quốc, gắn liền với chùa Phi Lai. Truyện miêu tả cuộc tình duyên giữa một nho sinh và một con vượn trắng đã hoá thành người ( con vượn vốn là tiên giáng trần ). Tính chất lãng mạn, tinh thần nhân đạo chủ nghĩa, chống những hạn chế của tôn giáo, mạnh dạn biểu lộ những yêu cầu hạnh phúc của con người, của tình yêu nam nữ, đã làm nên giá trị chủ yếu của tác phẩm.

DCD_bannom_BVTonca.jpg 

                   Bản Nôm của QH Huế      Vở Cải Lương BVTC

 Ngoài việc viết lại bằng thơ Lục Bát để dân gian nói thơ theo kiểu thơ Vân Tiên, Bạch Viên Tôn Các còn được sọạn thành tuồng Cải Lương với các vai diễn nổi tiếng như nghệ sĩ Thanh Sang vai Tôn Các và kiều nữ Thanh Nga vai Bạch Viên rất ăn khách trong thập niên 70 của Thế kỷ trước.

 

         Nhân nhắc đến vượn, ta lại nhớ đến một thành ngữ có liên quan là VIÊN TRƯỜNG THỐN ĐOẠN 猿腸寸斷 ( Ruột của con vượn đứt ra từng tấc một ), Ta nói là " Ruột thắt từng cơn " hay " Đứt từng khúc ruột " theo tích sau đây :

         Sách Sưu Thần Ký đời Tấn, Quyển 22 ghi : Xứ Đông Hưng đất Lỗ, thuộc Quận Lâm Xuyên, có ngưới vào núi bắt được một vượn con mang về. Vượn mẹ chạy theo đến nhà. Người nầy trói vượn con trên cây trong sân. Vượn mẹ trông thấy, quỳ xuống van xin, giơ tay tự tát vào má mình. Người đó chẳng những không tha còn giết chết vượn con. Vượn mẹ trông thấy, kêu khóc thảm thương, rồi lộn đầu xuống đất mà chết. Người đó bèn mỗ bụng vượn mẹ ra, thì thấy ruột đã bị đứt từng khúc một. Nên, thành ngữ nầy dùng để chỉ sự nhớ thương bi thiết, hoặc qúa mức đau lòng mà " Đứt từng đoạn ruột "! Thơ Lý Bạch trong bài " Tặng Võ Thập Thất Ngạc " có câu :

 

                Ái tử cách Đông Lỗ,               爱子隔东鲁,

                Không bi đoạn trường viên.    空悲断肠猿 .

Có nghĩa :

              Thương con như bị chia cắt ở đất Đông Lỗ,

              Buồn thương đứt ruột như con vượn kia cũng hoài công thôi !

         Quả là một thành ngữ đánh động lòng người, và là một câu chuyện luân lý đề cao tình mẹ thương con muôn vàn bi thiết. Vượn còn thế, huống hồ là người ? Ai là con mà lại nở bỏ mẹ, nở quên mất tình thương bao la cuả mẹ bao giờ ?! Cô gái quê cuả vùng sông nước Nam Bộ ngày xưa cũng đã mượn hình tượng cuả con vượn để nhắn nhủ với mẹ rằng :

                   Má ơi, đừng gả con xa,

                Chim kêu vượn hú biết nhà má đâu ?!

 Trong số Đề 36 con, thì Khỉ đứng đầu trong nhóm Ngũ Khất Thực  ( 5 người ăn mày ), mang số 23 và có tên chữ là Tam Hòe với lời vè như sau :

                       Tam Hòe con khỉ hăm ba, 

                Thua hoài đến nổi bán nhà không hay !


         Sau khi Tổng Thống Ngô Đình Diệm quyết định xóa số 2 sòng bạc lớn nhất Sài Gòn Chợ Lớn là Kim Chung và Đại Thế Giới, thì đề 36 không còn nữa . Nhưng nhóm quân đội người Nùng giúp Tổng Thống dẹp loạn Bình Xuyên vẫn còn xổ đề ở vùng Cây Da Xà Phú Lâm Chợ Lớn, và họ đã thêm vào 4 con nữa cho đủ 40. Bốn con thêm vào là 37 Thiên Công ( Ông Trời ), 38 Địa Chủ  ( Đất Đai ), 39 Thần Tài và 40 là Táo Quân ( Ông Táo ). Nên khi áp dụng vào Xổ Số Kiến Thiết thì ta có tới 2 con khỉ lận : Con khỉ nhỏ là 23, còn con khỉ lớn là 63 ( cộng thêm 40 nữa )! Thế là các tay ghiền đánh số đề từ 00 đến 99 mỗi ngày ít nhất phải thua thêm một con số đề nữa !

          Nạn đánh đề càng trầm trọng khi xã hội càng phân biệt giàu nghèo. Dân càng nghèo càng phải chạy theo cuộc sống và càng mê số đề hơn, và càng thua nhiều hơn nữa, rồi càng phát sinh nhiều tệ nạn xã hội hơn và cuối cùng là xã hội càng băng hoại hơn !... Rồi đến một ngày nào đó thì ...

                 Thọ đão hồ tôn tán !    樹倒猢猻散 !

Có nghĩa :

                Cây đã ngã rồi thì lũ khỉ cũng sẽ tan hàng !

DCD_namkhi_caynga.jpg 

 Theo tích sau đây :

           Trong sách Thuyết Phù được biên soạn bởi Đào Tông Nghi, trong đó có một câu truyện như sau :

            Vào thời Nam Tống , có người tên là Tào Vịnh, vì có quan hệ mật thiết với Thừa Tướng lúc bấy giờ là Tần Cối nên  được phong làm quan lớn. Mọi người đều a dua theo ông ta để được phong quan, duy chỉ có em vợ cuả ông ta là Lệ Đức Tân, người rất chính nghĩa, không thích a dua, thà chịu giữ chức thư lại nhỏ nhoi ở địa phương chứ không về hùa với ông anh rễ. Tào Vịnh rất giận, ra lệnh cho quan huyện địa phương gây áp lực và làm khó ông em vợ cứng đầu nầy, nhưng Lệ Đức Tân vẫn không khuất phục.

            Sau khi Tần Cối chết, những người theo hùa với ông ta đều bị rơi đài. Tào Vịnh cũng bị biếm đến đất Tân Châu của vùng Quảng Đông. Lúc nầy, Lệ Đức Tân mới làm một bài phú có tựa là " Thọ Đão Hồ Tôn Tán Phú 樹倒猢猻散賦 ". Nội dung châm biếm những người a dua với Tần Cối như là lũ khỉ, dựa hơi Thừa Tướng để tác oai tác phúc. Nay cây đã ngã rồi thì lũ khỉ nhóc cũng phải tan hàng mà thôi. Tào Vịnh đọc bài phú tức đến ói máu, nhưng cũng không làm gì được cái ông em vợ chính trực kia !!! 

             Trông người lại ngẫm đến ta ...                    

             Không biết chừng nào cái cây lớn Trung Quốc mới ngã, để cho lũ hồ tôn tan hàng thất tán, hết tác oai tác phúc làm giàu trên xương máu của dân nghèo. Mong rằng câu cuối của bài sấm Trạng Trình được linh nghiệm để cho ...

 

                 ... Thân Dậu niên lai kiến thái bình !

                                                   Mong lắm thay !!!

 

                                                            Đỗ Chiêu Đức

DCD_namkhi_caynga_2.jpg 

                   

                        Vịnh Bính Thân 2016

                   Đứng hàng thứ chín thuộc chi Thân,

                   Đại Thánh Tề Thiên giáng xuống trần.

                   Ấn Độ khỉ thần phò thánh đế,

                   Hoa Kỳ vượn chúa lụy giai nhân.

                   Tâm viên ý mã khôn an trụ,

                   Ruột đứt lòng sầu khó giải phân.

                   Cây ngã hồ tôn đi tứ tán,

                   Thái bình vui hưởng lấy chi cân !

 

                                                      Đỗ Chiêu Đức    


TỐNG TÁO THI - LỖ TẤN

 

DCD_LoTan.jpg

魯迅(1881.9.25~1936.10.19),浙江紹興人,原名周樹人,字豫山、豫亭,後改名為豫才。他時常穿一件樸素的中式長衫,頭發像刷子一樣直豎著,濃密的胡須形成了一個隸書的"一"字。他是偉大的文學家、思想家,是中國文化的主將。

 

          LỖ TẤN ( 25-9-1881--19-10-1936 ), người huyện Thiệu Hưng, Tỉnh Chiết Giang. Vốn tên là Châu Thọ Nhân, tự là Dự Sơn, Dự Đình, Sau đổi thành Dự Tài. Ông thường mặc một chiếc áo dài giản dị theo truyền thống Trung Hoa. Đầu để trần tóc dựng đứng như bàn chải, râu mép đậm như hình chữ NHẤT viết theo theo kiểu Lệ Thư. Ông là nhà Văn học, nhà Tư Tưởng vĩ đại và là chủ tướng của nền văn hóa Trung Hoa cận đại.

 

          Sau đây là bài Tống Táo Thi ông làm năm Canh Tí 1901 lúc gia cảnh đang sa sút phải cầm cố đồ đạc để sống qua ngày.

  

      庚子送灶即事        CANH TÝ TỐNG TÁO TỨC SỰ

           1901年                         năm 1901

        只雞膠牙糖,          Chỉ kê giao nha đường,

        典衣供瓣香。          Điển y cung biện hương.

        家中無長物,          Gia trung vô trưởng vật,

        豈獨少黃羊。          Khởi độc thiểu hoàng dương.

                     魯迅                                        Lỗ Tấn

CHÚ THÍCH :

    * GIAO 膠 là chất Keo, chất Nhựa. nên...

       Giao Nha Đường là Kẹo Mạch Nha.

    * ĐIỂN 典 là Cầm Cố. Điển Y là Cầm cái Áo.

    * TRƯỞNG VẬT 長物 : Đồ vật có giá trị, Đồ Quý giá !

    * HOÀNG DƯƠNG 黃羊 : là con Dê màu Vàng. Theo sách " Hậu Hán Thư " quyển 62 có " Âm Thức Truyện《後漢書》卷62《陰識傳》kể rằng : Đời Tuyên Đế, có người tên Âm Tử Phương, rất có hiếu lại có lòng nhân từ. Tháng Chạp hăm ba, nhà chỉ có một con dê màu vàng cũng làm thịt để cúng Táo. Từ đó về sau bỗng phát tích thành cự phú. Vì thế sau này đến ngày tế Táo, mọi người đều làm dê vàng để cúng theo, lâu dần thành lệ.

