ptan_ongdo.jpgTIẾNG HÁN CỔ

với ông đồ

ĐỖ CHIÊU ĐỨC

CHS Phan Thanh Giản

Nguyên GS Trung Học Tân Hưng (Cái Răng)

Nguyên Giảng Viên Hán Văn ĐH KHXHNV (SG)

__________________________________________________________________________

 

DU SƠN TÂY THÔN

 

DCD_Duson_1.jpg 

                  

             Sơn cùng thuỷ tận nghi vô lộ,         山窮水盡疑無路,

             Liễu ám hoa minh hựu nhất thôn !  柳暗花明又一村!

Có nghĩa :

     Núi đã cùng, nước đã tận, ngỡ là đã cùng đường rồi, không ngờ phía trước lại có ... Liễu xanh om hoa rực rỡ lại đưa ta đến một thôn làng khác nữa !

     Câu nầy còn dùng để chỉ : Những việc tưởng đâu đã hết hi vọng rồi, nào ngờ lại mở ra được hướng giải quyết mới còn tốt hơn là cơ hội cũ nữa ! Ta hay đọc thấy câu nầy trong  các truyện xưa, nhất là trong các truyện võ hiệp kỳ tình Trung Hoa :

                 Non cùng nước cạn ngờ vô lối,

                 Liễu biếc hoa hương lại một thôn !

 

     Thực ra đó là 2 câu Thực trong bài Du Sơn Tây Thôn của Lục Du đời Tống. Hai câu thơ đó nguyên là :

 

        山重水復疑無路, Sơn trùng thuỷ phục nghi vô lộ,        

        柳暗花明又一村。 Liễu ám hoa minh hựu nhất thôn.          

 

       Nhưng trong THIÊN GIA THI 千家詩 đã chép sai  " Sơn Trùng Thủy Phục 山重水復 " thành " Sơn Cùng Thủy Tận 山窮水盡 " là câu nói quen miệng của dân gian. Hai cách nói nầy khác nhau rất xa, nếu ta phân tích theo văn chương, còn đối với giới bình dân thì cho là " Ý nghĩa của NÓ cũng tương đương với nhau " mà thôi !

 

     * SƠN TRÙNG THUỶ PHỤC 山 重 水 復 : SƠN TRÙNG là Núi trùng trùng điệp điệp, hết núi nầy đến núi khác, nên ở xa nhìn thì thấy toàn núi là núi. THỦY PHỤC là Hết dòng nước nầy đến dòng nước khác, nên nhìn thấy toàn nước là nước.

        Vì NÚI và NƯỚC trùng phục ở trước mặt, cho nên mới NGHI VÔ LỘ 疑 無 路 : là " Ngỡ là đã hết đường đi rồi ". Nên mở ra câu sau rất thú vị không ngờ là :

         Liễu ám hoa minh hựu nhất thôn !  柳暗花明又一村!

  Còn nếu là ...

     * SƠN CÙNG THỦY TẬN 山窮水盡 : là Núi đã Cùng đường rồi, Nước cũng đã tận cùng rồi, là ở nơi Cuối Đất Cùng Trời rồi, thì đâu có NGHI VÔ LỘ nữa, mà là CHUNG VÔ LỘ 終無路 là Rốt cuộc đã " Hết Đường Đi Thật rồi !" thì làm sao còn có câu sau là : Liễu ám hoa minh hựu nhất thôn  柳暗花明又一村 cho được !

 

        Bây giờ thì ta hãy đọc toàn bài thơ của bài Du Sơn Tây Thôn này nhé :

 

    遊 山 西 村                     Du Sơn Tây Thôn

莫 笑 農 家 臘 酒 渾,    Mạc tiếu nông gia lạp tửu hồn,            

豐 年 留 客 足 雞 豚。    Phong niên lưu khách túc kê đồn      

山 重 水 復 疑 無 路,    Sơn trùng thuỷ phúc nghi vô lộ        

柳 暗 花 明 又 一 村。    Liễu ám hoa minh hựu nhất thôn         

簫 鼓 追 隨 春 社 近,    Tiêu cổ truy tuỳ xuân xã cận   

衣 冠 簡 樸 古 風 存。    Y quan giản phác cổ phong tồn           

從 今 若 許 閑 乘 月,    Tòng kim nhược hứa nhàn thừa nguyệt         

拄 杖 無 時 夜 叩 門。    Trụ trượng vô thì dạ khấu môn.          

                    陸 游                                      Lục Du

DCD_duson_2.jpg 

 

        CHÚ THÍCH :           

    * LẠP TỬU : Lạp là Tháng Mười Hai Âm Lịch, ta đọc trại thành Thánh CHẠP, nên Lạp Tửu là rượu của tháng Chạp, rượu được ủ để uống vào dịp Tết Âm Lịch.

    * PHONG NIÊN 豐 年 : là Năm Được Mùa.

    * KÊ ĐỒN : Kê là Gà, Đồn là Heo.

    * XUÂN Xà春 社 : là Ngày Mậu Nhựt thứ 5 sau tiết Lập Xuân làm ngày XUÂN Xà để cúng tế Thần Làng, như ta cúng Đình Làng vậy, để cầu cho sang năm lại được trúng mùa. Vì thế mà có thổi tiêu đánh trống ...

     * 從 今 若 許 閑 乘 月 Tòng kim nhược hứa nhàn thừa nguyệt : là Từ nay về sau nếu như có rảnh rổi thì hay thừa lúc trăng sáng ...

     * 拄 杖 無 時 夜 叩 門 Trụ trượng vô thì dạ khấu môn : là Hãy chống gậy mà đến gỏ cửa nhà ta bất cứ lúc nào trong đêm ( cũng hổng sao !). VÔ THÌ : là Bất cứ lúc nào.

 

NGHĨA BÀI THƠ : 

                         Dạo Chơi Thôn Xóm Núi Tây

          Xin đừng cười chê thứ rượu tế lễ không được trong của nhà nông trong tháng Chạp. Năm nay được mùa, nên giữ khách lại, đủ cả heo gà để đãi khách. Đừng vì núi liền với núi sông liền với sông mà ngỡ rằng đã không còn đường để đi tới, vì thấp thoáng trong bóng râm rặng liễu và khóm hoa tươi đẹp rực rỡ phía trước sẽ lại mở ra một thôn làng mới. Trống tiêu như giục giã vì ngày tế lễ đầu xuân đang gần kề. Áo mũ giản dị nhưng vẫn theo tục lệ cũ còn giữ lại. Từ nay về sau nếu như có rảnh rổi thì cứ thừa lúc trăng sáng ... Hãy chống gậy mà đến gỏ cửa nhà ta bất cứ lúc nào trong đêm ( cũng hổng sao, vì ta luôn luôn sẵn sàng đón tiếp ! )

 

        Đây là cảnh nông dân ăn Tết ở Tây Thôn là một làng miền núi của một năm được mùa, chất phác chân thật mà nhiệt tình của đời sống thôn dã sau một năm cày sâu cuốc bẫm.

 DCD_Duson_3.jpg

            DIỄN NÔM :

 

                       DẠO NÚI XÓM TÂY

 

                Thôn dã chớ cười rượu nhạt phèo,

                Cuối năm đãi khách sẵn gà heo.

                Núi liền sông nước ngờ vô lối,

                Liễu rũ đường hoa đến xóm nghèo.

                Tiêu trống rộn ràng Xuân Xã đến,

                Áo xiêm giản dị cổ phong theo.

                Từ nay nếu rảnh đêm trăng sáng,

                Gỏ cửa cùng vui gậy khẳng kheo.

 Lục bát :

                Chớ cười rượu lễ nhạt phèo,

                Được mùa đãi khách gà heo sẵn sàng.

                Non liền nước ngỡ hết đàng,

                Hoa chào liễu đón thôn làng lại sang.

                Trống tiêu xuân xã rộn ràng,

                Tục xưa áo mão nghiêm trang chỉnh tề.

                Từ nay trăng sáng đi về,

                Thăm nhau gỏ cửa chẳng nề đêm thâu.

 

                                                    Đỗ Chiêu Đức   

        

DCD_LucDu.jpg

Lục Du 陸 游 (1125─1210), tự là Vụ Quan 務觀, hiệu là Phóng Ông 放翁, là nhà thơ rất nổi tiếng thời Nam Tống. Hoạn lộ thăng trầm, tình duyên trắc trở. Ông chủ trương kháng Kim đến cùng, chống đối lại với phái hòa Kim, vì thế mà bị bãi quan lúc mới có 42 tuổi, nên có nhiều bài thơ mang tâm trạng ưu thời mẫn thế như Đỗ Phủ hay tình cảm phóng túng lãng mạn như Lý Bạch. Ông có bài Từ "Vịnh Mai" rất sâu sắc, tỏ chí khí quật cường. Du Sơn Tây Thôn là một trong những bài thơ hay để đời của ông trong số 9300 bài vừa từ vừa thơ mà ông còn để lại.

 

                                                        Đỗ Chiêu Đức


DU SƠN TÂY THÔN

                  

             Sơn cùng thuỷ tận nghi vô lộ,         山窮水盡疑無路,

             Liễu ám hoa minh hựu nhất thôn !  柳暗花明又一村!

Có nghĩa :

     Núi đã cùng, nước đã tận, ngỡ là đã cùng đường rồi, không ngờ phía trước lại có ... Liễu xanh om hoa rực rỡ lại đưa ta đến một thôn làng khác nữa !

     Câu nầy còn dùng để chỉ : Những việc tưởng đâu đã hết hi vọng rồi, nào ngờ lại mở ra được hướng giải quyết mới còn tốt hơn là cơ hội cũ nữa ! Ta hay đọc thấy câu nầy trong  các truyện xưa, nhất là trong các truyện võ hiệp kỳ tình Trung Hoa :

                 Non cùng nước cạn ngờ vô lối,

                 Liễu biếc hoa hương lại một thôn !

 

     Thực ra đó là 2 câu Thực trong bài Du Sơn Tây Thôn của Lục Du đời Tống. Hai câu thơ đó nguyên là :

 

        山重水復疑無路, Sơn trùng thuỷ phục nghi vô lộ,        

        柳暗花明又一村。 Liễu ám hoa minh hựu nhất thôn.          

 

       Nhưng trong THIÊN GIA THI 千家詩 đã chép sai  " Sơn Trùng Thủy Phục 山重水復 " thành " Sơn Cùng Thủy Tận 山窮水盡 " là câu nói quen miệng của dân gian. Hai cách nói nầy khác nhau rất xa, nếu ta phân tích theo văn chương, còn đối với giới bình dân thì cho là " Ý nghĩa của NÓ cũng tương đương với nhau " mà thôi !

 

     * SƠN TRÙNG THUỶ PHỤC 山 重 水 復 : SƠN TRÙNG là Núi trùng trùng điệp điệp, hết núi nầy đến núi khác, nên ở xa nhìn thì thấy toàn núi là núi. THỦY PHỤC là Hết dòng nước nầy đến dòng nước khác, nên nhìn thấy toàn nước là nước.

        Vì NÚI và NƯỚC trùng phục ở trước mặt, cho nên mới NGHI VÔ LỘ 疑 無 路 : là " Ngỡ là đã hết đường đi rồi ". Nên mở ra câu sau rất thú vị không ngờ là :

         Liễu ám hoa minh hựu nhất thôn !  柳暗花明又一村!

  Còn nếu là ...

     * SƠN CÙNG THỦY TẬN 山窮水盡 : là Núi đã Cùng đường rồi, Nước cũng đã tận cùng rồi, là ở nơi Cuối Đất Cùng Trời rồi, thì đâu có NGHI VÔ LỘ nữa, mà là CHUNG VÔ LỘ 終無路 là Rốt cuộc đã " Hết Đường Đi Thật rồi !" thì làm sao còn có câu sau là : Liễu ám hoa minh hựu nhất thôn  柳暗花明又一村 cho được !

 

        Bây giờ thì ta hãy đọc toàn bài thơ của bài Du Sơn Tây Thôn này nhé :

 

    遊 山 西 村                     Du Sơn Tây Thôn

莫 笑 農 家 臘 酒 渾,    Mạc tiếu nông gia lạp tửu hồn,            

豐 年 留 客 足 雞 豚。    Phong niên lưu khách túc kê đồn      

山 重 水 復 疑 無 路,    Sơn trùng thuỷ phúc nghi vô lộ        

柳 暗 花 明 又 一 村。    Liễu ám hoa minh hựu nhất thôn         

簫 鼓 追 隨 春 社 近,    Tiêu cổ truy tuỳ xuân xã cận   

衣 冠 簡 樸 古 風 存。    Y quan giản phác cổ phong tồn           

從 今 若 許 閑 乘 月,    Tòng kim nhược hứa nhàn thừa nguyệt         

拄 杖 無 時 夜 叩 門。    Trụ trượng vô thì dạ khấu môn.          

                    陸 游                                      Lục Du

 

        


CHÚ THÍCH :           

    * LẠP TỬU : Lạp là Tháng Mười Hai Âm Lịch, ta đọc trại thành Thánh CHẠP, nên Lạp Tửu là rượu của tháng Chạp, rượu được ủ để uống vào dịp Tết Âm Lịch.

    * PHONG NIÊN 豐 年 : là Năm Được Mùa.

    * KÊ ĐỒN : Kê là Gà, Đồn là Heo.

    * XUÂN Xà春 社 : là Ngày Mậu Nhựt thứ 5 sau tiết Lập Xuân làm ngày XUÂN Xà để cúng tế Thần Làng, như ta cúng Đình Làng vậy, để cầu cho sang năm lại được trúng mùa. Vì thế mà có thổi tiêu đánh trống ...

     * 從 今 若 許 閑 乘 月 Tòng kim nhược hứa nhàn thừa nguyệt : là Từ nay về sau nếu như có rảnh rổi thì hay thừa lúc trăng sáng ...

     * 拄 杖 無 時 夜 叩 門 Trụ trượng vô thì dạ khấu môn : là Hãy chống gậy mà đến gỏ cửa nhà ta bất cứ lúc nào trong đêm ( cũng hổng sao !). VÔ THÌ : là Bất cứ lúc nào.

 

NGHĨA BÀI THƠ : 

                         Dạo Chơi Thôn Xóm Núi Tây

          Xin đừng cười chê thứ rượu tế lễ không được trong của nhà nông trong tháng Chạp. Năm nay được mùa, nên giữ khách lại, đủ cả heo gà để đãi khách. Đừng vì núi liền với núi sông liền với sông mà ngỡ rằng đã không còn đường để đi tới, vì thấp thoáng trong bóng râm rặng liễu và khóm hoa tươi đẹp rực rỡ phía trước sẽ lại mở ra một thôn làng mới. Trống tiêu như giục giã vì ngày tế lễ đầu xuân đang gần kề. Áo mũ giản dị nhưng vẫn theo tục lệ cũ còn giữ lại. Từ nay về sau nếu như có rảnh rổi thì cứ thừa lúc trăng sáng ... Hãy chống gậy mà đến gỏ cửa nhà ta bất cứ lúc nào trong đêm ( cũng hổng sao, vì ta luôn luôn sẵn sàng đón tiếp ! )

 

        Đây là cảnh nông dân ăn Tết ở Tây Thôn là một làng miền núi của một năm được mùa, chất phác chân thật mà nhiệt tình của đời sống thôn dã sau một năm cày sâu cuốc bẫm.

 

            

 

DIỄN NÔM :

 

                       DẠO NÚI XÓM TÂY

 

                Thôn dã chớ cười rượu nhạt phèo,

                Cuối năm đãi khách sẵn gà heo.

                Núi liền sông nước ngờ vô lối,

                Liễu rũ đường hoa đến xóm nghèo.

                Tiêu trống rộn ràng Xuân Xã đến,

                Áo xiêm giản dị cổ phong theo.

                Từ nay nếu rảnh đêm trăng sáng,

                Gỏ cửa cùng vui gậy khẳng kheo.

 Lục bát :

                Chớ cười rượu lễ nhạt phèo,

                Được mùa đãi khách gà heo sẵn sàng.

                Non liền nước ngỡ hết đàng,

                Hoa chào liễu đón thôn làng lại sang.

                Trống tiêu xuân xã rộn ràng,

                Tục xưa áo mão nghiêm trang chỉnh tề.

                Từ nay trăng sáng đi về,

                Thăm nhau gỏ cửa chẳng nề đêm thâu.

 

                                                    Đỗ Chiêu Đức   

        Lục Du 陸 游 (1125─1210), tự là Vụ Quan 務觀, hiệu là Phóng Ông 放翁, là nhà thơ rất nổi tiếng thời Nam Tống. Hoạn lộ thăng trầm, tình duyên trắc trở. Ông chủ trương kháng Kim đến cùng, chống đối lại với phái hòa Kim, vì thế mà bị bãi quan lúc mới có 42 tuổi, nên có nhiều bài thơ mang tâm trạng ưu thời mẫn thế như Đỗ Phủ hay tình cảm phóng túng lãng mạn như Lý Bạch. Ông có bài Từ "Vịnh Mai" rất sâu sắc, tỏ chí khí quật cường. Du Sơn Tây Thôn là một trong những bài thơ hay để đời của ông trong số 9300 bài vừa từ vừa thơ mà ông còn để lại.

 

                                                        Đỗ Chiêu Đức

 

______________________________________________________________________________________________ 



Mấy Vần Thơ Thẩn Đầu Thu

 

Cảm Thu

Trời trong gió nhẹ sớm mai,

Một mình thức giấc rèm ngoài nhìn ra.

Ô , nàng thu đã thướt tha,

Một trời thu đẹp la đà quanh đây !

 

 

Vì Đâu ?

Ri rỉ vì ai dế rỉ sầu ?

Vì ai én liệng bởi vì đâu ?

Vì đâu bướm mãi vờn hoa rụng ?

Hoa rụng vì ai vẫn mãi sầu !!

 

Nắng Chiều

Hoa lá buồn thiu dưới nắng chiều,

Lạnh lùng giọt nắng ngã xiêu xiêu.

Không hồn chân bước nghe xa vắng,

Mây trắng ngừng trôi giữa nắng chiều !

 

Chiều Lên Đồi

Bóng chiều bảng lảng sầu dâng,

Lên cao lặng ngắm mênh mông núi đồi.

Chiều thu đẹp muốn chết người,

Hoàng hôn quê cũ ngậm ngùi hoàng hôn !

 

Vườn Thu

Vườn thu hoa lá trăng soi,

 Im lìm ghế đá hiên ngoài nằm trơ.

Tóc xanh giờ đã bạc phơ,

Nghẹn ngào xao xuyến hồn thơ lạnh lùng !

 

Một Tuần

Lịch bay như lá vàng bay,

Một tuần theo lá  lịch dày mỏng đi.

Lịch bay mấy vạn qua thì,

Qua thì thì qúa  qúa thì vẫn yêu !

 

Bóng Thời Gian

Nắng sáng lóe lên chiều lại tắt,

Thứ Hai qua lật đật cuối tuần.

Thu tàn đông hết lại xuân,

Hè qua thu đến bâng khuâng mắt già !

 

Gặp Người

Người xưa giờ đã da mồi,

Đâu rồi ánh mắt bồi hồi nhìn nhau.

Má hồng xưa thẹn đỏ au,

Giờ đà nhăn nhíu theo màu thời gian !

 

Nhật Tụng

Ngồi nhàn ôn lại chuyện xưa,

Thị phi thành bại như vừa xảy ra.

Khoan dung từ ái vị tha,

Thứ người mà cũng thứ ta khác gì !

 

Tuổi Thu

 Đường đời sau bảy mươi thu,

Tòng tâm sở dục ôn nhu thuận hòa.

Giờ thì đã hết bôn ba,

An nhàn tùy cảnh ấy là thần tiên !

 

Đỗ Chiêu Đức

( Houston thu 2018)

 

VÔ NGÔN THÔNG 

                              Đốn Ngộ

dcd_vongonthong_1.jpg 

                        

 

         VÔ NGÔN THÔNG ( 無言通 ), 759?-826, là một vị Thiền sư Trung Quốc, đệ tử của Thiền sư nổi tiếng Bách Trượng Hoài Hải.

         Sư họ Trịnh 鄭, quê ở Quảng Châu 廣州, xuất gia tại chùa Song Lâm 雙林寺, Vụ Châu 務州. Tính tình sư điềm đạm ít nói, nhưng thông minh nên người đời gọi là Vô Ngôn Thông 無言通 (Cảnh Đức Truyền đăng lục ghi là Bất Ngôn Thông 不言通).  

        Một hôm, sư lễ Phật, có một thiền khách hỏi: "Toạ chủ lễ đó là ai?", sư thưa: "Là Phật." Khách liền chỉ tượng Phật hỏi: "Đây là Phật gì?", sư không trả lời được. Đến tối, sư y phục chỉnh tề đến lễ vị khách, vị này chỉ đến Mã Tổ. Sư lên đường đến Mã Đại sư nhưng nghe tin Tổ đã viên tịch bèn đến Bách Trượng. Nhân nghe Bách Trượng trả lời một vị tăng khác là " Nếu giữ bản tâm ta được tịnh không, thì mặt trời trí huệ tự nhiên sẽ chiếu đến " (tâm địa nhược không, huệ nhật tự chiếu 心地若空惠日自照) sư bỗng triệt ngộ ( giác ngộ một cách triệt đễ ). 

         Năm 820 ( Canh Tí ), niên hiệu Nguyên Hoà đời nhà Đường, Sư sang An Nam ở chùa Kiến Sơ làng Phù Đổng, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Ở đây mấy năm liền Sư chỉ quay mặt vào vách toạ thiền và không ai biết tông tích của Sư. Vị trụ trì nơi đây là Cảm Thành thầm biết Sư là Cao tăng đắc đạo nên hết sức kính trọng. Sắp sửa tịch, Sư gọi Cảm Thành đến đọc bài kệ này. Đọc xong Sư chắp tay viên tịch. Cảm Thành thiêu lấy hài cốt và xây tháp thờ trên núi Tiên Du. Sư thành lập phái thiền Vô Ngôn Thông, mất năm 826, và phái thiền của sư kéo dài được 17 thế hệ.

          Bài kệ có tên là THỊ TỊCH  示寂  là " Lời bày tỏ trước khi Viên tịch " thuộc Thiền phái VÔ NGÔN THÔNG ( không cần phải dùng lời mà thông suốt tất cả ). Nguyên văn như sau :

 

       示寂                                 THỊ TỊCH
一切諸法皆從心生       Nhất thiết chư pháp giai tòng tâm sinh,
心無所生法無所住       Tâm vô sở sinh pháp vô sở trụ. 
若達心地所住無礙       Nhược đạt tâm địa sở trụ vô ngại,
非遇上根慎勿輕許       Phi ngộ thượng căn thận vật khinh hứa.