 

NGHĨA BÀI THƠ :

                 BÀI THƠ LÀM LÚC CÚNG ÔNG TÁO NĂM

                               CANH TÝ 1901

        Chỉ vỏn vẹn có một con gà và chút đỉnh kẹo mạch nha, đó là do vừa đi cầm cái áo mà mua nhang về để cúng đó. Nhà đã không còn vật gì đáng giá nữa, chẳng phải chỉ thiếu có con dê vàng thôi không đâu ! ( Ý muốn nói là còn thiếu nhiều món để cúng nữa ! )

         Chắc vì không có được dê vàng để cúng, nên Lỗ Tấn chịu nghèo suốt cuộc đời mình !

DCD_LoTan2.jpg

 DIỄN NÔM :

                  TIỄN TÁO NĂM CANH TÝ 1901

 

                       Mạch nha kẹo với gà,

                       Cầm áo cúng hoa loa.

                       Nhà không còn gì quý,

                       Lấy đâu chú dê già !?

     Lục bát :

                       Con gà với kẹo mạch nha,

                 Nén nhang cầm áo hoa loa cúng Ngài,

                       Hết đồ quý giá trong ngoài,

                 Dê vàng đừng nhắc thêm hoài công thôi !

 

                                                            Đỗ Chiêu Đức              

TỐNG TÁO THI

DCD_LOtan3.jpg 

                         

                               Hằng năm cứ đến ngày 23 tháng Chạp, thì dân Việt Nam ta có tục lệ cúng tiễn đưa Ông Táo về trời, người Hoa thì cúng vào đêm 24. Theo câu nói của dân gian là " Quan tam, dân tứ, thuyền gia ngũ ", có nghĩa là : Làm quan thì đưa ông Táo ngày 23, dân thì đưa ngày 24, còn những người đi ghe theo cuộc sống thương hồ thì đưa ông Táo ngày 25.


         Bỏ qua về xuất xứ của tục lệ nầy, chỉ xét về phần cúng tế. Người Việt và người Hoa ở Việt Nam thường cúng tiễn Táo Quân bằng " thèo lèo ", bánh mức, chè Ỷ... hương hoa trà nước... và giấy tiền vàng bạc kèm theo các hình cò bay ngựa chạy. Ý là để cho ông Táo cởi ngựa cởi cò về trời ( trong văn học thì cho là cởi cá Chép ), còn " thèo lèo " bánh mức... là để ăn cho ngọt miệng đặng báo cáo cho ngọt cho tốt với Ngọc Hoàng Thượng Đế về tình trạng gia đình nơi mà ông Táo đang cư ngụ....    

DCD_Totan4.jpg
       
Nhớ lúc nhỏ, khi gần Tết , tôi đã đọc được một bài thơ " Tống Táo Thi " 送 竈 詩  trên báo để tiễn đưa ông Táo như sau :

 

     送 竈 詩                      TỐNG TÁO THI      
  麥芽糖餅餞行蹤, Mạch nha đường bỉnh tiễn hành tung,
  拜祝佯癡且作聾。 Bái chúc dương si thả tác lung.
  只有一般應開口, Chỉ hữu nhất ban ưng khai khẩu,
  煩君報我一年窮。 Phiền quân báo ngã nhất niên cùng !

 

 CHÚ THÍCH :
    1. Đường Bỉnh : là Kẹo bánh. Đường là Đường, mà cũng có

        nghĩa là Kẹo nữa.
    2. Dương : là Giả đò.Tác : là Làm, ở đây có nghĩa là Làm bộ.
    3. Si : là Ngây, là Dại.  Lung : là Điếc.
    4. Nhất ban : là Mạo từ ( Article )chỉ : Một Điều, Một Cái.
    5. Nhất niên : là Cả năm, suốt năm, chớ không phải MỘT

        NĂM.

 

 DỊCH NGHĨA :
       Mạch nha, Kẹo, bánh... đưa tiễn bước chân ông đi. Khi bái kiến và chúc tụng Thượng Đế xin ông giả ngây giả điếc dùm cho ( đừng nói lung tung những chuyện không tốt của tôi ). Chỉ có một điều ông nên mở miệng nói là.... Cảm phiền ông báo với Ngọc Hoàng là sao tôi lại nghèo suốt cả năm vậy  ?!


 DIỄN NÔM :

                 THƠ TIỄN ÔNG TÁO
          Mạch nha kẹo bánh tiễn chân ông,
          Lên đó giả ngây giả điếc dùm.
          Chỉ có một điều nên mở miệng,
          Rằng ta nghèo suốt một năm ròng !
                                                    Đỗ Chiêu Đức.


 TÁI BÚT :

dcd_Lotan5.jpg 

                   
     Xin được nói thêm về 2 chữ THÈO LÈO.
     THÈO LÈO là phát theo âm Triều Châu của 2 chữ TRÀ LIỆU 茶料 : là Những Vật Liệu dùng để Uống Trà. VẬT LIỆU ở đây là chỉ những món đồ ngọt như : Kẹo Đậu Phọng, Kẹo mè đen, mè trắng, cốm, và những viên đậu phọng được áo một lớp đường màu trắng mà ta quen gọi là " Cứt Chuột ".
    " Thèo Lèo Cứt Chuột  " là món ngon dùng để uống trà và là món không thể thiếu khi cúng ông Táo ở quê tôi : Cái Răng, Ba Láng, Vàm Xán, Phong Điền...


        Nhân nói đến thơ đưa Ông Táo, ta không thể không nhắc đến bài " Tống Táo Thi " của Lữ Mông Chính, người mà trong " Hàn Nho Phong Vị Phú " Nguyễn Công Trứ đã viết như thế nầy :   

       .... Khó ai bằng Mãi Thần, Mông Chính, cũng có khi ngựa

             cởi dù che. ...

 

           Sau đây, ta thử tìm hiểu cuộc đời nghèo khó và bài thơ đưa ông Táo nổi tiếng của ông nhé !...


  呂蒙正(944或946-1011),字聖功,河南洛陽人,977年宋太宗丁丑科狀元。呂蒙正中狀元後,曾任將作監丞、通判、著作郎、左補闕、參知政事等官銜。988年,呂蒙正出任宰相,病逝於大中祥符四年(1011年),享年67歲 .
          LỮ MÔNG CHÍNH ( 944 & 946- 1011 ), Tự là Thánh Công, người đất Lạc Dương tỉnh Hà Nam, đậu Trạng Nguyên năm Đinh Sửu đời Tống Thế Tôn năm 977. Sau khi đỗ Trạng, Lữ Mông Chính đã từng giữ các chức vụ Giám Thừa, Thông Phán, Trứ Tác Lang, Tả Bổ Khuyết, Tham Tri Chính Sự. Năm 988, Lữ nhậm chức Tể Tướng. Bệnh mất năm Đại Trung Tường Phù thứ 4 ( 1011 ), hưởng thọ 67 tuổi.

          

     Sau khi cha mất, gia cảnh ngày một suy vi . Lữ Mông Chính cùng mẹ phải tạm trú ngụ trong một lò gạch cũ, làm nghề ăn xin độ nhật.
          Một hôm, thấy trước cửa quan Tể Tướng đông nghịt những người, chen chút nhau rất náo nhiệt. Lữ cũng chen vào để xem, tình cờ một vật gì đó từ trên trời bay xuống rớt đúng vào lòng. Thì ra, thiên kim tiểu thơ của quan Tể Tướng là Lưu Nguyệt Nga đang gieo tú cầu để tìm người hôn phối. Vật bay vào lòng Lữ là trái tú cầu được Lưu tiểu thơ ném từ trên lầu xuống....

         Dĩ nhiên là ông bà Tể Tướng không chịu chấp nhận hôn sự nầy, nhưng tiểu thơ Nguyệt Nga thì lại kiên trì chấp nhận từ bỏ tất cả để đi theo Lữ về sống ở lò gạch bể, vì nàng cho đây là duyên trời định và hơn nữa không thể bội tín được.
         Cuối năm đó, đến ngày đưa ông Táo, không hiểu là Lữ Mông Chính đã năn nỉ như thế nào mà ông hàng thịt bán chịu cho một miếng thịt đem về luộc để cúng ông Táo. Nhưng khi bà hàng thịt biết được việc nầy bèn mắng cho ông chồng một trận nên thân : " Nó nghèo kiết xác, làm sao có tiền trả mà bán chịu ?!". Bà ta tức tốc chạy đến lò gạch, thấy miếng thịt đang luộc dở dang trên bếp, bèn hứ một tiếng rồi vớt lấy miếng thịt đem về !. Đến nước nầy, Lữ chỉ còn biết đổ nước luộc thịt vào tô mà đưa tiễn ông Táo về trời thôi.

         Trong khi thắp hương để cúng ông Táo, vì cảm khái trước cái nghèo khó của mình và cũng cảm khái trước cái nhân tình thế thái, Lữ Mông Chính đã làm bài thơ tiễn Ông Táo sau đây :

 

      一柱清香一縷煙,    Nhất trụ thanh hương nhất lũ yên,
      灶君今日上朝天;    Táo Quân kim nhật thướng triều thiên.
      玉皇若問人間事,    Ngọc Hoàng nhược vấn nhân gian sự,
      為道文章不值錢。    Vị đạo văn chương bất trị tiền ! 


 DỊCH NGHĨA :
        Một nén nhang thanh thanh tỏa ra một làn khói nhẹ, hôm nay ta đưa tiễn Táo Quân về để chầu Trời. Nếu như Ngọc Hoàng có hỏi đến chuyện của dân gian, thì xin ông hãy vì ta mà đáp rằng, văn chương không đáng giá đồng xu cắc bạc nào cả !

DIỄN NÔM :
                  Một nén nhang thanh làn khói nhẹ,
                  Chầu Trời tiễn Táo đến cửa thiên.
                  Ngọc Hoàng nếu hỏi nhơn gian sự,
                  Hãy đáp văn chương chẳng đáng tiền !
                                                         Đỗ Chiêu Đức. 


       Câu chót của bài thơ làm ta nhớ đến câu thơ lên Hầu Trời của Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu :
              " Văn chương hạ giới rẻ như bèo ! "....


       Trở lại chuyện của Lữ Mông Chính, theo truyền thuyết dân gian thì....
    ....Năm đó, sau khi Táo của các nhà đã báo cáo xong, mà đợi mãi vẫn không thấy Táo của lò gạch nơi Lữ cư ngụ. Mọi người đang nóng ruột, thì thấy Táo của Lữ Mông Chính mặt mà xanh lè, đi cà lếch cà lếch vào chầu. Ngọc Hoàng phán hỏi tại sao, thì được trả lời rằng : " Thần chỉ uống có một tô nước thịt luộc dở dang chưa chín, đã đói lại còn bị... chột bụng nên đi không nổi. ", đoạn trình bài thơ của Lữ lên cho Ngọc Hoàng xem. Ngọc Hoàng phán rằng, số của Lữ sẽ đậu Trạng Nguyên vào khoa sau, đừng lo lắng quá ! Thần Táo mới năn nỉ rằng : " Anh ta đói quá, sợ sống không nổi đến khoa sau đâu, thôi thì trước sau gì cũng đậu, xin Ngọc Hoàng thương tình.  Ngọc Hoàng bèn sai Nam Tào đem sổ sửa lại cho Lữ đậu ngay khoa nầy, vì thế mà Lữ Mông Chính mới đậu được Trạng Nguyên của khoa Đinh Sửu 977 là vậy !


  ... Trên đây là theo truyền Thuyết dân gian, chớ thực sự thì... Đằng sau sự thành công của người đàn ông, thường có bóng dáng của một người đàn bà, còn ở đây, đằng sau sự đậu đạt của Lữ Mông Chính, có tới  bóng dáng của 2 người đàn bà lận : một là Lưu tiểu thơ, 2 là bà Tể Tướng phu nhân, vì thương con gái mà lén chu cấp đầy đủ vật chất cho con và rể sinh sống, vì vậy Lữ mới yên tâm mà dùi mài kinh sử... chứ đói meo thì làm sao đủ sức mà học hành để đậu Trạng Nguyên cho được !


         Đây là ông Tể Tướng xuất thân từ khất cái ( Ăn mày )  duy nhất của lịch sử Trung Hoa : Lữ Mông Chính.


       Nói đến thơ đưa tiễn Ông Táo thì cũng không thể không nhắc tới...

        LA ẨN 羅隱(833-909 ),Tự là Chiêu Gián, người đất Tân Thành ( thuộc trấn Tân Đăng, thành phố Phú Dương, tỉnh Chiết Giang ngày nay ). Ông vốn tên là HOÀNH 橫, vì từ năm 20 tuổi bắt đầu đi thi Tiến Sĩ, nhưng 10 lần vẫn không đậu, nên mới đổi tên là LA ẨN và đi tu theo đạo Lão, là một học giả thuộc Đạo Gia ở cuối đời Đường đầu đời Ngũ Đại. Thơ ông thường mang tính hiện thực, bất cần đời, nổi tiếng với các câu như :

dcd_Lotan6.jpg 

             

          今朝有酒今朝醉,   Kim triêu hữu tửu kim triêu túy,
          明日愁來明日憂。   Minh nhựt sầu lai minh nhựt ưu.


 Có nghĩa :
                Hôm nay có rượu thì hôm nay say,
                Ngày mai sầu đến thì ngày mai hãy ưu sầu !


       Ông cũng có một bài Tống Táo Thi giống như là của LÃ MÔNG CHÍNH đã nêu ở trên, như sau :

dcd_lotan7.jpg 

          

     一盞清茶一縷煙,    Nhất trản thanh trà nhất lũ yên,
     灶君皇帝上青天。  Táo quân hoàng đế thượng thanh thiên.
     玉皇若問人間事,  Ngọc Hoàng nhược vấn nhân gian sự,
     為道文章不值錢。  Vị đạo văn chương bất trị tiền ! 


CHÚ THÍCH :
       NHẤT TRẢN : là Một Chung. TRẢN là Ly, Chén nhỏ.
       TÁO QUÂN HOÀNG ĐẾ : Là Ông Hoàng Đế ở trong Bếp mà ta quen gọi là VUA BẾP.( Xuất xứ của từ VUA BẾP là do câu thơ nầy mà ra ).


DIỄN NÔM :
                 Một chén trà thơm làn khói nhẹ,
                 Chầu Trời Vua Bếp đến cửa thiên.
                 Ngọc Hoàng nếu hỏi nhơn gian sự,
                 Hãy đáp văn chương chẳng đáng tiền !


       Ta thấy, chỉ có 2 câu đầu là hơi khác, còn 2 câu sau của bài thơ thì giống y chang như là bài Tống Táo Thi của Lữ Mông Chính, và không cần phải nói ta cũng biết là Lữ đã mượn thơ của La Ẩn để cảm khái cho hoàn cảnh của mình, vì LA lớn hơn LỮ đến 111 tuổi lận, LA ở cuối đời Đường còn LỮ ở đầu đời Tống.


       Để kết thúc bài viết nầy, xin mời cùng đọc câu đối hay và nổi tiếng thường thấy dán cho bàn thờ TÁO QUÂN như sau :

 

                  有德能司火,   Hữu đức năng ty hỏa,
                  無私可達天。   Vô tư khả đạt thiên.


Có nghĩa :
           Có ĐỨC thì mới có thể trông coi việc củi lửa bếp nút được.
           Phải CHÍ CÔNG VÔ TƯ thì mới được lên chầu trời ( để trình tấu mọi việc ).

dcd_lotan8.jpg 

                 

       Như vậy là cái TIÊU CHUẨN để được làm ông Táo đâu phải dễ !. Năm mới vui xuân, mong rằng mọi người rán tích đức để tương lai đều được lên CHẦU TRỜI như ông TÁO vậy !


                                                             Đỗ Chiêu Đức

GIÁO DỤC

             Giáo Dục luôn luôn là đề tài muôn thuở gắn liền với đời sống con người. Bất cứ nơi đâu trên trái đất, bất cứ màu da nào, dân tộc nào đều cũng có một nền giáo dục riêng biệt, đặc trưng của mình. Ngay cả trong mỗi gia đình đều có một nề nếp riêng của gia đình đó, mà người chủ gia đình là đầu tàu dẫn dắt theo cái hướng đi của gia đình mình và của cái xã hội mà gia đình mình đang hiện hữu. Nên từ ngàn xưa ông bà ta cũng đã cảnh báo là :" Dưỡng bất giáo, phụ chi quá. Giáo bất nghiêm, sư chi đọa " 養不教,父之過。教不嚴,師之惰。Có nghĩa : " Nuôi mà không dạy là lỗi của người cha. Dạy mà không nghiêm, là do sự biếng nhác của người Thầy." Vậy nên ...

           Muốn Giáo Dục có hiệu qủa tốt, thì cần phải kết hợp chặc chẽ giữa người dạy, người học và người theo dõi đôn đốc nữa ! Tức là phải kết hợp giữa Học Đường và Gia Đình, phải điều phối hợp lý chặc chẽ giữa Học Sinh, Thầy Cô Giáo và Phụ Huynh ! GIÁO DỤC luôn là vấn đề bức xúc, tế nhị và lâu dài, không phải trong một ngày một buổi mà đem lại hiệu qủa trông thấy được.

           Bây giờ thì ta hãy thử Chiết Tự để tìm hiểu một cách thấu đáo hơn về 2 chữ GIÁO DỤC nhé !

     * GIÁO 教 là chữ Hội Ý, theo diễn tiến của chữ viết như sau :


 DCD_GiaoDuc1.jpg

Giáp Cốt Văn   Kim Văn   Đại Triện  Tiểu Triện  Lệ Thư   

Ta thấy các chữ trên ...

        Bên Trái phía trên là 2 dấu chéo chỉ SỰ KIỆN, phía dưới là hình chữ Tử 子 là NGƯỜI, là Thằng Nhỏ. Bên Phải là hình của một Người hai tay dang ra, tay phía trên có cầm một cây Roi giơ cao như đang chỉ huy. HỘI Ý những hình trên lại : Trong xã hội nô lệ, thường thì chủ nô lệ phải cầm roi để chỉ huy, ra lệnh, dạy bảo đám người nô lệ. Nên ...

        GIÁO 教 đầu tiên có nghĩa là Chỉ Bảo, Ra Lệnh. Như :

    - GIÁO HUẤN 教訓 : là Dạy Dỗ, chỉ bảo, bắt buộc phải làm theo. Huấn còn có nghĩa là Huấn Tập, Huấn luyện cho thành thạo. Nghĩa phát sinh hiện nay thì Giáo Huấn có nghĩa là : Dạy cho một bài học cho nên thân !.

    - GIÁO ĐẠO 教導 : Chữ ĐẠO 導 nầy có bộ THỐN 寸 là Tấc ở dưới, Ý chỉ dò dẵm từng tấc đất một. Nên ĐẠO là Chỉ Dẫn để đi cho đúng Đường là Hướng Đạo đó. Nên GIÁO ĐẠO là Dạy dỗ và Hướng dẫn để đi cho đúng với con đường phải đi.

    - GIÁO DƯỠNG 教養 : Chữ DƯỠNG có bộ THỰC 食 bên dưới, nên Dưỡng là Cho Ăn, là NUÔI. Nên GIÁO DƯỠNG là Nuôi Dạy. 

Nuôi dạy là phạm vi của Gia đình, của Cha mẹ đối với Con cái. nhưng nghĩa rộng của Giáo Dưỡng là Giáo dục và Bồi Dưỡng. Có nghĩa dạy xong rồi, còn phải củng cố bồi dưỡng cho kiến thức được vững chắc lâu dài !

    - GIÁO HỌC 教學 : là DẠY và HỌC, nên Giáo Học là Dạy Học. Công Việc Giáo Học là Công việc truyền thụ kiến thức cho người khác, nhưng GIÁO HỌC cũng có nghĩa Dạy tức là Học đó. Càng DẠY thì lại càng HỌC được nhiều kiến thức hơn, càng Giỏi hơn ra.

      Đó là chung quanh các chữ GIÁO mà có liên quan đến DỤC. Vậy DỤC là gì ? Ta hãy xem nguồn gốc của chữ DỤC dưới đây :


 DCD_GD2.jpg                                      

           Đại Triện          Tiểu Triện                Lệ Thư

Ta thấy :

    * Chữ Đại Triện : Có bộ MẪU 母 là Mẹ bên trái, bên phải là chữ Tử 子 là Con lật ngược đầu xuống, dưới cùng là chữ Tiểu 小 là Nhỏ. Ý chữ là : Bà mẹ đang sanh ra đứa con nhỏ, nên chữ Tử 子 mới để ngược đầu trở xuống. Và chữ DỤC 育 ở đây có nghĩa là SANH RA. Như :

        - Sinh Dục 生育 nghĩa như Sinh Sản.

        - Tiết Dục 節育 là Hạn chế Sinh đẻ.

        - Đoạn Dục 斷育 là Nghỉ đẻ luôn !

    * Chữ Tiểu Triện : Phần trên  là chữ TỬ 子 trở ngược đầu, phần dưới là bộ NHỤC 肉 là THỊT,( được viết cách điệu như chữ Nguyệt 月 là Trăng ). Ý chữ là : Đang đút cho đứa bé ăn thịt, nên DỤC 育 có nghĩa là NUÔI NẤNG. Như :

        - Dưỡng Dục 養育 : là từ kép của Nuôi, là Nuôi Nấng.

        - Đức Dục 德育 : Nuôi Nấng về mặt Đạo Đức.

        - Trí Dục 智育 : Nuôi Nấng về mặt Trí Thức.

        - Thể Dục 體育 : Nuôi Nấng cho cơ thể Khỏe Mạnh.