Nghĩa của bài kệ :

     Câu 1. NHẤT THIẾT là Tất cả; CHƯ PHÁP là Mọi ý niệm kể cả thiện ác; GIAI là Đều. TÒNG là từ ... Nên Câu 1 có nghĩa :

     " Tất cả mọi PHÁP đều từ lòng ta sinh ra "

     Câu 2. VÔ SỞ SINH là Không có cái được sinh ra; VÔ SỞ TRỤ là Không có cái được giữ lại. nên Câu 2 có nghĩa :

     " Nếu lòng không có cái gì được sinh ra, thì Pháp cũng không có cái gì để giữ lại " Câu nầy nghe có vẻ " huề vốn ", nhưng chính những cái nghe như đơn giản nhất là những cái mà người ta sơ hốt lơ là nhất mà không buồn nghĩ  đến cái huyền vi của nó : Ta có luôn luôn giữ được cho lòng mình " không có cái gì được sinh ra không ?". Rất khó ! Vì lòng người luôn luôn chuyển động !.

      Câu 3. NHƯỢC là Nếu như; TÂM ĐỊA là Lòng dạ ( chớ không phải " lòng đạt đất " gì gì cả !); SỞ TRỤ là Cái mà được giữ lại; VÔ NGẠI là Không có trở ngại, không có vấn đề rắc rối nào cả. Nên Câu 3 có nghĩa :

      " Nhược bằng lòng dạ đạt đến mức có thể giữ lại được tất cả những cái phát sinh mà không có trở ngại gì cả ".

      Câu 4. PHI là Trừ phi; NGỘ là gặp được; THƯỢNG CĂN là người có căn cơ thượng thừa, ta nói là " Người có căn cơ tốt ". THẬN là Thận trọng, cẩn thận; VẬT là Đừng , là Không nên; KHINH là nhẹ, là khinh suất, là tùy tiện; HỨA là Hứa hẹn, là Đồng ý, là Chấp nhận. Nên Câu 4 có nghĩa :

     " Trừ phi đó là người có căn cơ tốt và phải rất thận trọng không dễ dàng mà chấp nhận cái gì đó hoặc ai đó cả !".

 

Có nghĩa :
               Vạn pháp đều do lòng sinh ra,
               Lòng không sinh pháp giữ chi mà ?
               Nếu lòng chứa được muôn điều phát,
               Là đấng thượng căn chớ lở qua !

                                            Đỗ Chiêu Đức diễn Nôm

 

        Thiền phái Vô Ngôn Thông nhấn mạnh thuyết Đốn Ngộ 頓悟, chủ trương con người ai cũng có sẵn Phật tánh, nên đều có thể trong một phút giây nào đó bỗng nhiên giác ngộ, mà khỏi cần đi qua nhiều giai đoạn tiệm tiến tu tập lâu dài. Vô Ngôn Thông, ngay từ buổi đầu tại pháp hội của Bách Trượng, đã nghe một câu hỏi về vấn đề đốn ngộ do một vị thiền giả hỏi Bách Trượng rằng : "Pháp môn đại thừa nào có thể giúp ta đạt được giác ngộ tức khắc" ( 如何是大承頓悟法門?Như hà thị đại thừa đốn ngộ pháp môn?). Chính câu trả lời của Bách Trượng đã làm cho Vô Ngôn Thông bừng tỉnh:" Nếu giữ bản tâm ta được tịnh không, thì mặt trời trí huệ tự nhiên sẽ chiếu đến " (tâm địa nhược không, huệ nhật tự chiếu 心地若空惠日自照). 

        Đốn Ngộ 頓悟 cũng có nghĩa như câu :" Phóng hạ đồ đao lập địa thành Phật 放下屠刀立地成佛, có nghĩa : Buông con dao đồ tể (vừa sát hại sinh linh) xuống, (rồi do một cơ duyên nào đó đưa đến) là có thể thành Phật ngay tức khắc.

        Ở Việt Nam ta, những Thiền sư quan trọng của dòng thiền Vô Ngôn Thông này là Khuông Việt (?-1011), Thông Biện (?-1134), Mãn Giác (?-1096), Minh Không (mất 1141) và Giác Hải. Thế hệ cuối cùng là khoảng cuối thế kỷ 13. Phái Vô Ngôn Thông theo đúng dòng Thiền của Huệ Năng, chủ trương đốn ngộ (giác ngộ nhanh chóng). Các vị thiền sư dòng Vô Ngôn Thông đều có tâm hồn thi sĩ. Riêng thiền sư Không Lộ vừa được cho là thuộc thiền phái Vô Ngôn Thông, nhưng cũng thuộc thiền phái Thảo Đường.

 DCD_vongonthong_2.jpg

                

        Đáp lời thầy Nguyễn Văn Trường hỏi về Đốn Ngộ ...
 

Thưa Thầy,



       Câu hỏi của Thầy nằm trong Phật Môn Đại Thừa Thiền Tông ĐỐN NGỘ MÔN của Đại Châu Tuệ Hải Thiền Sư lấy TÔNG, CHỈ, THỂ, DỤNG làm lý luận nhập môn. Theo Vấn Đáp sau đây :



问:此顿悟门以何为宗。以何为旨。以何为体。以何为用?

Vấn : Thử Đốn Ngộ Môn dĩ hà vi TÔNG, dĩ hà vi CHỈ, dĩ hà vi THỂ,

         dĩ hà vi DỤNG ?

Hỏi : ĐỐN NGỘ MÔN nầy lấy gì làm TÔNG, lấy gì làm CHỈ, lấy gì

         làm THỂ, lấy gì làm DỤNG ?

 

答:以無念为宗。妄心不起为旨。以清净为体。以智为用

 

Đáp : Dĩ VÔ NIỆM vi TÔNG, VỌNG TÂM BẤT KHỞI vi CHỈ, dĩ

         THANH TỊNH vi THỂ, dĩ TRÍ vi DỤNG.

Đáp : Lấy VÔ NIỆM làm TÔNG, VỌNG TÂM BẤT KHỞI làm CHỈ, lấy THANH TỊNH làm THỂ, lấy TRÍ làm DỤNG.

 

       Bây giờ thì ta tìm hiểu từng Từ, từng Vế một :

 

    1. Lấy VÔ NIỆM làm TÔNG :

        TÔNG 宗 còn được đọc là TÔN, là cái Ý Đồ, cái Mục Đích mà ta nhắm tới, là cái Tôn Chỉ.

        VÔ NIỆM 無念 là không còn ý niệm, tạp niệm,không còn những suy nghĩ vẩn vơ. Nên ...

       " Lấy VÔ NIỆM làm TÔNG " là " Giữ lòng cho không còn những tạp niệm vẩn vơ khác mà chỉ hướng tới mục tiêu chính ( TÔNG ) mà thôi.

 

    2. VỌNG TÂM BẤT KHỞI làm CHỈ :

        CHỈ 旨  là Chiếu Chỉ, là Chỉ Thị, ở đây có nghĩa là Cách Thực Hiện, Cách Làm.

        VỌNG TÂM 妄心 là cái Lòng suy nghĩ vượt qúa lẽ thường, đòi hỏi, yêu cầu qúa đáng. BẤT KHỞI là Không trổi dậy. Nên ...

       "VỌNG TÂM BẤT KHỞI làm CHỈ " là Khi Thực Hiện tu tập phải giữ sao cho cái Vọng Tâm đừng có trổi dậy.

 

   3. Lấy THANH TỊNH làm THỂ :

       THỂ là cái Bản Thể, là cái Thực Thể Vốn Có của con người, đó chính là Phật Tánh của mỗi người.

      THANH TỊNH 清净 THANH là Trong, TỊNH là Sạch, là Yên Lành. THANH TỊNH là Rất Trong Sạch An Lành, không chút vẩn đục nào cả ! Nên ...

     " Lấy THANH TỊNH làn THỂ " là  giữ cho cái Bản Thể, Cái Phật Tánh vốn có luôn luôn trong sạch không chút vẩn đục nào cả !.

 

    4. Lấy TRÍ làm DỤNG :

        DỤNG 用 là Dùng, ở đây là Cái Trí Tuệ, cái Bát Nhã mà ta có được.

        TRÍ 智  là Trí Tuệ, là Trí lực. Nên ...

       " Lấy TRÍ làm DỤNG " là Những cái Trí Tuệ có được do cái Tâm Thanh Tịnh tác dụng sinh ra chớ không phải do Vọng Tưởng sinh ra.

 

       Nói tóm lại :

 

       ĐỐN NGỘ lấy TÔNG, CHỈ, THỂ, DỤNG làm lý luận nhập môn cũng giống như là ta muốn xây một Căn Nhà vậy :

 

     1. TÔNG là Cái Ý Định, Cái Mục Tiêu là XÂY 1 CĂN NHÀ. ( Lấy

         Vô Niệm làm TÔNG là Xây nhà thì chỉ lo xây nhà thôi đừng

         nghĩ đến xây ... cái khác nữa ! ).

     2. CHỈ là Cái Bản Vẽ chỉ CÁCH XÂY CĂN NHÀ. ( lấy Vọng Tâm

         Vô Khởi làm CHỈ là đừng nổi hứng sảng đổi cách xây nhà

         cho khác thường thì coi chừng nhà sẽ bị ...xập!).

     3. THỂ là Gạch Ngói Vật liệu vốn có để XÂY NHÀ. ( Lấy Thanh

          Tịnh làm THỂ là dùng vật liệu vốn có để xây nhà chớ khỏi

          phải tìm đâu xa nữa !).

     4. DỤNG là Công dụng của CĂN NHÀ khi đã xây xong. ( lấy TRÍ

         làm DỤNG là Tiện nghi của căn nhà như cái Trí tuệ được

         sinh ra từ tác dụng của sự tu tập vậy !).

 

      Thưa Thầy,

             Trên đây chỉ là Ví dụ ngô nghê của em, so sánh tạm cho dễ hiểu, chớ lý luận Phật Môn về Đốn Ngộ rất cao siêu, càng dùng từ cầu kỳ thì lại càng dễ làm " rối loạn " tư duy và càng dễ " Tẩu hỏa nhập ma " hơn.

             Mong Thầy châm chước mà hiểu cho !