        - Mỹ Dục 美育 : Nuôi Nấng về khiếu Thẩm Mỹ.

           .... và cuối cùng là ...

        - GIÁO DỤC 教育 : Là Nuôi Nấng về mặt Dạy Dỗ.

          Nhưng, Nuôi như thế nào ? Nuôi bằng cách rèn luyện cho người được nuôi có được Phẩm Chất Đạo Đức Tốt ( Đức Dục ). Nuôi bằng cách truyền thụ cho người được nuôi mở mang trí hóa với các kiến thức căn bản ( Trí Dục ). Nuôi cho người được nuôi có được một cơ thể cường tráng ( Thể Dục )  và có được cái năng khiếu về thẩm mỹ mỹ thuật, biết thưởng thức được những cái đẹp của cuộc sống chung quanh ta ( Mỹ Dục ). Còn ...

          DẠY thì phải ra sao ? Dạy  cho nắm bắt được kiến thức cơ bản của xã hội mà ta đang sống, có được một kỹ năng kiếm sống và biết sống cho đáng sống ( Giáo Huấn ). Dạy cho biết bồi dưỡng cập nhật và thích ứng với xã hội luôn luôn phát triển không ngừng ( Giáo Dưỡng ). Dạy cho biết phải đi đúng đường đúng hướng của đạo làm người trong tập thể mà ta đang sống ( Giáo Đạo ) và cuối cùng là Dạy cho ta biết phải luôn luôn học hỏi và không ngừng cầu tiến để thăng hoa hơn con người của bản thân ta ( Giáo Học ). Cho nên ...

          Giáo mà không Huấn sẽ không tinh, không giỏi được. Giáo mà không Dưỡng sẽ không lâu dài bền vững được. Giáo

mà thiếu chỉ Đạo sẽ dễ bị chệch hướng, " Tẩu hỏa nhập ma ", lầm đường lạc lối,  còn Giáo mà không chịu trao dồi Học hỏi thêm sẽ bị lạc hậu ngay, như câu nói :

DCD_GiaoDuc3.jpg 

            

            Học như nghịch thuỷ hành chu,    學如逆水行舟,

            Bất tiến tắc thoái dã !                  不進則退也!

Có nghĩa :

       - Chuyện học hành như là đang đi thuyền nước ngược vậy,

       - Nếu không cố gắng tiến lên, thì sẽ bị nước đẩy cho lùi trở xuống ! ( chớ không thể đứng một chỗ được !).

 

       Hai chữ GIÁO DỤC  thấy như đơn giản, nhưng lại bao hàm đầy đủ các mặt NUÔI DẠY cần thiết để đào tạo con người. Cho nên, Công Tác Giáo Dục cũng là Công Tác vô cùng phức tạp và hết sức thiêng liêng và Hiệu Qủa Giáo Dục thì không phải là chuyện một ngày một buổi mà có được. Ngạn ngữ Trung hoa xưa có câu :

                 Nhất niên thọ đạo,       一年樹稻,

                 Thập niên thọ mộc,      十年樹木,

                 Bách niên thọ nhơn.     百年樹人!

 

                 Có nghĩa :

        - Vì lợi ích trong một năm thì trồng lúa,

        - Vì lợi ích của mười năm thì trồng cây,

        - Vì lợi ích của trăm năm thì phải đào tạo con người !

DCD_GiaoDuc4.jpg 

          

      Mong rằng những người làm Công Tác Giáo Dục phải biết cân nhắc, châm chước và trân trọng !

 

                                                             Đỗ Chiêu Đức

LIỄN DÁN TỪ CỔNG ĐẾN ... CẦU TIÊU !

 

         Để mở đầu cho đề tài " không giống ai " nầy, xin kể hầu Quý Vị một câu chuyện vui về " Liễn dán trước cổng ".

 

         GIẢI TẤN 解缙, người ở Trấn Văn Phong, huyện Cát Thủy, tỉnh Giang Tây, là một văn tài đời nhà Minh. Tương truyền, trước khi đậu Tiến sĩ, ông còn là một bạch diện thư sinh, nhà ở  đối diện với một khu vườn trúc ( Trúc 竹 là từ Hán Việt, có nghĩa là cây Tre ). Vì là một thư sinh áo vải nhà nghèo, nên chiều ba mươi Tết, ông chỉ viết một đôi liễn dán lên trước cổng để đón giao thừa mà thôi, đôi liễn như thế nầy :

 

                   DCD_liendancautieu_1.jpg

                  Môn đối thiên can trúc,       門對千竿竹,

                  Gia tàng vạn quyển thư.     家藏萬卷書。

Có nghĩa :

         - Đối diện trước cửa là ngàn cây trúc, và ...

         - Trong nhà cất giữ hàng vạn quyển sách.

        Ý của ông là muốn tỏ rõ cho mọi người biết mình là một thư sinh quân tử thanh cao như là vườn Trúc trước nhà, và là một thư sinh hiếu học với cả vạn quyển sách chứa trong nhà.

         

DCD_liendancautieu_2.jpg

Ngày xưa, Trúc được xem như là biểu tượng của người quân tử, được phong tặng là " Tiết trực tâm hư 節直心虛 ". TIẾT là các mắt, các lóng tre, TRỰC là thẳng, TÂM là cái Ruột tre, HƯ là trống không. Nên TIẾT TRỰC TÂM HƯ có nghĩa là : Các mắt tre thì thẳng tuột mà ruột tre thì bọng không, như biểu tượng của người quân tử : Thẳng thắn mà không vụ lợi. Nhất là khi đã xuất sĩ để làm quan. Ta nhớ lại, lúc về Việt Nam chấp chánh, Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã dùng cả một bụi tre để làm biểu tượng cho chính quyền của mình, tất cả những con dấu từ Trung Ương đến địa phương đều có hình bụi tre ở giữa với ý nghĩa Chính trực thanh liêm không vụ lợi !

 

      Trở lại với...

       Câu đối của Giải Tấn. Sáng mùng một Tết, tên địa chủ của vườn trúc thấy đôi câu đối của ông, bèn nổi giận nghĩ rằng : Vườn trúc của ta để cho nó  tự ví mình là người cao cả học rộng, thật đáng ghét ! Bèn cho gia nhân đốn hết vườn trúc xuống, xem mi còn viết được liễn hay không ?! Đến chiều khi Giải Tấn ra cửa, thấy trúc đã bị đốn sạch, nhưng còn khúc gốc ngăn ngắn, ông chỉ mĩm cười chẳng nói chẳng rằng. Đêm đó, ông viết thêm 2 chữ nối vào đôi liễn trên như sau :

               

             Môn đối thiên can trúc ĐOẢN,       門對千竿竹短,

             Gia tàng vạn quyển thư TRƯỜNG.  家藏萬卷書長。

Có nghĩa :

            - Cửa đối ngàn cây trúc NGẮN,

            - Nhà còn muôn quyển sách DÀI.

         Ý càng mĩa mai hơn, Trúc của ông đã ngắn rồi, nhưng sách của nhà ta thì lại dài thêm ra.

        Sáng mùng 2 Tết, tên địa chủ nhìn thấy 2 chữ mới thêm vào của Giải Tấn càng nổi máu hơn, ông ta ra lệnh cho đám gia nhân đào hết cả các gốc tre lên, thử xem " mầy " có gở đôi liễn xuống không cho biết ! Giải Tấn trông thấy việc làm của ông ta, chỉ cười thầm. Tối đêm đó, ông lại thêm vào mỗi bên một chữ nữa như sau :

          Môn đối thiên can trúc đoản VÔ,       門對千竿竹短無,

          Gia tàng vạn quyển thư trường HỮU. 家藏萬卷書長有。

Có nghĩa :

         - Cửa đối ngàn cây trúc tạm không ( đoản vô : chỉ một thời gian ngắn không có, có nghĩa Tạm thời không có, trúc sẽ mọc lại mà thôi ! )

         - Nhà giữ muôn quyển sách dài dài ( trường hữu : Có một cách lâu dài trường cữu, là Có dài dài ! ).

         Ý muốn nói, Tre của ông có thể không có, chớ sách của ta thì luôn có dài dài trong nhà !

         Sáng sớm mùng 3 Tết, tên địa chủ đọc được 2 chữ mới thêm vào của Giải Tấn, tức muốn ói máu, nhưng lại không làm gì được anh ta, mà vườn trúc nhà mình đã bị mình ra lệnh cho đốn sạch cả rồi !.....

        Chữ nghĩa lắm lúc cũng mạnh mẽ, hay ho, lý thú là thế ! Nên ngày xưa, người ta có lệ dán liễn từ ngoài cổng cho đến... sau hè ! Ta sẽ bắt đầu từ cổng nhé !...

         Cổng là cửa chính của nhà lớn, hoặc là cửa rào của trang trại nhìn ra đường cái hoặc sông hồ ao biển... Nên câu đối phải bao quát cả thiên nhiên, vũ trụ, đất trời hoặc dòng thời sự chính của xã hội, nên thường ngắn, gọn và bao quát.  Ví dụ như câu đã được đề cập trong bài Chữ Nho ...Dễ học là :

DCD_Liendanchuongheo_3.jpg 

 

                    Nhất nguyên phục thuỷ,     一元復始,

                   Vạn tượng canh tân.          萬象更新。

Có nghĩa :

          -  Một dòng nguyên khí của trời đất trở lại lúc ban đầu.

          -  Muôn vàn hiện tượng ( bao gồm người, vật, sự vật )

              đều đổỉ mới.

 Câu đối 5 chữ như :

                   Xuân huy doanh thiên địa,    春輝盈天地,

                   Thọai khí mãn càn khôn.       瑞氣滿乾坤。

Có nghĩa :

          - Ánh sáng của mùa xuân phủ trùm cả trời đất,

          - Luồn khí tốt lành đầy rẫy cả càn khôn.

 

      Mang tính chính trị như : 

                   Chính thông thiên gia phước,   政通千家福,

                   Dân  an  vạn  hộ  xuân.           民安萬戶春。

Có nghĩa :

          - Chính trị được đả thông là cái phước của ngàn nhà,

          - Dân được an lành thì muôn nhà đều đón xuân vui vẻ.

      Thường những câu như thế nầy là dùng để dán ở các cơ quan nhà nước để nhắc nhở các quan chú ý đến đời sống của dân đen.

       Nhưng câu hay nhất để dán cổng hoặc cửa cái vẫn là câu :

                      DCD_liendanchuongheo_4.jpg

                 

                    Hữu thiên giai lệ nhật,      有天皆麗日,

                    Vô địa bất xuân phong.     無地不春風。

Có nghĩa :

         - Hễ nơi nào có trời là nơi đó có nắng đẹp chiếu tới.

         - Không nơi nào trên mặt đất là không có gió xuân.

 

          Bây giờ thì ta bước vào cửa chính để vào nhà, ngoài câu đối truyền thống là :

 

     Thiên tăng tuế nguyệt nhân tăng thọ     天增歲月人增壽,

     Xuân mãn càn khôn phước mãn đường   春满乾坤福满堂.

 Có nghĩa :

   1. Trời thì thêm năm thêm tháng, người thì thêm tuổi thọ.

   2. Xuân về đầy cả đất trời, phước lộc đầy cả nhà.

       DCD_liendancautieu_5.jpg

 Hai câu nầy bao gồm cả trời đất, cả bầu trời đều chìm ngập trong không khí của mùa Xuân, người thì thêm phước thêm thọ... nên được cả người Việt lẫn người Hoa ưa chuộng. Có một điều hơi khác là chữ cuối cùng của Câu đối, chữ ĐƯỜNG, là cái phòng rộng ở trong nhà, tiếng Anh là HALL, tiếng Việt không có từ tương đương để gọi.  Cái phòng rộng nầy là nơi thờ phượng Ông Bà Tổ Tiên (Từ Đường), cũng là nơi Cha Mẹ hay ngồi để cho con cháu hằng ngày đến vấn an, ra mắt, nhất là vào các dịp lễ hội, Tết nhứt (Cho nên gọi cha là Xuân Đường, gọi mẹ là Huyên Đường là vì thế). Dĩ nhiên, nhà giàu mới có được cái "ĐƯỜNG" nầy, cho nên nhà nghèo thì đổi chữ ĐƯỜNG thành chữ MÔN 門, là cái Cửa, cũng có nghĩa là cái NHÀ, (Từ kép của ta gọi là NHÀ CỬA mà)... 

          Xuân mãn càn khôn phước mãn MÔN là: Xuân về đầy cả đất trời và phước cũng tràn ngập cả nhà. Sự thật thì ĐƯỜNG hay MÔN gì thì cũng là một bộ phân tiêu biểu cho CÁI NHÀ mà thôi. Tôi nói để mọi người khỏi thắc mắc là tại sao có người viết là ĐƯỜNG, mà có người lại viết là MÔN.   

          Bây giờ thì tất cả chúng ta đều trên 6 bó cả rồi, có người đã gần 9 bó nữa là khác, câu đối không còn xoay quanh phát tài phát lộc nữa, ( còn tài lộc đâu mà phát !). Sau đây, xin giới thiệu một câu đối Tết cho tuổi già để dán ngay cửa ra vào :

             DCD_Liendancautieu_6.jpg

         Đản cầu tuế tuế bình an nhật,         但求歲歲平安日,

         Nguyện đắc niên niên như ý xuân.   願得年年如意春。

Có nghĩa :

         - Chỉ cầu cho mỗi một tuổi đều có được những ngày tháng bình an.

         - Chỉ nguyện rằng mỗi năm đều có được những mùa xuân như ý.

Phòng khách ngày xưa gọi là Khách Đường hay Khách Thính là nơi cha mẹ hay ngồi nơi đó để con cháu quây quần ra mắt vấn an. Nên câu đối truyền thống của Việt Nam ta ở phòng khách nầy là :

           Thiên hữu tứ thời xuân tại thủ,        天有四時春在首,

           Nhân sanh bách hạnh hiếu vi tiên.   人生百行孝為先。

Có nghĩa :

         - Trời thì có 4 mùa, mùa xuân là mùa đứng đầu.

         - Người thì có cả trăm đức hạnh, hiếu là  đức hạnh

            trước tiên.

                
   
Còn người Hoa thì họ nói " Bách THIỆN hiếu vi tiên " như 2 tấm bảng minh họa nêu trên. Nghĩa cũng như nhau mà thôi !

       DCD_Liendancautieu_7.jpg  

       Nếu có hoành phi thì thường thấy có 4 chữ HÒA KHÍ SANH TÀI 和氣生財, có nghĩa : Không khí hòa thuận của gia đình sẽ phát sinh tài lộc, hoặc 5 chữ như : GIA HÒA VẠN SỰ HANH 家和萬事亨。Có nghĩa : Gia đình có hòa thuân thì muôn việc mới hanh thông. Câu nầy thường bị viết sai thành : GIA HÒA VẠN SỰ HƯNG 家和萬事興。Cả người Hoa cũng viết sai như thế, nhưng lâu dần, NÓ trở thành thói quen, rồi... được thông dụng luôn, vì nghĩa của nó cũng " same same ": Gia đình hòa thuận thì muôn việc đều Hưng Vượng. Cũng tốt thôi !

                DCD_Liendancautieu_8.jpg

 Vào đến phòng đọc sách, tức là phòng học, phòng để computer hiện nay, còn gọi là study room, thì câu đối mà ta thường gặp nhất là :

                Tàng cổ kim học thuật,      藏古今學術,

                Tụ thiên hạ tinh hoa .        聚天下精華。

Có nghĩa :

          - Tàng trữ học thuật từ xưa tới nay.

          - Tích tụ những tinh hoa của thiên hạ.

         Với những phát minh của khoa học kỹ thuật hiện nay, thông qua google, youtube, Skype ... Chỉ cần ngồi ở nhà " chịu khó mở máy " là ta sẽ biết hết chuyện thiên hạ thế giới... Nên sau đây là câu đối của thầy đồ dỏm ĐCĐ :

 

          Tọa thất tự thông thiên hạ sự,    坐室自通天下事,

          Bế môn biến thức cổ kim tình.    閉門遍識古今情。

Có nghĩa :

        - Ngồi ở trong nhà, trong phòng tự mình cũng thông suốt được chuyện xảy ra trong thiên hạ.

        - Đóng cửa lại ở trong nhà, cũng biết hết các sự tình của xưa nay.

       Bây giờ thì ta bước vào...phòng ngủ của vợ chồng nhé, đây là câu đối thích hợp nhứt :

               Đồng sàng kiêm đồng mộng,     同床兼同夢,

               Hợp  ý  diệc hợp  tâm.               合意亦合心。

Có nghĩa :

        - Chung giường cùng chung mộng.

        - Hợp  ý  cũng hợp  lòng .

            DCD_Liendancautieu_9.jpg 

Một câu đối nữa để chỉ sự hòa hợp giữa vợ chồng với nhau :

          Gia đình hạnh phúc chơn viên mãn,  家庭幸福真圓滿,

          Cầm sắc hòa hài lạc tự do.               琴瑟和諧樂自由.

Có nghĩa :

        - Gia đình hạnh phúc thật là viên mãn, đầy đủ.

        - Hòa hợp với nhau như cầm với sắc, vui hưởng tự do.

               DCD_liendancautieu_10.jpg

 Cuối cùng là nhà bếp, nơi cung cấp thức ăn và nuôi sống gia đình. Theo sách " Hán Thư. Lệ thực kỳ truyện : 漢書 ·郦食其传:"王者以民为天,而民以食为天。" Vương giả dĩ dân vi thiên, nhi dân dĩ thực vi thiên ". Có nghĩa : Bậc vương giả thì lấy dân làm trời, còn dân thì lấy cái ăn làm trời "( TRỜI : ở đây chỉ Cái Quan Trọng nhất, Cao Nhất !). Câu nầy cũng thường hay bị nói sai thành : " Dĩ thực vi TIÊN 以食為先 " ( Cái ăn là trước hết cả !), nhưng, nghĩa thì vẫn đúng như thường, nên cũng không kể là nói sai được, trong cuộc sống thực tế có rất nhiều câu như thế. Trở lại với câu đối của nhà bếp, ta có :

                   Phanh điều ưng cần kiệm,    烹調應勤儉,

                  Ẩm thực mạc qúa lường .     飲食莫過量。

 Có nghĩa :

           - Nấu nướng phải biết cần kiệm ( đừng phung phí ).

           - Ăn uống đừng qúa độ. ( phải biết chừng mực, vừa no thì thôi !).

    Và ...

                 Tầm thường vô dị vị,        尋常無異味,

                 Tiên khiết tức giai trân.     鮮潔即佳珍。

Có nghĩa :

          - Bình thường không mùi lạ,  ( tanh hôi thiêu thúi ).

          - Tươi sạch ấy món ngon. ( Còn tươi và sạch sẽ vệ sinh thì là món ngon rồi !).

          Ăn uống no say rồi, bây giờ đến ... cái tứ khoái cuối cùng cuả con người nhé !

         Ngày xưa không có Toilet hay restroom như bây giờ, Nhà Xí được cất ở phía sau khá xa nhà để tránh mùi hôi thúi. Đối với những gia đình giàu sang khá giả thì cũng được lợp mái và có cửa nẻo hẵn hoi và ... dĩ nhiên cũng được dán đôi liễn như những nơi khác. Sau đây là một đôi liễn độc đáo nhất được dán ở ... Cầu Tiêu Công Cộng :

 

                  Lai thời thập phân cấp,       來時十分急,

                  Khứ hậu nhất thân khinh.   去後一身輕。

Có nghĩa :

         - Khi đến vội vả mười phần, ( lính qua lính quính ).

         - Lúc đi nhẹ nhỏm một thân. ( đã trút được bầu tâm sự ).

       Tin rằng trong đời chắc ai cũng có một lần lính qua lính quính qưính quáng tìm chỗ giải quyết vấn đề... sinh lý nầy !

 

        Nhớ trước 1975, khi nhà còn ở trên Ba Láng ( Ba Láng của Cái Răng, Ba Láng, Vàm Xáng, Phong Điền đó !), phiá sau nhà tôi có một cái Cầu tiêu Cá Vồ với 2 dãy đâu lưng nhau ( để khỏi nhìn mặt nhau lúc làm... công việc thiêng liêng đó !). Lối xóm, có một nàng nữ sinh Trung học Đoàn Thị Điểm thường sử dụng cây cầu có cá nầy. Một hôm, có anh bạn cùng lớp  ở  Cần Thơ đạp xe đạp vào thăm nàng, nhằm lúc nàng đang... kẹt cầu, nên đứng ở bên hông nhà tôi đợi, chớ không dám đi đến cầu. Là bạn học cùng trường Phan Thanh Giản với nhau, tôi thấy vậy, bèn mời anh bạn vào nhà, không biết tức cảnh sinh tình như thế nào mà anh bạn chỉ đưa cho tôi tờ giấy có ghi... bài thơ, nhờ trao lại cho nàng, rồi đạp xe về Cần Thơ. Tôi còn nhớ bài thơ như thế nầy :

 

                  Anh đến thăm em một buổi chiều,

                  Em ngồi em  ỉ ...  ở cầu tiêu.

                  Xót xa anh đợi lâu... lâu lắm,

                  Mới biết rằng em  ỉ ... thật nhiều !

 

                            Image result for Cầu tiêu cá vồ

          Xin được kết thúc bài viết " không giống ai " nầy !