                                                                    Nay kính,

                                                                 Đỗ Chiêu Đức  

_________________________________________________________________________________________________________ 

 



Bài thơ             
                   CẨM SẮT                       
                 của Lý Thương Ẩn                    

                   DCD_camsat.jpg


      Bài thơ CẨM SẮT nổi tiếng của Lý Thương Ẩn đời Đường như sau :     


錦瑟                             CẨM SẮT

錦瑟無端五十弦,      Cẩm sắt vô đoan ngũ thập huyền,
一弦一柱思華年.      Nhất huyền nhất trụ tư hoa niên. 
莊生曉夢迷蝴蝶,      Trang Sinh hiểu mộng mê hồ điệp
蜀帝春心托杜鵑.      Thục Đế xuân tâm thác đổ quyên.
滄海月明珠有淚,      Thương hải nguyệt minh châu hữu lệ,
藍田日暖玉生煙.      Lam điền nhật noãn ngọc sinh yên. 
此情可待成追憶,      Thử tình khả đãi thành truy ức,
只是當時已惘然.      Chỉ thị đương thời dĩ võng nhiên.              
李商隐                                   Lý Thương Ẩn  

 Image result for 錦瑟無端五十弦一弦一柱思華年 Image result for 錦瑟無端五十弦一弦一柱思華年 


CHÚ THÍCH :
  * Cẩm Sắt : Cẩm là Gấm, Sắt là Đàn, nên Cẩm Sắt là Cây Đàn Gấm. Ý chỉ Cây Đàn có hoa văn đẹp như gấm. Nói thêm về chữ SẮT 瑟: là cây đờn có 36 hoặc 50 dây được gỏ bằng 2 cây phím mà ta thường thấy trong các gánh hát Tiều hoắc hát Dù-Kê của Miên còn có tên là Tam thập Lục huyền cầm hay Ngũ thập huyền cầm. Trong bài thơ nầy là Ngũ Thập Huyền Cầm.
 * Vô Đoan : là Khi khổng khi không, là Bỗng dưng... chỉ những điều không ngờ được, không tính trước được. Trong bài thơ có nghĩa Sao mà lại...
 * Huyền là Dây đàn; Trụ là Trục đàn.
 * Hoa Niên 華年 : Hoa là Tươi đẹp rực rỡ, nên Hoa Niên là Những năm tháng tươi đẹp rực rỡ, tức là chỉ Khoảng thời gian còn trẻ. Tuổi Hoa Niên là Tuổi lúc còn trẻ. (chớ không phải chữ Hoa 花 là Bông).
 * Trang Sinh là Trang Chu tức là Trang Tử trong Đạo giáo, đạo tu để thành Tiên đó.
 * Hiểu Mộng là Tỉnh Mộng, thức dậy sau một cơn mơ. Mê Hồ Điệp : là còn mơ màng tưởng mình là bướm.
 * Thục Đế là ông Vua nước Thục, còn được gọi là Vọng Đế. Người bị mất nước rồi hoá thành chim Đỗ Quyên là con chim Quốc ( con Cuốc ) của ta thường rống cổ kêu mãi suốt mùa hè rồi mửa máu mà chết.. Như bà huyện Thanh Quan đã tả : 
Nhớ nước đau lòng con quốc quốc    ... hay cụ thể hơn như trong thơ của Tam Nguyên Yên Đỗ Nguyễn Khuyến :   
                  
         Khoắc khoải sầu đưa giọng lửng lơ,
                       Ấy hồn Thục Đế thác bao giờ,
                       Năm canh máu chảy đêm hè vắng,
                       Sáu khắc hồn tan bóng ngụyêt mờ.
                       Có phải tiếc xuân mà đứng gọi,
                       Hay là nhớ nước vẫn nằm mơ ?
                       Ban đêm róng rả kêu ai đó ?
                       Giục khách giang hồ dạ ngẩn ngơ !
 
 

* Châu Hữu Lệ : là những hạt châu có những giọt lệ trong đó. Theo Thần Tiên Truyện, giao nhân( người cá ) trong đêm trăng sáng ngước nhìn vào bờ mà rơi hai hàng lệ, và mỗi giọt nước mắt đều là những hạt châu rơi xuống biển xanh.
 * Ngọc Sanh Yên : Theo tích xưa ở hụyên Lam Điền chuyên nuôi trồng và sản xuất ngọc. Vì tránh sự tranh giành của sai nha và quan lại địa phương, thần tiên đã mách bảo cho dân nghèo là nơi nào có khói bốc hơi nhè nhẹ trong núi là nơi đó có thể trồng ngọc được.
 * Võng Nhiên : Không có để tâm đến, phớt lờ cho qua.

NGHĨA BÀI THƠ :
                                    Đàn Gấm
        Cây đàn gấm sao khi không lại có  tới năm mươi dây. Mỗi một dây mỗi một trục đều làm cho người ta nhớ lại tuổi hoa niên. Như Trang Tử sau khi thức giấc cứ mơ màng hoài không biết là mình mơ được hóa bướm hay là bướm đã hóa ra mình. Cũng như Thục Đế lòng xuân chưa dứt nên hóa thành chim Đỗ Quyên kêu khóc suốt đêm thâu. Hay như Giao nhân ngắm trăng sáng mà rơi thành châu lệ, hay như Lam Điền nắng ấm nên ngọc mới bốc khói mờ. Trong tình huống, tình cảnh nầy đáng lẽ phải được người ta nhớ đến, tiếc thương đến, nhưng không biết vì sao trong lúc đó người ta lại phớt lờ và quên khuấy nó đi !
         Bài thơ nầy đã đươc Nguyễn Du mượn ý để tả lại tiếng đờn của cô Kiều đờn khi Kim Kiều tái hợp :
              ... Khúc đâu đầm ấm dương hòa,
                  Ấy là hồ điệp hay là Trang Sinh ?
                  Khúc đâu êm ái xuân tình,
                  Ấy hồn Thục Đế hay mình Đổ Quyên ?
                  Trong sao châu rỏ duềnh quyên,
                  Ấm sao hạt ngọc Lam Điền mới đong !
        
                

Image result for Kim Kiều tái hợp 
                  
DIỄN NÔM :
                               
   CẨM SẮT                   
   Năm chục dây đàn gấm tuyệt vời,
                   Mỗi dây mỗi trục nhớ xuân thời.
                   Trang Chu tỉnh mộng còn ngờ bướm,
                   Thục Đế lòng xuân cuốc gọi trời.
                   Trăng sáng biển xanh châu rướm lệ,
                   Lam Điền nắng ấm ngọc thành hơi.
                   Tình nầy ý ấy hoài ghi nhớ,
                   Sao lúc bấy giờ lại để lơi ?!

Lục bát :
                   Đàn gấm có năm mươi dây,
                   Mỗi dây mỗi trục chứa đầy tuổi xuân,
                   Trang Sinh ngỡ bướm hóa thân,
                   Cuốc kêu Thục Đế âm thầm xót xa. 
                   Lệ rơi thương hải châu sa,
                   Lam Điền nắng ấm ngọc đà bay hơi.
                   Tình nầy dằng dặc khôn nguôi,
                   Chỉ vì lúc ấy không người cảm thông !

                                                               Đỗ Chiêu Đức   
________________________________________________  

Đôi Điều Tâm Sự

 

           Nhân đọc bài thơ "Giáo Già Tự Tình" của thầy Phạm Khắc Trí, ĐCĐ tôi cũng muốn nói lên Đôi Điều Tâm Sự sau đây...

  

GSPhamKhacTri.jpg

Giáo Già Tự Tình
PKT 09/12/2014

Cõi đời gió bụi bao gian khổ,
Suốt kiếp phong sương lắm đoạn trường.
Lòng đỏ khôn nguôi niềm biệt xứ,
Trời xanh khéo bỡn khách tha phương.
Ba chìm bảy nổi còn ngơ ngác ,
Chín ghét mười thương những vấn vương.
Năm tháng tuổI già quay ngó lại ,
T
ội nhau khôn dại chốn vô thường.


                                       PKT 09/12/2014

 

 

Kính Thưa Thầy, Bạn,


        Hổm rày đọc hết Giáo Già tự trào, tự bạch, tự trách , tự thán , tự vịnh , nay lại tự tình. Làm Đỗ Chiêu Đức tôi cũng xúc động với nghề Thầy Giáo nầy. Theo tôi biết thì ngoài Thầy Lộc, Thầy Trí, Thầy Vạn ( Trầm Vân ), Thầy Trường, Thầy Chân Diện Mục ... thì anh HUỲNH HỮU ĐỨC, anh CAO LINH TỬ, Niên Trưởng SONG QUANG, niên Trưởng mà cũng là người giữ vườn của trang mạng PTG&ĐTĐ USA là Nhà Văn Trần Bang Thạch cũng là Nhà Giáo, và cuối cùng là người mang tiếng là Thầy Đồ là tôi đây cũng là... một Thầy Giáo Già, vì ai trẻ nhất cũng trên 60 và gần 70 tuổi  cả rồi !!!
        Không biết chị PHƯƠNG HÀ ( LỘC MAI ), Cô KIM OANH, KIM PHƯỢNG... có phải là Cô Giáo hay không ?  chớ Cô KIM QUANG thì là Hiệu Trưởng TTH TÂN HƯNG Cái Răng ngày xưa của tôi đó !

        

DCD_Pic1.jpg

Riêng tôi, xuất thân con nhà nghèo, thất học sớm, mà lại mơ ước làm Thầy giáo  ( nghèo mà ham ! ) , trong khi chữ Hoa chỉ học có Tiểu Học, chữ Việt thì mới học hết lớp Đệ Lục là... tốt nghiệp rồi. May nhờ có quới nhân phù trợ giới thiệu cho vào một trường dạy tiếng Hoa ở tuốt tận Ban Mê Thuộc cho vừa học vừa dạy vừa... run, nên chỉ có 18 tuổi đã trở thành Thầy Giáo dạy lớp Hai Tiểu Học rồi, rồi cứ cái đà vừa học vừa dạy vừa... đi lính, lại được lên dạy Trung học ở các lớp đêm Chợ Lớn của các trường Quảng Nhã, Phước Đức.... Sau 1975, cũng vừa học vừa dạy ở các Trung Tâm Ngoại Ngữ của các Đại Học ở Sài Gòn và Trời xui Đất khiến  lại được Thỉnh giảng vào Khoa Trung của Đại Học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn  ( Đại Học Văn Khoa ngày trước ở 12 Đinh Tiên Hoàng Quận I ) đến năm 1998 thì định cư ở HOA KỲ !

         Dạy học và Tự Học mấy chục năm, học trò cũng nhiều mà Thầy học thì cũng lắm, chẳng những học ở Thầy , ở bạn, mà gần đây còn phải Học Ở Các Học Trò Cũ của mình nữa, về Máy Tính, về Computer..... Cho nên lại càng thắm thía hơn với lời dạy của Đức Khổng Phu Tử là " Tam nhân đồng hành, tất hữu ngã sư yên 三人同行必有我師焉 "( Trong 3 người cùng đi, thế nào cũng có một người là Thầy của ta đó ! ). Trạch kỳ thiện giả nhi tòng chi, kỳ bất thiện giả nhi cải chi 擇其善者而從之,其不善者而改之 ( chọn người giỏi mà học theo cái giỏi của họ và người dở thì biết cái dở đó mà tránh ).

          

DCD_Pic2.jpg

Bây giờ ngồi đây nghĩ lại, ai đó than van oán trách cho nghề giáo là nghề nghèo nàn bạc bẽo, riêng tôi, thì tôi rất thỏa mãn với cái nghề giáo của mình : Thứ nhất, là thỏa mãn được ước mơ làm Thầy Giáo của mình từ nhỏ. Thứ hai, là nhờ dạy học mà bắt buộc phải tự học, nên kiến thức ngày càng phong phú hơn. Thứ ba, là trước mắt, Thầy học,bạn học, học trò ở khắp Năm Châu Bốn Bể. Đi đâu cũng có người quen hết. Thứ tư, là được dạy cả 3 bậc học, từ Tiểu Học, Trung Hoc, cho đến Đại Học.( Đụng " La Phong " rồi còn gì ! ). Chẳng những thỏa mãn ước mơ được làm thầy giáo của mình, mà tôi còn vươn đến đỉnh cao nhất của nghề Thầy Giáo, nhất là được đứng trên bục giảng của trường Đại Học Văn Khoa ngày xưa để giảng cho sinh viên. Thú thật, trước đây dù có nằm mơ tôi cũng không dám mơ được như thế ! Và ......