 

                                                                  Đỗ Chiêu Đức

________________________________________________________________________________________________ 

DCD_TaChiet.jpg

THƠ CUNG OÁN ĐỜI MINH

                               Tạ Triệu Chiết 

 

       TẠ TRIỆU CHIẾT  謝肇淛(1567-1624)tự là Tại Hàng, người Trường Lạc tỉnh Phước Kiến. Đậu Tiến Sĩ khoa Nhâm Thìn, tức năm Vạn Lịch thứ 20  ( 1592 ). Làm Thôi quan ở Hồ Châu, Đông Xương, Chủ sự Hình bộ ở Nam Kinh, Binh Bộ Lang Trung, Công Bộ Đồn Điền. Thiên Khải nguyên niên nhậm chức Án Sát Sứ Quãng Tây, sau thăng Bố Chánh Sứ. Ông là nhà văn nhà thơ nổi tiếng của triều Minh. Hiện mộ phần của ông còn ở tỉnh Phước Kiến, thuôc đơn vị Bảo tồn di tích Văn hoá Lịch sử Tỉnh.  

        Sau đây là 2 bài Cung Oán Ngũ ngôn Tứ tuyệt của ông.

       1.     春怨                        XUÂN OÁN

     長信多春草,           Trường Tín đa xuân thảo,
     愁中次第生.           Sầu trung thứ đệ sinh.
     君王行不到,           Quân vương hành bất đáo,
     漸與玉階平.           Tiệm dữ ngọc giai bình.                 

             謝肇淛                               Tạ Triệu Chiết

 

CHÚ THÍCH :

      Chiết 淛 : là một dị bản của chữ 浙 Chiết. Chữ Chiết 淛 nầy hay bị đọc nhầm thành chữ CHẾ 制, nên tên TẠ TRIỆU CHIẾT hay bị đọc nhầm thành TẠ TRIỆN CHẾ lắm !

      Thứ Đệ : là Lần Lượt, hết lớp nầy tới lớp khác.

      Tiệm : là Dần Dà, là Dần dần, Lần lần.

      Ngọc Giai : là Thềm ngọc, chỉ cái thềm phòng của các bà các cô ở. Mặt thì Mặt Ngọc, gót thì Gót Ngọc, Tay thì Tay Ngọc ( Tay Ngọc bên bếp hồng ), Thân Mình thì là Mình Ngọc, còn ăn nói thì Hoa Cười Ngọc Thốt, cho nên cả con người thì gọi là NGƯỜI NGỌC !

        Có đàn ông Tây phương nào " ga-lăng " bằng các thư sinh châu Á cuả ta ngày xưa đâu ?!

 NGHĨA BÀI THƠ :

                     NỖI HỜN OÁN TRONG MÙA XUÂN

         Quanh cung Trường Tín mọc đầy cả cỏ xuân, trong nỗi sầu của nàng cung nữ cỏ xuân cứ lần lượt mọc thêm mãi, và vì quân vương đi không đến nơi nầy, cho nên cỏ đã dần dà mọc cao lên bằng cả thềm ngọc rồi !

         Cỏ là sức sống của mùa xuân, của tuổi thanh xuân, lẽ ra phải sống vui và phải vươn lên thật mạnh mẽ, nhưng trong nỗi buồn của người cung nữ trong lãnh cung thì cỏ lại mọc tràn lan, hết lớp nầy đến lớp khác một cách hoang vu. Vì ...quân vương đi không đến nơi nầy, cho nên cỏ đã lên cao đến thềm ngọc rồi, Cỏ càng cao thì nỗi sầu của nàng cũng cao như cỏ dại, và chỉ có cỏ mới hiểu được mối sầu của nàng như thế nào mà thối ! Cũng là cỏ, Cụ Nguyễn Du đã mượn để tả cảnh phòng không của cô Kiều lúc Từ Hải đi tìm công danh :

                    Sân rêu chẳng vẽ dấu giày,

               CỎ CAO HƠN THƯỚC liễu gầy vài phân.

 DIỄN NÔM :

                           XUÂN OÁN

                    Cỏ xuân đầy Trường Tín,

                    Trong sầu lại mọc thêm.

                    Quân vương đi chẳng đến,

                    Đã vượt cao ngang thềm !

    Lục bát :

                 Phủ đầy Trường Tín cỏ xuân,

                 Sầu nên lại mọc quanh cung hàng hàng.

                 Quân vương chẳng đoái chẳng màng,

                 Quanh thềm cỏ đã vượt tràn lối đi !

                                                          Đỗ Chiêu Đức

2. THU OÁN :

            秋怨                      THU OÁN

 
 

明月憐團扇,      Minh nguyệt lân đoàn phiến,

西風怯綺羅。      Tây phong khiếp ỷ la.

低垂雲母帳,      Đê thuỳ vân mẫu trướng,

不忍見銀河。      Bất nhẫn kiến ngân hà.

                    

       CHÚ THÍCH :

      Tây Phong : là Gió thổi từ hướng Tây tới, là gió của mùa Thu, lạnh se sắt,còn gọi là Kim phong : Gió Vàng, như Ôn Như Hầu đã viết trong Cung Oán Ngâm Khúc :

                  Trãi vách quế GIÓ VÀNG hiu hắt,

                  Mảnh vũ y lạnh ngắt như đồng !

       Trong dân gian thì có câu Ca Dao của vùng Nam Bộ như sau :

                         Anh về để áo lại đây,

                Để khuya em đắp GIÓ TÂY lạnh lùng !

      Lân : là Thương xót.       Khiếp : là Sợ hãi.

      Ỷ La : là Miếng Vải The đẹp. Cũng như chữ Đoàn Phiến, Ở đây, đều chỉ Cây Quạt bọc bằng vải the vải lụa mà các bà các cô ngày xưa hay cầm trên tay để quạt cho mát.

      Đê Thùy : Đê là Thấp, Thùy là Rũ xuống. Nên ...

      Đê Thùy : là Buông rũ xuống.

      Vân Mẫu : là một loại đá quý có vân như cẩm thạch.

      Vân Mẫu Trướng : là Bức Trướng, bức rèm có cẩn đá Vân Mẫu cho đẹp.

      Bất Nhẫn : là Không Nhẫn tâm, ở đây có nghĩa là : Không Đành Lòng, Không Muốn.

 

NGHĨA BÀI THƠ :

                      NỖI OÁN HẬN TRONG MÙA THU

       Trăng thu mát mẻ như cũng thương xót cho cây quạt tròn có hình dáng giống mình, ( nhưng đã trở nên vô dụng vào mùa thu.) Cũng như gió Tây se sắt thổi làm cho những cây quạt bọc bằng lụa là đẹp đẽ cảm thấy sợ hãi vì sẽ không còn tác dụng nữa. Nên chi đành buông thấp rèm Vân Mẫu xuống mà không muốn nhìn thấy Ngân Hà ( hoặc biểu tượng nào của mùa thu ) nữa cả !

        Trăng thu, gió thu, sông Ngân Hà tất cả những cái biểu tượng của mùa thu làm vô hiệu hóa cây quạt cầm trên tay của nàng cung nữ, vũ khí duy nhất để quạt mát lấy lòng vua bị mùa thu làm cho héo hắt, tắt lịm luôn hy vọng theo gió thu !

        Đọc bài này làm ta nhớ lại 2 câu trong bài Trường Tín Cung của Lưu Phương Bình đời Đường là :

                  Thu phong năng tái nhiệt,

                  Đoàn phiến bất từ lao !

      ( Gió thu ví có thể nóng lại được, thì cây đoàn phiến nầy sẽ chẳng từ lao nhọc mà quạt mát cho vua ngay ! ).

DIỄN NÔM :

                               THU OÁN

                    Trăng sáng thương quạt lụa,  

                    Gió Tây sợ quạt là.

                    Rũ bức rèm Vân Mẫu,

                    Chẳng muốn thấy Ngân Hà !

   Lục bát :

                Trăng thu thương cánh quạt tròn,

                Gió thu hiu hắt quạt còn sợ hơn.

                Buông rèm Vân Mẫu tủi hờn,

                Lòng không muốn ngắm sầu hơn Ngân Hà !

 

                                                 Đỗ Chiêu Đức     

_______________________________                                         



BỐN BÀI CUNG OÁN Ngũ ngôn tứ Tuyệt

1.                       TRƯỜNG TÍN CUNG 

                              Lưu Phương Bình

 

           Hầu hết thơ Cung Oán đời Đường đều xoay quanh đề tài của nàng Ban Tiệp Dư, Cung Trường Tín, Điện Chiêu Dương... đời Hán. Ít có bài thơ  nào dám nói thẳng vào hậu cung nhà Đường lắm. Âu cũng là thường tình. Ta đã đọc các bài Thất Ngôn Tứ Tuyệt rồi, bây giờ thì ta đọc Ngũ ngôn Tứ Tuyệt nhé !

 

             

        長信宮                  TRƯỜNG TÍN CUNG

     夢裏君王近,            Mộng lý quân vương cận,

     宮中河漢高。          Cung trung hà hán cao.
     秋風能再熱,            Thu phong năng tái nhiệt,

     團扇不辭勞。          Đoàn phiến bất từ lao !

               劉方平                              Lưu Phương Bình

 

CHÚ THÍCH :

      Hà Hán : Còn gọi là Ngân Hà, Thiên Hà.

      Từ Lao : là Chối từ lao nhoc, Không chịu được sự lao nhọc.

      Bất Từ Lao : là Không chối từ sự lao nhọc. Có nghĩa : Sẵn sàng chịu lao nhọc.

 

NGHĨA BÀI THƠ :

           

DCD_CungOan_1.jpg

Trong mơ thấy mình được thân cận với quân vương. Trong cung  bây giờ đã vào thu nên dãi Ngân Hà nhìn thấy trên cao. Nếu như gió thu có thể làm cho nóng nực trở lại, thì cây quạt lụa tròn nầy rất sẵn sàng không từ sự lao nhọc mà quạt mát cho vua ngay !

            Qủa thật đáng thương và tội nghiệp vô cùng ! Vua thì ở trên cao như giải Ngân Hà, có thể ngắm được mà không thể với tới được. Và ... Ao ước một điều mà không hề có được, gió thu hiu hắt làm sao có thể nóng lại cho được ?! Cho nên ao ước như không, đành chịu cảnh lẻ loi ở lãnh cung mà không có cơ hội nào thân cận quân vương như trong mộng cho được !

                

             

DIỄN NÔM :

                    Trong mơ vua thân cận,

                    Vào thu Ngân Hà cao.

                    Gió thu như nóng lại,

                    Quạt lụa chẳng từ lao !

 Lục bát :

                Trong mơ gần gũi quân vương, 

                Lãnh cung cao ngắm xót thương Ngân Hà.

                Gió thu ví nóng lại mà,

                Không từ lao nhọc quạt là sẵn đây !