        Niềm VUI lớn nhất là cho đến trước mắt thì Thầy cũng như là bạn, bạn cũng như là Thầy, học trò mà cũng là bạn, và cũng là THẦY nữa ! Đâu có nghề nào được như nghề nầy, đâu có nghề nào Vui hơn nghề nầy nữa đâu ?!


       Trong niềm VUI đó, xin được HỌA VẬN bài GIÁO GIÀ TỰ TÌNH của Thầy PHẠM KHẮC TRÍ kính mến sau đây :



                 GIÁO GIÀ TỰ TÌNH


           Bụi phấn suốt đời dù có khổ,
           Niềm vui chan chứa khắp bao trường.
           Tiểu Trung Đại học luôn ba cấp,
           Âu Á Mỹ Châu khắp bốn phương.
           Đồng học bạn bè tình mãi thắm,
           Thầy Cô anh chị nghĩa còn vương.
           Học Thầy, học Bạn, học...Trò nữa !
           Cầu học " Tam Nhân " ấy lẽ thường !!!


                                                       Đỗ Chiêu Đức.

                                                           2014

Phiếm về 
                      
         KIM là VÀNG


              Image result for KIM là VÀNG              

Kim 金 là Vàng, là kim loại qúy có ký hiệu hóa học là Au (L. aurum) và số nguyên tử là 79. Nhưng người đời chỉ biết đến vàng 24K hoặc vàng 4 số 9 mà thôi. Vàng 24K, giới bình dân quen gọi là Vàng ròng, nghĩa là vàng không có pha thêm tạp chất nào cả, là Vàng thứ thiệt !       
Kim 金 cũng là một trong 214 bộ của CHỮ NHO ... DỄ HỌC, thuộc dạng chữ Hội Ý theo diễn tiến của chữ viết như sau :
     Chung Đỉnh Văn    Đại Triện    Tiểu Triện   Lệ Thư 
                         

Ta thấy :       

Chung Đỉnh Văn và Đại Triện đều được ghép bởi chữ Nhân 人 ở trên, tượng trưng cho sự che đậy như hình ngọn núi; chữ Thổ 土 là đất và chữ Nhị 二 là số 2 ở phía dưới; hàm ý là thứ vật thể được vùi chôn dưới 2 lớp đất của một ngọn núi, đó chính là Khoáng vật kim loại nói chung, mà Vàng là tiêu biểu nhất cho các kim loại đó. Đến Tiểu Triện và chữ Lệ thì đã thành hình chữ viết như ngày hôm nay KIM 金 là Vàng. Nên ta có từ...        

Ngũ Kim 五金 để chỉ chung cho tất cả kim loại mà vàng được xếp đầu tiên là : Kim, Ngân, Đồng, Thiết, Tích 金、銀、銅、鐵、錫 là Vàng, Bạc, Đồng, Sắt, Nhôm. Ta thấy các chữ Ngân, Đồng, Thiết, Tích 銀、銅、鐵、錫 đều có Bộ KIM 金 đi bên trái và có tất cả 694 chữ có bộ Kim để chỉ tất cả những gì có liên quan đến Kim Loại .       

Kim 金 là Vàng, là kim loại qúy nhất trong các kim loại, có màu vàng óng ánh và không sợ lửa, lửa có đốt như thế nào cũng không sao làm phai đi màu vàng của ...kim được . Nên ông bà ta thường nói " Vàng thật không sợ lửa " là thế ! Từ ngàn xưa vàng đã được tôn vinh cho sự cao sang quyền qúy, nhà của người giàu luôn được sơn son thếp vàng, nhà để cho người đẹp ở thì phải là nhà vàng, nhất là những người đẹp lại tài hoa như Thúy Kiều, khiến cho Hoạn Thư cũng phải buộc miệng :
                         Ví chăng có số giàu sang,
                  Giá này dẫu đúc Nhà Vàng cũng nên!

         Vàng chẳng những Phú mà còn Qúy nữa, cái bảng đề tên các sĩ tử thi đậu ngày xưa được gọi là Bảng Vàng, như các cụ đồ Nho thường kháo nhau về Tứ Khoái của người đời là :
                Cữu hạn phùng cam võ,     久旱逢甘雨,                
                Tha hương ngộ cố tri .        他鄉遇故知.                
                Động phòng hoa chúc dạ,   洞房花燭夜,               
                Kim Bảng quải danh thì !    金榜掛名時 !

Có nghĩa :                
                Hạn lâu mưa như trút,               
               Xứ lạ gặp người quen,               
               Đêm động phòng hoa chúc,               
              Bảng Vàng thấy đề tên !
         Ngày xưa đâu còn có gì hơn là thi đậu sau những tháng năm đèn sách dùi mài kinh sử : " Thập niên song hạ vô nhân thức, nhất cử thành danh thiên hạ tri ! 十年窗下無人識,一舉成名天下知!" là : Mười năm dùi mài dưới song cửa không người biết đến, nhưng hễ thi đậu một cái là cả thiên hạ đều biết tên. Cho nên Trần Tế Xương mới ngông nghênh khi thấy tên mình trên bảng vàng :
                  Ông trông lên bảng thấy tên ông,                 
                  Ông tợp rượu vào ông nói ngông !...
    ... Ý là chỉ mới đậu có Tú Tài thôi đó, chớ đậu cao hơn nữa thì ai chịu đời cho thấu với ông Tú Vị Xuyên đây ?!
        Nhà quyền qúy thì vào sân chầu đeo ngọc như ý, nhà giàu sang thì cửa sơn son thếp vàng, nên khi gặp Kim, Kiều đã xem tướng mạo của chàng và bi quan cho số phận của mình như sau :
                     Nàng rằng trộm liếc dung quang ,                         
                     Chẳng sân Ngọc Bội cũng phường Kim Môn.                    
                     Nghĩ mình phận mỏng cánh chuồn,              
                     Khuôn duyên biết có vuông tròn mà hay !?           

Ngày xưa, nam thì trông công danh thi cử, nữ thì chỉ mơ ước được một tấm chồng có tình có nghĩa, mười hai bến nước trong nhờ đục chịu, nên khi bán mình và sau khi trối trăn với Thúy Vân xong, thì Kiều đã kêu lên trước khi ngất xỉu :
                     Ôi Kim lang, hỡi Kim lang,               
                     Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây!

           Image result for truyện kiềuImage result for truyện kiều
       Phận gái khi xưa, rất khó tìm được người thương mình thật sự, nên khi gặp gia biến phải bán thân và phải rời xa Kim Trọng, cô Kiều mới đau xót đến thế. Người xưa cũng thường nói :
               Dị cầu vô giá bảo,            易求無價寶,              
               Nan đắc hữu tình lang.     難得有情郎。

Có nghĩa :          
Vật báu dù vô giá cũng dễ cầu để mà có được, còn ...          
Đàn ông thì khó mà tìm được một người có tình nghĩa lắm !      
Đàn ông xưa nay vốn nổi tiếng là "bạc tình" mà ! Nhất là đàn ông Á Đông với truyền thống năm thê bảy thiếp, thì làm sao có thể chung tình cho được.       
Kim Lang 金郎 là Chàng Kim, là chàng Kim Trọng 金重, mà chữ Kim 金 ghép với chữ Trọng 重 là chữ CHUNG 鍾, nên khi thất thân với Mã Giám Sinh, cô Kiều đã than rằng :
                       Biết thân đến bước lạc loài,               
                       Nhụy đào thà bẻ cho người tình CHUNG.
      Sao cô không nói :               
Nhụy đào thà bẻ cho người tình LANG.      
hay ...
Nhụy đào thà bẻ cho người tình XA ...v.v. và...v.v. mà phải là "người tình CHUNG" ? À, thì ra cụ Nguyễn Du nhà ta đang chơi chữ một cách rất tài tình, vì "người tình CHUNG 鍾" là " người tình tên KIM TRỌNG 金重 ! Không phải là tôi cố bới lông tìm vết để ... bóc thơm cụ Nguyễn Du, cũng không phải cụ Nguyễn Du ngáp phải ruồi mà sử dụng đúng từ CHUNG 鍾 là tên của KIM TRỌNG 金重, mà nói có sách mách có chứng đàng hoàng :      

Cuối đời nhà Minh, có một thư sinh họ Cổ tên Tấn, ở đảo Hải Nam lai kinh ứng thí. Khi đi đến Quế Lâm, nơi nổi tiếng với bún gạo thật ngon, vì là thư sinh nghèo phải ở trọ trong chùa, nên chỉ ăn ké được có bửa ngọ trai. Buổi chiều dạo ngang qua hàng bún gạo Quế Lâm thơm phức nhưng chỉ dám đứng nhìn mà thôi. Bất ngờ ông lão chủ quán thấy điệu bộ thèm thuồng của anh ta, bèn cất tiếng hỏi : "Này anh thư sinh, lão có một vế đối tả lại công việc hàng ngày của lão, nếu anh đối được, lão sẽ mời anh một tô bún khỏi trả tiền !" Cổ Sinh khẩn khoản xin vế đối, Ông lão chủ quán bèn đọc là :
               Bát đao phân mễ phấn,        八刀分米粉,
      Mễ Phấn 米粉 là Bột Gạo, mà cũng có nghĩa là Bún Gạo nữa, nên vế  đối trên có nghĩa : Xắt tám dao để chia bún gạo ra thành từng sợi. Câu đối mới nghe tưởng dễ, chừng nhẫm đọc lại anh chàng Cổ sinh mới tá hỏa, vì chữ Bát 八 chồng lên chữ Đao 刀 thành chữ Phân 分, mà chữ Phân 分 ghép với chữ Mễ 米 thì thành chữ Phấn 粉 là Bột. Vế ra qúa hay và qúa hóc búa . Còn đang ngồi thừ ra đó để suy nghĩ, thì ông lão chủ quán đã nấu xong tô bún gạo thơm phức mang tới và cười bảo : " Ăn trước cho no bụng đi, rồi thủng thẳng hãy đối cũng chưa muộn, không sao đâu !". Vừa thẹn vừa ngỡ ngàng nhưng bụng đói qúa, anh chàng thư sinh đành cắm đầu ăn hết tô bún, nói lời cám ơn rồi đi riết về chùa. Nằm bên mái hiên chùa trằn trọc mãi không sao ngủ được. Trăn trở đến nửa đêm bỗng nghe trên chánh điện vang lên một tiếng "Boong" thật lớn, chạy lên xem, thì ra một chú mèo ăn đêm làm rơi một miếng ngói rớt trúng qủa chuông vàng trên chánh điện. Cổ Sinh như chợt tỉnh ngộ ra, mình từ ngàn dặm đi thi mới đến được đây để nghe tiếng chuông vàng nầy, bèn ứng khẩu đọc ra vế đối : Thiên lý trọng kim chung 千里重金鍾, có nghĩa : "Ngàn dặm đến đây để trân trọng tiếng chuông vàng nầy". Hôm sau, vừa sáng sớm, Cổ Sinh bèn tươi cười ra gặp ông lão chủ quán mà đọc rằng:                
Bát đao phân mễ phấn,        八刀分米粉,               
Thiên lý trọng kim chung.     千里重金鍾.      

 
Ông lão nghe xong vế đối, bèn nấu bưng ra một tô bún gạo Quế Lâm thơm phức để đãi chàng thư sinh tài hoa, vì vế đối qúa hay : Chữ Thiên 千 chồng lên trên chữ Lý 里 thành chữ Trọng 重, chữ Trọng 重 ghép với chữ Kim 金 thành chữ Chung 鍾 là Cái Chuông. Và cũng vì thế mà ta mới có được 2 câu thơ tuyệt vời của cụ Nguyễn Du để cho cô Kiều nuối tiếc khi phải thất thân với Mã Giám Sinh :
                    Biết thân đến bước lạc loài,            
                   Nhụy đào thà bẻ cho người tình CHUNG.