 

                                                      Đỗ Chiêu Đức

dcd_cungoan_2.jpg 

 Bản viết tay bài TRƯỜNG TÍN OÁN của Lưu Phương Bình năm 1972

                                                                    ĐCĐ.

 

2.                      TIỆP DƯ OÁN

                               Hoàng Phủ Nhiễm

DCD_cungoan_3.jpg

 

        

           
      

         婕妤怨                     TIỆP DƯ OÁN    

      花枝出建章,          Hoa chi xuất Kiến Chương,

      鳳管發昭陽。          Phụng quản phát Chiêu Dương.

      借問承恩者,          Tá vấn thừa ân giả,

      雙蛾幾許長?          Song nga kỷ hứa trường  ?
                皇甫冉                           Hoàng Phủ Nhiễm

 

CHÚ THÍCH :

       Hoa Chi : là Cành Hoa, Ở đây chỉ các người đẹp.

       Kiến Chương : Tên một cung điện đời Hán.

       Phụng Quản : Chỉ Ống Tiêu có hình con chim phụng. 

       Chiêu Dương : Tên của cung vua ở đời Hán.

       Tá Vấn : là Ướm Hỏi, là Dám Hỏi.

       Thừa Ân Giả : là Người đang nhận ơn vua.

       Song Nga : chỉ Cặp Chơn mày. Ở đây chỉ Sắc đẹp.

       Kỷ Hứa : là Bao nhiêu ?. 
 

NGHĨA BÀI THƠ :

                   NỖI OÁN HẬN CỦA NÀNG BAN TIỆP DƯ

        Những người đẹp như những cành hoa đẹp phát xuất từ cung Kiến Chương. Tiếng tiêu tiếng sáo phụng dìu dặt trổi lên từ điện Chiêu Dương  ( Nơi mà nhà vua đang yến ẩm vui chơi ). Dám hỏi những kẻ đang được vua ân sủng, đôi mày nga kia dài được bao nhiêu ?

        Đôi Nga My ( Mày Nga hoặc Mày Ngài ) tượng trưng cho sắc đẹp của người phụ nữ. Trong Cung Oán Ngâm Khúc Ôn Như Hầu cũng đã viết :

                    Đóa lê ngon mắt cửu trùng,

            Tuy mày điểm nhạt nhưng lòng cũng xiêu !

       Nàng cung nữ ở lãnh cung đã mĩa mai những cung nhân đang được vua yêu là : Để xem mày ngài của các nàng dài được bao nhiêu, ý muốn nói, để xem các nàng còn đẹp được bao lâu, còn được vua yêu thêm bao lâu nữa ? Trước kia, ta cũng đã từng được vua yêu như các nàng đó các nàng ơi !

 

   DCD_cungoan_4.jpg    


 DIỄN NÔM :

                          TIỆP DƯ OÁN

 

                    Kiến Chương hoa nở đẹp,

                    Chiêu Dương nhạc rộn ràng.

                    Dám hỏi người vua mến,

                    Mày dài mấy  hai hàng  ?!

    Lục bát :

                    Hoa xinh đẹp xuất Kiến Chương,

                    Phụng tiêu nhạc trổi Chiêu Dương rộn ràng.

                    Hỏi người yêu dấu điện vàng,

                    Đã dài được mấy hai hàng mày nga ?!

              

                                                              Đỗ Chiêu Đức

 

 DCD_Cungoan_5.jpg

Bản viết tay bài TIỆP DƯ OÁN của Hoàng Phủ Nhiễm năm 1972

                                                                              ĐCĐ

 

3.                       BAN TIỆP DƯ

                                     Vương Duy

 

        班婕妤                 BAN TIỆP DƯ

    怪來妝閣閉,      Quái lai trang các bế,

      朝下不相迎。      Triều hạ bất tương nghinh.
  總向春園裡,      Tổng hướng xuân viên lý,

      花間笑語聲。      Hoa gian tiếu ngữ thanh.               

                 王維                               Vương Duy
             

CHÚ THÍCH :

      Quái Lai : Quái lạ ! Sao lạ Vậy !

      Trang Các : Cái Gác trang Điểm, Chỉ cái lầu cái gác cuả các bà các cô ở, chữ nầy cũng như chữ Trang Đài vậy.

      Triều Hạ : là Tan Triều,là Bãi Triều.

      Bất Tương Nghinh : là Không Nginh đón nhau.

      Tổng Hướng : là Đều Hướng Về. Tất cả đều hướng về.

 

NGHĨA BÀI THƠ :

          Lạ nhỉ, sao gác ngọc của nàng lại đóng im ỉm thế kia, tan chầu rồi cũng không ra nghêng đón đức vua. Ôi, Tất cả cũng chỉ để hướng về bên trong vườn xuân ấy, há chẳng nghe thấy tiếng cười nói trong hoa đó hay sao ?! ( Nếu ta cũng lẫn vào trong đó, thì cũng chỉ thêm một tiếng cười nói tầm thường vô nghĩa mà thôi ! ).

          Nỗi oán hận âm ỉ trở nên bất bạo động, thay vì phải mở cửa để giả lả chào đón vua khi tan chầu, để mong có may mắn được nhà vua dòm dõ tới hay chăng. Đằng nầy nàng đóng kín cửa không thèm chào đón vua, vì nàng biết rằng chào đón cũng chẳng hề được vua đoái hoài, và như tất cả những cung nữ mơ mộng được vua thương đổ về nói nói cười cười trong vườn Thượng Uyển cũng vô ích mà thôi ! Nàng cao ngạo hờn lẫy âm thầm đóng kín cửa chịu đựng với số phận hẩm hiu của mình, chớ không " Bực mình muốn đạp tiêu phòng mà ra " như nàng cung nữ của Ôn Như Hầu.

 

             

DIỄN NÔM :

                           BAN TIỆP DƯ

 

                     Quái lạ, sao đóng cửa,

                     Tan chầu chẳng tiếp nghinh.

                     Trong đám xuân viên đó,

                     Thêm chi một chút tình !

   Lục bát :

                  Lạ lùng sao cửa đóng im,

                  Tan chầu nàng cũng chẳng thèm tiếp nghinh.

                  Hướng về vườn Ngự hoa xinh,

                  Trong hoa cười nói chút tình như không ! 

 

                                                        Đỗ Chiêu Đức

 DCD_Cungoan_6.jpg

Bản viết tay bài BAN TIỆP DƯ của Vương Duy năm 1972.

                                                                           ĐCĐ.

 

4.                        TƯ QUÂN ÂN

                                      Lệnh Hồ Sở                           
 

                

 

            思君恩                          TƯ QUÂN ÂN

         小苑鶯歌歇,           Tiểu uyển oanh ca yết,

         長門蝶舞多。           Trường Môn Điệp vũ đa.

         眼看春又去,           Nhỡn khan xuân hựu khứ,

         翠輦不曾過。           Thúy liễn bất tằng qua.
                   令狐楚                               Lệnh Hồ Sở

 

CHÚ THÍCH :

      Tiểu Uyển : là Vườn Hoa nhỏ. Thượng Uyển là Vườn Hoa lớn của vua chúa dạo chơi ngắm hoa.

      Yết : là Nghỉ ngơi, là Hết, là Chấm dứt.

      Trường Môn : là Cung Trường Môn, nơi Trần Hoàng Hậu đời Tây Hán ở khi bị thất sủng.

      Thúy Liễn : là Xe màu xanh biếc của Vua đi do dê kéo.

 

NGHĨA BÀI THƠ :

                      NHỚ LÚC ĐƯỢC HƯỞNG ƠN VUA

         Trong vườn hoa nhỏ nhoi nầy chim oanh đã ngừng hót, nhưng ở cung Trường Môn thì bướm lại bay lượn rất nhiều. Mắt trông mùa xuân lại đi qua rồi mà xe vua thì vẫn bằn bặc chẳng thấy tăm dạng đâu cả !

         Cô đơn chiếc bóng mòn mõi đợi chờ, uổng phí cả thanh xuân !.... Bướn chỉ lượn ở cung Trường Môn, còn oanh thì đã ngừng hót, một mùa xuân nữa lại đi qua, một lần nữa lại đánh mất tuổi xuân một cách oan uổng trong lãnh cung buồn thảm ! Càng trông đợi vua thì càng chẳng thấy dấu xe vua. Tình ý thiết tha mà kín đáo, không trắng trợn lộ liễu như nàng cung nữ của Ôn Như Hầu :

                  Tình rầu rĩ khôn khuây nhĩ mục,

                  Chốn phòng không như giục mây mưa !

 

         


 DIỄN NÔM :

                                NHỚ ƠN VUA

                       Vườn nhỏ oanh đà ngừng hót,

                       Trường Môn bướm lại lượn đua.

                       Xuân tàn đi qua trước mắt,

                       Vẫn nào thấy bóng xe vua !

     Lục bát :

                    Oanh đà ngưng hót trong vườn,

                    Bướm còn bay lượn Trường Môn dập dìu.

                    Mắt trông xuân đã tiêu điều,

                    Xe vua nào thấy nghe nhiều đợi mong !

                                                             

                                                            Đỗ Chiêu Đức   

                  DCD_cungoan_7.jpg 

         Bản viết tay bài TƯ QUÂN ÂN của Lệnh Hồ Sở năm 1972 .

                                                                    Đỗ Chiêu Đức

_______________________________________________________________________________________________________ 

 

  TRƯỜNG TÍN CUNG

                                 Mạnh Trì

         MẠNH TRÌ 孟遲, Tự là Trì Chi. Trong Toàn Đường Thi Tập gọi là Thăng Chi. Theo Văn Hiến Thông Khảo thì tên là MẠNH ĐẠT 孟達, tự là Thúc Chi. Không rõ năm sanh và mất, chỉ biết ông là người sống dưới thời vua Đường Tuyên Tôn  ( khoảng trước sau những năm 859 ), ở xứ Bình Xương. Ông nổi tiếng về thơ Tuyệt Cú, là bạn thơ mà cũng là bạn cùng khoa Tiến Sĩ với Cố Phi Hùng năm Hội Xương thứ 5 ( 845 ), rất thân với Đỗ Mục. Khi ông đến Trì Châu, Đỗ Mục có làm thơ đưa tiễn.

          Sau đây là một bài thơ Cung Oán tuyệt cú của ông.

DCD_TruongTinCung_1.jpg 

      長信宫                      TRƯỜNG TÍN CUNG

   君恩已盡欲何歸 ?       Quân ân dĩ tận dục hà qui ?

   猶有殘香在舞衣。       Do hữu tàn hương tại vũ y.

   卻恨身輕不如燕,       Khước hận thân khinh bất như yến,

   春来還繞御簾飛。       Xuân lai hoàn nhiễu ngự liêm phi.

                  孟遲                                            Mạnh Trì

 

CHÚ THÍCH :

      Tàn Hương : là Hương Tàn, là Hương Thừa còn sót lại.

      Khước Hận : là Lại hận rằng, là Chỉ hận.