            Image result for 八刀分米粉,                             
            Bún gạo Quế Lâm

       Để kể chuyện cho có hậu, kính mời đọc tiếp phần cuối của câu truyện trên ...      
... Sau khi ăn xong tô bún thưởng, ông chủ quán còn cho tiền lộ phí để Cổ Tấn lai kinh ứng thí. Khoa đó chàng đậu ngay Tiến Sĩ cập đệ, khi vinh quy bái tổ trở về ngang Quế Lâm, chàng ghé lại thăm và tạ ơn ông chủ quán, mới biết ông cụ họ Trịnh, mấy đời đều sinh nhai bằng nghề làm và nấu bún gạo bán. Thấy hoàn cảnh ông cụ cũng neo đơn, Cổ Tiến bèn nhận ông làm nghĩa phụ và phụng dưỡng ông cụ suốt đời.    
         Theo âm dương ngũ hành thì Tây phương Canh Tân Kim, nên Vàng thuộc hướng Tây, gió hướng tây là gió mùa thu, nên còn được gọi là Kim Phong là Gió Vàng, như Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều đã mở đầu Cung Oán Ngâm Khúc bằng 2 câu :
                   Trải vách quế Gió Vàng hiu hắt,                   
                  Mảnh vũ y lạnh ngắt như đồng.
         Kim là Vàng, nhưng Kim Ngư 金魚 không phải là Cá Vàng, mà là Cá Thia Thia Tàu. Kim Ô 金烏 không phải là con quạ Vàng, mà là chỉ Mặt Trời, Ta thường nghe nói "Vầng Kim Ô vừa ló dạng", có nghĩa là "Mặt trời vừa mới mọc". Kim Kinh 金經 không phải là quyển sách vàng, mà là chỉ chung các quyển kinh Phật ( có thể là do từ Kim Cang Kinh mà ra). Kim Liên 金蓮 không phải là hoa sen vàng, mà là chỉ các gót sen nhỏ nhắn dễ thương của các bà các cô ngày xưa với : Tam thốn Kim Liên tứ thốn yêu 三寸金蓮四寸腰, có nghĩa là : "Ba tấc gót sen bốn tấc eo" mà thôi. Trong Kiều tả lúc cô Kiều đi tìm Kim Trọng sau khi "Thời trân thức thức sẵn bày" là :
               Gót sen thoăn thoắt dạo ngay mái tường....
và khi tả hồn ma Đạm Tiên đến báo mộng cho Kiều, cụ Nguyễn Du cũng viết :                    
              Sương in mặt tuyết pha thân,                
              Sen vàng lãng đãng như gần như xa !...
       Kim Hầu 金猴 Không phải là con khỉ vàng, mà là con khỉ mặt xanh có bộ lông vàng lắp lánh. Kim Khẩu 金口 Không phải là cái miệng bằng vàng, mà là chỉ cái miệng của những người quyền quý, ngày xưa dùng để chỉ cái miệng của ông vua, còn trong văn thơ Tiền Chiến nhà thơ Xuân Diệu dùng để  chỉ cái miệng của những người  đẹp :                 
                 Mở miệng vàng... và hãy nói yêu tôi...
                 Dẫu chỉ là trong một phút mà thôi...                    
        Kim Lan 金蘭 Không phải chỉ hoa lan bằng vàng, mà chỉ tình bạn bè gắn bó, có xuất xứ từ kinh "Chu Dịch-Hệ Từ thượng" : Nhị nhân đồng tâm, kỳ lợi đoạn KIM; Đồng tâm chi ngôn, kỳ khứu như LAN《周易·系辞上》:"二人同心,其利断金;同心之言,其嗅如兰"。

Có nghĩa :        
Theo Hệ Từ thượng của kinh Chu Dịch có câu : Hai người cùng đồng lòng thì cái lợi (sự bén nhọn) có thể làm đứt KIM loại; Những lời nói đồng lòng thì có mùi thơm như hoa LAN. Nên ... Kết nghĩa Kim Lan 結義金蘭 là hai người bạn thề cùng đồng tâm hiệp lực, sống chết có nhau như anh em ruột thịt. Ta có thành ngữ Kim Lan Chi Giao 金蘭之交 cũng đồng nghĩa với ...      
Kim Thạch Chi Giao 金石之交 : Kim là Kim loại rắn chắc không đổi màu; Thạch là Đá, cứng ngắt và bền vững. Nên Kim Thạch Chi Giao là sự giao tình bền vững và rắn chắc như vàng như đá vậy. Tương tự ta có thành ngữ ...       
Kim Thạch Chi Ngôn 金石之言 : là lời nói hoặc lời hứa chắc chắn như vàng như đá không hề thay đổi. Ta nói là Những lời vàng đá hoặc đá vàng, là những lời nói " Chắc như đá, vững như vàng", của trai gái dùng để hứa hẹn thề thốt khi yêu nhau, như khi Kim Trọng tỏ tình trong cảnh "Chiều xuân dễ khiến nét thu ngại ngùng" thì cô Kiều cũng nhận lời bằng câu đổ thừa rằng :
                        Đã lòng quân tử đa mang,               
                       Một lời vâng tạc ĐÁ VÀNG thủy chung !
... và kịp đến khi " Trên hai đường với cùng là hai em, Tưng bừng sắm sửa áo xiêm" để mừng sinh nhật ngoại gia, để lại có một mình Thúy Kiều ở nhà, nên nàng mới hẹn ước để gặp chàng. Trai đơn gái chiếc trong đêm thanh vắng, nên khi " Sóng tình dường đã xiêu xiêu, Xem trong âu yếm có chiều lả lơi" Nàng mới stop chàng lại bằng chuyện tình dưới Mái Tây :                       
             Ngẫm duyên kỳ ngộ xưa nay,                
             Lứa đôi ai lại đẹp tày Thôi Trương,                       
            Mây mưa đánh đổ ĐÁ VÀNG,                
            Qúa chìu nên đã chán chường yến anh !


           Image result for truyện kiều Image result for truyện kiều 
... khi Thúc Sinh muốn chuộc Kiều ra khỏi lầu xanh, cô kiều lo cho thân phải làm lẽ mọn của mình, lại sợ Thúc Ông chê mình là " liễu ngõ hoa tường" rồi " lầu xanh lại bỏ ra phường lầu xanh", thì chàng Thúc đã vổ ngực nói là :                        
                    Đường xa chớ ngại Ngô Lào,
                   Trăm điều hãy cứ trông vào một ta .
                         Đã gần chi có điều xa ?
                ĐÁ VÀNG đã quyết phong ba cũng liều !

... và khi Kim Trọng trở lại vườn Thúy để tìm Kiều, chàng cũng đã nói với Vương Ông là :                      
                Rằng: Tôi trót quá chân ra,                 
               Để cho đến nỗi trôi hoa dạt bèo.                      
              Cùng nhau thề thốt đã nhiều,                 
              Những điều VÀNG ĐÁ phải điều nói không!

       Đá Vàng là Vàng Đá là Kim Thạch, là biểu tượng của Rắn chắc và Bền vững. Nhưng nhắc đến Kim Thạch lại làm cho ta nhớ đến vở tuồng KIM THẠCH KỲ DUYÊN của Thủ Khoa Bùi Hữu Nghĩa kể lại chuyện tình của 2 họ Kim và họ Thạch nhằm đề cao Trung hiếu tiết nghĩa của người đời.      
Ngoài Duyên Kim Thạch, ta còn có Duyên Kim Cải do thành ngữ Châm Giới Tương Đầu 針芥相投, có xuất xứ từ câu nói trong Tam Quốc Chí là " Từ thạch dẫn châm, Hổ phách thập giới 磁石引针,琥珀拾芥"。Có nghĩa : Đá nam châm hút kim loại, cón hổ phách thì hút hạt cải; Ý chỉ thứ nào thì hút theo thứ đó, tình đầu thì ý hợp, như trai gái, vợ chồng gắn bó khắng khít với nhau vậy. Trong truyện Nôm Quan Âm Thị Kính tả lại mong ước của Thị Kính khi lấy chồng là Thiện Sĩ có câu :                         
                  Kể từ Kim Cải duyên ưa,.
                 Đằng leo cây bách mong chờ về sau.


            Image result for Quan Âm Thị Kính 

        Trong Kiều tả lúc Kiều bán mình chuộc cha, Vương Viên Ngoại cũng vì nàng mà than oán :                                      Vì ai rụng Cải rơi Kim,                
             Để con bèo nổi mây chìm vì ai ?!
... và lúc Kim Kiều tái hợp, trong buổi tiệc đoàn viên, khi " Tàng tàng chén cúc dở say" Thúy Vân cũng đã nói lẫy :                     
Gặp cơn bình địa ba đào                
Vậy đem duyên chị buộc vào duyên em.                      
Cũng là phận Cải duyên Kim,               
Cũng là máu chảy ruột mềm chớ sao !...              
        Nhưng, trong Phật Giáo thành ngữ Châm Giới Tương Đầu 針芥相投, là Duyên kim cải theo kinh Phật, ý nói hột cải ném ra ghim trúng đầu mũi kim, là một chuyện khó xảy ra. Nhà thiền mượn cụm từ này để chỉ thầy trò nhân duyên tương hợp, ăn khớp với nhau thật đặc biệt hiếm thấy. Tiểu truyện Thiền Sư Tĩnh Lực trong kinh TUTA ghi : Du học thì, ngộ Tiên Du Đạo Huệ, châm giới tương đầu, thê tâm Phật địa 遊學時遇仙遊道惠針芥相投棲心佛地。Có nghĩa : Khi du học, sư được gặp thiền sư Đạo Huệ ở Tiên Du, thầy trò nhân duyên tương  hợp một cách thật đặc biệt hiếm thấy, bèn dốc lòng nương nhờ đất Phật.        
        Kim là Hoàng Kim 黃金, là Vàng ròng mà người đời trân qúy nhất, nên Thời Đại Hoàng Kim 黃金時代 là khoảng thời gian rực rỡ nhất thành công nhất trong đời của một người, trong sự nghiệp tiến hóa của một dân tộc, trong một giai đoạn lịch sử huy hoàng nhất của bất cứ quốc gia dân tộc nào trên thế giới nầy. Thời đại hoàng kim là vang bóng một thời của dĩ vãng, là rực rỡ huy hoàng của hiện tại, là kỳ vọng vươn tới của tương lai. Mỗi người đều có thời đại hoàng kim của riêng mình, nên phải biết trân trọng, lợi dụng và kiến tạo riêng cho mình một thời đại hoàng kim mà người khác không sao có được !
        Kim còn là Tiền, Hiện Kim 現金 là Tiền mặt. Nguyệt Kim hay Tân Kim 薪金 là Tiền lương hàng tháng. Chức Kim 職金 là Tiền trả cho chức vụ đảm nhiệm. Dưỡng Kim 養金 là Tiền cấp dưỡng nuôi nấng. Bảo Kim 保金 là Tiền Bảo trợ hay Bảo đãm việc gì đó. Tư Kim 私金 là Tiền của riêng tư. Mỹ Kim 美金 là tiền "Đô", tiền của nước Mỹ mà ai cũng thích cả ...