      Thân Khinh Bất Như Yến : Cái thân mình nhẹ không bằng chim én, Ý muốn nói là Mình không giống được như chim én.

      Nhiễu : là Vòng quanh, là Lượn quanh.

      Ngự Liêm : là Rèm Vua, là Tấm rèm nơi vua ở.

 

NGHĨA BÀI THƠ :

           Ơn vua đã cạn hết rồi, bây giờ biết phải về đâu đây ? Chỉ còn lại chút hương thừa trong vũ y mà thôi. Chỉ tự hận rằng thân mình không được nhẹ như chim én để sang xuân lại bay vòng vào rèm của vua đang ngự.

            Trong Trường Tín Oán của Vương Xương Linh thì nàng cung nữ than là " Ngọc nhan bất cập hàn nha sắc " ( Vẻ ngọc không bằng con qụa lạnh !). Còn trong bài nầy thì nàng cung nữ của Mạnh Trì than là " Khước hận thân khinh bất như yến " ( Hận thân mình chẳng nhẹ như chim én !). Chỉ có một chút nắng ở điện Chiêu Dương thôi mà cũng ước ao có được. Một con én không làm nên mùa xuân, mà cũng ước ao được như én, để khi xuân đến bay vào rèm vua để... thấy mặt vua mà thôi, chứ vua có yêu ..." chim én " bao giờ đâu ?! Vua chỉ biết yêu người đẹp mà thôi !

          Rõ ngớ ngẩn và tội nghiệp cho các nàng cung nữ trong cung bị thất sủng vô cùng !!!

                     Một mình đứng tủi ngồi sầu, 
                           Đã than với nguyệt lại rầu với hoa.

        và...

                     Khi trướng ngọc, lúc rèm ngà, 
                           Mảnh xuân y hãy sờ sờ dấu phong.

                                                            Cung Oán Ngâm Khúc

DCD_TruongTin_2.jpg 

DIỄN NÔM :

                      CUNG TRƯỜNG TÍN

 

                  Ơn vua thôi hết biết về đâu ?

                  Còn chút hương thừa áo vũ sầu.

                  Chỉ hận thân mình không giống én,

                  Đến xuân rèm ngự lại bay chầu !

    Lục bát :

                  Ơn vua đã hết về đâu ?

                  Tàn hương còn lại thêm sầu áo xiêm.

                  Hận thân chẳng nhẹ như chim,

                  Xuân về bay trở lại rèm chầu vua !

                  

                                                     Đỗ Chiêu Đức

 

 

TIẾT TRÙNG CỮU

                   Lễ Ông Bà ngày xưa của ta

 

         Sau Tết Trung Thu là Tết Trùng Cữu, chữ Tết do chữ Tiết đọc trại ra mà thành. TIẾT 節 là Thời Tiết 時節 chỉ Khí hậu có liên quan đến mùa màng. TIẾT cũng có nghiã là ngày Lễ Tết trong năm. Một năm có mấy cái Tết lớn. Nguyên Đán là cái

 Tết lớn nhất mở đầu cho một năm nằm trong tháng Giêng, Thanh Minh là Tết nằm trong tháng 3, Đoan Ngọ là Tết của tháng 5, Tháng 8 thì có Tết Trung Thu và Tháng 9 thì ta có Tết Trùng Cữu.

         Trùng Cữu, Trùng là Trùng lắp, là lặp lại. Cữu là số 9. Nên Trùng Cữu 重九 là 2 số 9 được lặp lại, tức là ngày mùng 9 tháng 9 Âm lịch. Theo Kinh Dịch thì số 9 thuộc Dương, nên Trùng Cữu còn được gọi là Trùng Dương 重陽. Đây là cái Lễ tiết cuối cùng sau mùa thu hoạch, rồi trời sẽ trở lạnh để vào đông cho đến Tiết Đông Chí về, sẽ lại chuẩn bị để đón mừng năm mới !

web_dcd_trungcuu_1_2.jpg 

 

                
       

          Ngoài việc được gọi là Tiết Trùng Dương 重陽節 ra, Trùng Cữu còn được gọi là Tiết Đạp Thu 踏秋節, có nghĩa là Đạp lên lá vàng khô của mùa Thu, tức là Đi dạo chơi trong mùa Thu trước khi trời trở lạnh. Trong dân gian xưa còn gọi ngày này là Ngày Của Người Già : LÃO NHÂN TIẾT 老人節 hoặc KÍNH LÃO TIẾT 敬老節. Có thể là do sau khi mùa màng được thu hoạch vào mùa Thu, con cháu có nhiều món ngon vật quý để dâng hiến cho Ông Bà, hoặc đã có tiền để chăm lo săn sóc đến đời sống của Ông Bà hơn. Khi ông bà cha mẹ già đã quá cố, thì con cháu cũng nhân dịp Đạp Thu mà kéo nhau lên núi để Tảo Mộ  ( Ở những nơi có đồi núi thì người chết được chôn cất ở trên cao, vùng đồng bằng để trồng trọt canh tác. Cho nên ta thấy Cụ Nguyễn Du tả cảnh Tảo mộ của Tiết Thanh Minh là : " Ngổn ngang gò đống kéo lên, Thoi vàng hồ rắc tro tiền giấy bay, là thế ! ). Vì vậy, mà Tiết Trùng Cữu còn được gọi là Tiết ĐĂNG CAO 登高節. Ngoài ra, Tiết Trùng Cữu cón được gọi là Tiết THÙ DU 茱萸節, Tiết CÚC HOA 菊花節....

 web_DCD_cherry.jpg

                          Cây lá và trái Thù Du  ( trái cherry ở Mỹ )

 

        THÙ DU là loại cây ăn trái được thu hoạch vào khoảng cuối tháng 6. Cây lá có tính sát trùng tiêu độc, ngừa phong đón gió, nên trong ngày Lễ Trùng Cữu dân gian hay bẻ một nhánh lá nhỏ giắt bên mình để " trừ tà ", để được bình an khoẻ mạnh nên ngày lễ nầy còn được gọi là Tiết Thù Du là vì thế.   

    web_DCD_hoacuc.jpg               

       Hoa Cúc và tục lệ uống rượu Cúc trong ngày Trùng Cữu

 

        Trong bài thơ " Bốn mùa ăn chơi " của người xưa thì câu thứ 3 là " Thu ẩm Hoàng Hoa tữu ". Hoàng Hoa tức là Hoa Cúc đó, loại hoa có màu vàng và nở vào mùa thu, nên được dùng để ủ rượu uống cho ấm vào những ngày cuối thu lạnh lẽo nầy, để ngừa cảm cúm, như ta chích " flu shot " vào mùa nầy ở Mỹ vậy ! Nên Tiết Trùng Cữu còn được gọi là Tiết Cúc Hoa là vì  thế !

         Theo truyền thuyết thì ...

         Vào thời Nam Bắc Triều, người của Nam Triều là Ngô Quân Chi thuộc nước Lương, ghi trong " Tục Tề Hài Ký " rằng :

 Đời Đông Hán, ở huyện Nhữ Nam có một người tên là Hoàn Cảnh, cha mẹ đều chết vì bệnh ôn dịch ở cuối thu, nên anh ta quyết định lên núi tầm sư học đạo để trừ ôn dịch ôn thần. Đạo nhân Phí Trường Phòng dạy cho phép tiên dưỡng sinh và y học. Một năm, sau Trung Thu, đạo nhân gọi Hoàn Cảnh đến mà bảo rằng : mùng 9 tháng 9 năm nay, ôn thần lại đến gieo rắc bệnh dịch, con hãy về quê mà cứu nhân độ thế. Nói đoạn bèn trao cho anh ta một cây Thanh Long Kiếm, một bao lá Thù Du và một bình Rượu Cúc, căn dặn mọi người phải lên cao mà tránh nạn.

         Đến hôm mùng 9 tháng 9, Hoàn Cảnh gọi hết bà con lối xóm cùng đăng cao lên núi, giắt cho mỗi người một lá Thù Du và uống một ly rượu Cúc, rồi đơn thân độc mã đứng chặn ở sườn núi, chiến đấu và tiêu diệt ôn thần. Từ đó về sau không ai còn bị chết về bịnh dịch nữa, và cũng từ đó về sau mới có tục Đăng Cao, cài lá Thù Du lên áo và uống rượu Cúc trong ngày Tiết Trùng Cữu cho đến hiện nay.

 web_DCD_TrungCuuXuaNay.jpg

                     Trùng Cữu xưa          Trùng Cữu nay

 

     Trong văn học, nhất là trong Đường Thi, ngày Trùng Cữu luôn luôn được nhắc đến một cách thân thiết gần gũi qua các thi nhân nổi tiếng như Lưu Trường Khanh với ...   

 

      九日登李明府北樓 CỮU NHẬT ĐĂNG LÝ MINH PHỦ BẮC LÂU

          九月登高望,          Cữu nguyệt đăng cao vọng,

          蒼蒼遠樹低。          Thương thương viễn thọ đê.

          人煙湖草裡,          Nhân yên hồ thảo lý,

          山翠現樓西。          Sơn thuý hiện lầu tê. ( tây )

                       劉長卿                        Lưu Trường Khanh

Diễn nôm :

                  NGÀY CHÍN LÊN BẮC LÂU CỦA LÝ MINH PHỦ

                          Tháng chín lên cao ngắm,

                          Xanh xanh cây cỏ xa.

                          Hồ mờ sương người vắng,

                          Lầu tây núi biếc nhòa !

                                                 Đỗ Chiêu Đức diễn nôm 

 

                  Còn Thi tiên Lý Bạch với ...

 

         九月十日即事      CỮU NGUYỆT THẬP NHẬT TỨC SỰ

          昨日登高罷,           Tạc nhật đăng cao bãi

          今朝再舉觴。           Kim triêu tái cử trường.

          菊花何太苦,           Cúc hoa hà thái khổ,

          遭此兩重陽。           Tao thử lưỡng Trùng Dương .                      李白                                       Lý Bạch

Chú Thích :

          Mùng 9 tháng 9 gọi là Tiết Trùng Dương, hái hoa cúc, uống rượu cúc, nhưng...

          Mùng 10 tháng 9 gọi là Tiểu Trùng Dương, lại hái hoa cúc, lại uống rượu cúc.

          Chỉ trong hai ngày, hoa cúc BỊ HÁI, BỊ VÙI DẬP đến 2 lần. Lý Bạch ví thân phận đi đày của mình giống như là hoa cúc liên tiếp bị vùi dập vậy, nên mới hạ 2 câu cuối là : " Cúc hoa hà thái khổ, Tao thử lưỡng Trùng Dương ". Có nghĩa : Hoa Cúc sao mà lại khổ thế, phải gặp cái nạn của 2 lễ Trùng Dương nầy !

          KHỔ 苦 là Khổ sở, Cực