        Kim là Vàng, là tượng trưng cho những gì cao qúy, hiếm hoi hay được mọi người chiêm ngưỡng trọng vọng như Kim Thân 金身của đức Phật, là tượng Phật được thếp vàng. Kim Bài 金牌 là cái Huy chương Vàng cho hạng Nhất; Kim Bài còn là những khuôn có chữ vàng lộng kiếng để mừng sinh nhật, tân gia ... Ngày xưa, Kim Bài còn là những lệnh bài của vua ban ra, nhất là những tấm Miễn Tử Kim Bài 免死金牌 dành cho những người có công to với triều đình thì vừa qúy giá vừa hãnh diện biết bao. Kim Hôn 金婚 là chỉ những cặp vợ chồng kết hôn và chung sống với nhau 50 năm mà vẫn còn đủ cả 2 người, còn được gọi là Kim Khánh 金慶 hay Kim Giai Ngẫu 金佳偶 là Cặp Đôi Vàng. Kim Long 金龍 là Rồng Vàng, con vật thần thoại tượng trưng cho vua chúa thời phong kiến, chỉ có vua mới được mặc áo thêu hình Kim Long mà thôi. Ở cạnh cố đô Huế, không ai không biết đến bến đò Kim Long qua câu dân ca nổi tiếng :
                         Thuyền về Đại Lược,                        
Duyên ngược Kim Long.                       
Đến đây là ngã rẽ của lòng,                 
Gặp nhau còn biết trên sông bến nào ?
... các cô gái Huế dễ thương đã đổi lại 2 câu chót như sau :                       
Đến đây là ngã rẽ của lòng,               
Biết nơi mô bến đục, bến trong cho em nhờ !                             

Kim Qui 金龜 là Rùa Vàng, tượng trưng cho sự phú qúy. Theo Tân Đường Thư-Xa phục chí 新唐書·車服志 có ghi lại :         

Đời sơ Đường, nội ngoại quan viên từ ngũ phẩm trở lên đều phải đeo túi thêu hình cá, gọi là Ngư Đại 魚袋. Đến đời Võ Tắc Thiên mới đổi hình cá thành hình rùa, gọi là Qui Đại 龜袋. Từ tam phẩm trở lên thì thêu bằng chỉ màu vàng kim, tứ phẩm màu bạc và ngũ phẩm màu đồng. Nên Kim Qui tượng trưng cho quan quyền phú qúi, từ Kim Qui Tế 金龜婿 còn dùng để chỉ chàng rể hoặc chồng có thân phận cao qúi giàu sang. Như trong bài thơ Vị Hữu 爲有 của Lý Thương Ẩn 李商隱 sau đây :
         Vị hữu vân bình vô hạn kiều ,          爲有雲屏無限嬌,
         Phụng thành hàn tận phạ xuân tiêu. 鳳城寒盡怕春宵.
         Vô đoan giá đắc Kim Qui tế ,            無端嫁得金亀婿,
         Cô phụ hương khâm sự tảo triều  .   辜負香衾事早朝.

Có nghĩa :        

Vì có bức bình phong vẽ mây ngũ sắc đẹp vô vàn, nên ở đất Kinh thành nầy lúc cuối đông hết lạnh, lại thấy lo sợ cho những đêm xuân, vì  khi khổng khi không lại lấy phải ông chồng làm quan lớn thế nầy, nên chi sáng xuân ( là thời khắc mặn nồng nhất của đôi lứa ) ông ta lại phụ rãi bỏ mặc nệm ấm chăn êm thơm phức để đi chầu Vua mỗi buổi sáng sớm !
                  
Diễn Nôm :
                Bình phong đẹp đẽ yêu kiều
                Phụng thành đông hết, xuân tiêu đêm dài
                Vô duyên lấy phải quan ngài
                Gối chăn bỏ hết mặc ai,... đi chầu !
       Kim Qui Tế của thời buổi hiện nay là các chàng kỹ sư, bác sĩ, các thương gia, đại gia ... lắm tiền nhiều của!
      Còn ở Việt Nam ta thì Kim Qui là vị thần khả kính trên hồ Hoàn Kiếm, đã tặng gươm thần cho Lê Lợi đứng lên khởi nghĩa ở Lam Sơn, dựng nên nhà Hậu Lê. Trong bài thơ Nước Tôi của nhà thơ Nguyễn Văn Cổn thời tiền chiến có câu hỏi ví von như sau :
                   Rùa thiêng nổi trước thuyền rồng,                  
  Trên hồ Hoàn Kiếm anh hùng là ai ?
... và trong một vế thơ sau, ông đã xác định là :                  
Gươm thần Lê Lợi ghi thiên anh hùng !

       Kim Tháp 金塔 là cái tháp bằng vàng, mà cũng là tên riêng của thành phố Phnom-Penh, còn được gọi là Kim Biên 金邊, Nam- Vang thủ đô của nước Cambodia mà ta quen gọi là xứ Chùa Tháp, vì các tháp chùa ở đây thường được dát vàng nên mới có tên là Kim Tháp. Nếu thêm vào giữa từ Kim Tháp một chữ Tự, thì ta sẽ có ...     

 
Kim Tự Tháp 金字塔 là những cái tháp khổng lồ đầy bí ẩn của Ai Cập có hình dáng giống như chữ Kim 金 mà thành tên. Đến năm 2008, có tất cả 138 Kim Tự Tháp được khám phá, hầu hết là các lăng mộ của các vua (Pharaon) và hoàng hậu Ai Cập, trong hai thời kỳ Cổ Vương Quốc và Trung Vương Quốc ( từ 2630-2611 trước Công Nguyên).   
        
  Image result for kim tự tháp ai cập 

        Các thành ngữ có liên quan đến chữ Kim thì rất nhiều, ta chỉ điểm qua các thành ngữ thường thấy mà thôi. Nhớ hồi nhỏ đọc các Truyện Tàu như Tiết Nhân Qúi Chinh Đông, Tiết Đinh San Chinh Tây, La Thông Tảo Bắc, Thuyết Đường Diễn Nghĩa ... hay gặp thành ngữ "Minh Kim Thu Binh 鳴金收兵" mà không hiểu là nghĩa gì. Sau học lõm bõm chữ Nho mới biết Minh Kim 鳴金 là "Làm cho kim loại kêu lên", có nghĩa Gỏ kẻng, gỏ chiêng hay gỏ phèng-la để thâu binh về. Nghề võ thì có thế Kim Kê Độc Lập 金雞獨立, một chiêu thức võ công độc đáo, đứng thẳng một chân với nhiều tư thế, hai tay cung ra hai bên với nhiều điệu bộ khác nhau. Đây cũng là một chiêu thức của môn Thái Cực Quyền, đồng thời cũng là một phương pháp dưỡng sinh độc đáo có một không hai để phòng ngừa các bệnh như Tiểu đường, Cao huyết áp, Mất trí nhớ ...         

Cuối Truyện Kiều được kết thúc bằng một thành ngữ có từ  KIM rất có hậu, đó là khi Kim Trọng thi đậu làm quan đã nhớ đến Thúy Kiều :
                       Ấy ai dặn ngọc thề vàng,
               Bây giờ KIM MÃ NGỌC ĐƯỜNG với ai ?!

        KIM MÃ NGỌC ĐƯỜNG 金馬玉堂, thành ngữ có xuất xứ từ đời Hán. KIM MÃ là KIM MÃ MÔN, là Cửa Kim Mã, nơi mà các Học Sĩ đợi chiếu chỉ của nhà vua ban xuống. NGỌC ĐƯỜNG là NGỌC ĐƯỜNG ĐIỆN, nơi nghị sự của các Học Sĩ, là Hàn Lâm Viện của các Hàn Lâm Học Sĩ. Thành ngữ Kim Mã Ngọc Đường dùng để chỉ sự đổ đạt vinh hiển làm quan, đắc ý vì công thành danh toại.             

Nhất Tiếu Thiên Kim 一笑千金, cười một cái giá đáng ngàn vàng. Có xuất xứ ở đời Hán, từ câu nói "Thôi Nhân -Thất Y": Hồi cố bách vạn, nhất tiếu thiên kim 回顾百万,一笑千金. Có nghĩa : Quay nhìn một cái giá đáng trăm vạn, Mĩn cười một cái giá đáng ngàn vàng. Trong Truyện Kiều, khi đã rước được cô Kiều về đến "trú phường", Mã Giám Sinh đã ngầm đánh giá nàng Kiều :
                       Đã nên quốc sắc thiên hương,                
Một Cười này hẵn Ngàn Vàng chẳng ngoa.                       
Về đây nước trước bẻ hoa,               
Vương tôn qúi khách ắt là đua nhau !...
... Qủa nhiên gặp phải Thúc Sinh là tay ăn chơi bạt mạng :                      

Thúc Sinh quen thói bốc rời,                
Trăm nghìn đổ một trận cười như không !

         
               Nhất Khắc Thiên Kim 一刻千金, là Một khắc giá đáng ngàn vàng. Có xuất xứ từ câu thơ đầu tiên trong bài thơ Xuân Dạ 春夜 (Đêm Xuân) của Tô Đông Pha đời Tống như sau :              
春宵一刻值千金      Xuân tiêu nhất khắc trị thiên kim

Có nghĩa :          
Đêm xuân một khắc giá đáng ngàn vàng.       

Ý của Tô Đông Pha là đêm xuân khí trời êm ả trong mát, thanh tịnh, khiến con người cảm thấy thoải mái dễ chịu ... Nhưng sau nầy người ta thường hiểu nghĩa của câu nói với một ý khác hẵn ý của Tô Đông Pha lúc ban đầu.
       Kim Ngọc Mãn Đường 金玉滿堂 là Vàng ngọc đầy nhà, là câu nói chúc phúc thường được dán trên các bàn thờ vào dịp Tết Nguyên Đán để cầu mong cho năm mới giàu sang sung túc. Ai cũng ao ước có được thật nhiều vàng, nên ta còn có thành ngữ ...         

Điểm Thạch Vi Kim 點石為金 là chỉ đá hóa vàng, theo như tích sau đây :       

Xưa có một người rất nghèo khổ, nhưng lại rất tin tưởng và thờ phượng Lữ Tổ 呂祖, tức là Lữ Thuần Dương Tổ Sư 呂純陽祖師 Lữ Động Tân 呂洞賓, là một trong những tổ sư của Đạo Giáo. Cảm vì lòng thành của anh ta, nên một hôm, Lữ Tổ hiện ra, thấy cảnh nhà tiêu điều nghèo khổ, động lòng thương xót, mới chỉ vào tảng đá trước sân nhà, trong một thoáng, tảng đá bỗng hóa thành vàng rực rỡ, đoạn quay sang hỏi anh ta : " Cho anh  tảng vàng này, anh có thích không ?". Người kia lạy phục dưới đất đáp rằng :" Không thích !". Lữ Tổ rất cảm động bảo rằng :" Khá lắm, anh không có lòng tham lam, thật qúy hóa vô cùng, ta sẽ truyền đạo pháp cho anh tu tập !" Người kia đáp : " Không phải thế, tôi chỉ muốn xin ông cho tôi cái ngón tay chỉ đá hoá vàng của ông mà thôi !". Lữ Tổ nghe xong, giật mình biến mất.             

 Image result for 呂洞賓點石為金 

      Lòng tham của con người qủa là không đáy, khiến thần tiên cũng phải hoảng sợ. Tảng vàng tuy to lớn nhưng xài lâu thì cũng hết, chỉ có "ngón tay chỉ đá hóa vàng" là không bao giờ hết vàng được mà thôi ! Vì tích nầy mà ngạn ngữ lại có câu : Chỉ thạch hóa vi kim, nhân tâm do vị túc 指石化為金,人心猶未足。Có nghĩa : Chỉ đá hóa ra vàng mà lòng người còn chưa thấy đủ !".

      Kim Thiền Thoát Xác 金蟬脫殼, là Ve sầu lột xác, là kế thứ 21 trong 36 kế theo binh pháp ngày xưa : Để nguyên doanh trại, để nguyên cờ xí rực rỡ, rồi âm thầm rút lui. Đến lúc quân địch biết được thì quân ta đã đi xa rồi, như ve sầu đã lột xác, chỉ để lại cái xác không mà thôi. 36 kế còn gọi là 36 chước, mà chước cuối cùng là bỏ trốn, như Sở Khanh đã dụ cô Kiều :                        
Thừa cơ lẻn bước ra đi,                
Ba mươi sáu chước chước gì là hơn ?!           

Kim Cốc Tửu Số 金谷酒數 là số rượu ở Kim Cốc, có xuất xứ từ bài Tự của Lý Bạch : Xuân Dạ Yến Đào Lý Viên Tự 春夜宴桃李園序, câu cuối của bài tự là : Như thi bất thành, phạt y Kim cốc tửu số 如詩不成,罰依金谷酒數. có nghĩa : Nếu thơ làm không xong, thì sẽ bị phạt theo số rượu ở Kim Cốc. Kim Cốc Viên là vườn nhà của cự phú Thạch Sùng đời Tấn, luôn có yến tiệc chiêu đãi tao nhân mặc khách. Nếu trong tiệc, ai không làm được thơ thì sẽ bị phạt uống ba đấu rượu. Cho nên Kim Cốc Tửu Số là 3 đấu rượu, 3 chung rượu hay 3 ly rượu như ngày nay trong tiệc rượu ta hay phạt những người đến trễ vậy !Các bợm nhậu quê tôi thường phạt nhau bằng câu thiệu sau đây : Vô cửa "bửa" một ly; ngồi xuống "uống" một ly và gắp mồi "bồi" một ly nữa là đúng 3 ly, như Lý Bạch đã nói :
              三杯通大道,   Tam bôi thông đại đạo,             
      一斗合自然。   Nhất đấu hợp tự nhiên.
              但得酒中趣,   Đản đắc tửu trung thú,             
勿為醒者傳。   Vật vi tỉnh giả truyền ! Có nghĩa :                 

Ba ly khai thông đạo lớn,                
Một đấu hợp lẽ tự nhiên.                
Muốn được vui say trong rượu,                 
Đừng làm kẻ tỉnh huyên thuyên !
          Image result for 三杯通大道 一斗合自然
         
Vàng qúy giá thật, nhưng có những thứ còn qúy giá hơn vàng, đó chính là đàn ông, mà là đàn ông ... hư  biết quay đầu trở lại . Các cụ Đồ Nho thường nhắc câu : Lãng tử hồi đầu kim bất hoán 浪子回頭金不換!Có nghĩa : Các chàng lãng tử giang hồ ăn chơi mút mùa, nếu chịu quay đầu làm lại cuộc đời thì ... vàng cũng không thể đổi được ! Tại sao ? Thưa, vì các chàng đó đã quá rành qúa chán và qúa ngán với cảnh ăn chơi trác tang rồi, bây giờ chịu chí thú làm ăn sẽ không còn sợ bị cám dỗ và sa ngã nữa, sẽ dễ dàng làm nên sự nghiệp một cách vững chắc không sợ lung lay ! Nhưng dù sao thì bà con ta vẫn còn ngại câu "Ngựa quen đường cũ"...
        Chỉ có một thứ chắc chắn là vàng 24K hoặc vàng 4 số 9 cũng không mua nổi, đó chính là thời gian, như câu nói Nho sau đây :
        Nhất thốn quang âm nhất thốn kim,    一寸光陰一寸金,
        Thốn kim nan mãi thốn quang âm !     寸金難買寸光陰。
Có nghĩa :
              Một tấc thời gian là một tấc vàng, nhưng ...
              Tấc vàng không thể mua được tấc thời gian !
        Quang là Sáng, Âm là Tối; Sáng là Ban ngày, Tối là Ban đêm; hết sáng đến tối, hết ngày tới đêm. Nên Quang Âm là Ngày đêm là thời gian, mà thời gian đã qua đi rồi thì không bao giờ còn có thể trở lại được. Ta chỉ có thể quay ngược được kim đồng hồ, chớ không thể quay ngược được thời gian trở về với qúa vãng. Trong Tăng Quảng Hiền Văn có câu khuyên rằng :
              Thiếu tráng bất nổ lực,     少壯不努力,
              Lão đại đồ bi thường !      老大徒悲傷。
Có nghĩa :
        Còn trẻ còn khoẻ mà không biết cố gắng, đến ...
        Khi lớn khi già rồi có tiếc thương thì cũng vô ích mà thôi !
        Mong rằng tất cả các bạn trẻ, bạn già ... đều phải nên trân trọng cái "thời gian" mà ta "còn" có được, vì "nó" qúy hơn VÀNG !

                                                 Đỗ Chiêu Đức    

           

Phiếm về                             
                         VÂN là MÂY


                         Image result for lò cừ nung nấu sự đời                          
Lò cừ nung nấu sự đời,               
Bức tranh vân cẩu vẽ người tang thương
        
Hai câu thơ trên trong Cung Oán Ngâm Khúc của Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều, lấy ý từ hai câu thơ trong bài Khả Thán Thi 可嘆詩của Thi Thánh Đỗ Phủ :          

  Thiên thượng phù vân như bạch y,   天上浮雲如白衣,
          Tư tu cải biến như thương cẩu .       斯須改變如蒼狗。

Có nghĩa :               

Mây nổi trên trời như áo trắng,               
Phút giây chợt tựa chó xanh lơ.       

Từ hai câu thơ trên cho ta thấy, Phù Vân 浮雲 là mây nổi bay trên trời có thiên hình vạn trạng và biến đổi vô thường, mới thấy như tà áo trắng đó, mà trong phút chốc đã thành như một chú chó màu xanh. Vì ...            Vân 雲 là mây, mà mây là hơi nước, là những hạt nước nhỏ li ti ngưng tụ lại mà thành, nên hình dáng không ổn định, khi tụ khi tán, khi bay nhanh khi lơ lửng, và mang đủ cả các màu sắc tùy theo thời điểm và thời tiết, ta thường nghe câu ca dao miền Bắc :
                      Trên trời có đám mây xanh,              
Ở giữa mây trắng chung quanh mây vàng.                     
   Ước gì anh lấy được nàng ...             

Mây Vàng 黃雲, mây thường xuất hiện sau cơn mưa lớn, nhất là sau một trận tuyết lớn, khi trời quang mây tạnh, do sự phản chiếu của ánh nắng mặt trời hắt ngược từ mặt đầt trở lên, nên mây mang màu vàng cả một vùng rộng lớn như bài thơ Biệt Đổng Đại của Cao Thích  đời Đường  :         

 
 Inline image Image result for 千里黃雲白日曛北風吹雁雪紛紛            

 


    千里黃雲白日曛,  Thiên lý hoàng vân bạch nhật huân,
            北風吹雁雪紛紛。  Bắc phong xuy nhạn tuyết phân phân.
            莫愁前路無知己,  Mạc sầu tiền lộ vô tri kỷ,
            天下誰人不識君。  Thiên hạ hà nhân bất thức quân.Diễn nôm :                                           
                Ngàn dặm mây vàng nắng úa hanh,
                Tuyết rơi gió cuốn nhạn bay nhanh
                Đừng sầu trước mặt không tri kỷ,
                Thiên hạ ai người chả biết anh !


       Vân 雲 thuộc dạng chữ Hội Ý Chỉ Sự, theo diễn tiến của chữ viết như sau :       

Giáp Cốt Văn   Đại Triện   Tiểu Triện    Lệ Thư         
          

Ta thấy :       

Từ Giáp Cốt Văn cho đến Đại Triện đều là hình tượng của hơi nước bóc lên cuộn thành những cuộn mây, đến Tiểu Triện thì được chồng thêm bộ Vũ 雨 là Mưa lên phía trên thành hình chữ Vân 雲 là Mây như chữ Lệ hiện nay. nên từ ghép đầu tiên của Vân là ...       
Vân Vũ 雲雨 : là Mây Mưa, có mây mới có mưa và mưa xuống là nhờ có mây, nên mây và mưa không thể tách rời ra được. Từ Mây Mưa còn chỉ sự ân ái giữa nam nữ với nhau do tích Vu Sơn Thần Nữ 巫山神女 như sau:        
Theo thần thoại Trung Hoa, con gái của Xích Đế 赤帝 là Dao Cơ 瑶姬, chết trẻ, chôn ở Vu Sơn, hồn phách không tan, biến thành Thần Nữ. Trong bài Cao Đường Phú của Tống Ngọc nước Sở thời Chiến quốc có ghi lại: Sở Vương đi chơi ở Cao Đường, mơ thấy Thần Nữ đến cùng ân ái, khi chia tay còn nói là "Đản vi triêu vân, mộ vi hành vũ 旦为朝雲,暮为行雨"( Thiếp kéo mây ở buổi sáng, làm mưa ở buổi chiều ). Theo quan niệm cổ xưa thì nữ thần và vua giao hợp có thể làm cho phong điều vũ thuận, ngũ cốc phong đăng. Có nghĩa : Mưa thuận gió hòa, lúa thóc được mùa. Nhưng dân gian lại không chịu hiểu theo nghĩa đó, hễ nhắc đến Sở Vương và Thần Nữ thì sẽ nghĩ ngay đến " Mây mưa ân ái giữa trai gái " mà thôi ! Vì thế, sau nầy hễ nhắc đến Thần Nữ Vu Sơn, Cao Đường Thần Nữ là người ta nghĩ ngay đến một giai nhân tuyệt sắc gợi tình, và nói đến Kéo mây làm mưa, hay nói gọn thành Mây Mưa, là người ta lại nghĩ ngay đến việc ái ân trai gái. Như cô Kiều đã ngăn Kim Trọng lại trong đêm gặp gỡ khi "Sóng tình dường đã xiêu xiêu",  mà kể lể rằng :

                   Ngẫm duyên kỳ ngộ xưa nay,
                Lứa đôi ai lại đẹp tày Thôi Trương.
                   
Mây Mưa đánh đổ đá vàng,
              Quá chìu nên đã chán chường yến anh...

                  Image result for 巫山神女 Inline image
                     Vu Sơn Thần Nữ  巫山神女
       Hay như trong Cung Oán Ngâm Khúc, Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều đã diễn tả nàng cung nữ tài sắc vẹn toàn, vừa đẹp vừa giỏi và cũng vừa ... gợi tình nữa, nàng hấp dẫn đến nỗi :
                       Bóng gương lấp ló dưới mành,                  
Cỏ cây cũng muốn nổi tình Mây Mưa !
       Trong bài Thanh Bình Điệu thứ hai, khi tả về nhan sắc và sức quyến rũ gợi cảm của Dương Quý Phi, Lý Bạch cũng đã nhờ tới Vu Sơn Thần Nữ :            

     一枝紅豔露凝香,   Nhất chi hồng diễm lộ ngưng hương,
             雲雨巫山枉斷腸.   Vân Vũ Vu Sơn uổng đoạn trường.
             借問漢宮誰得似,   Tá vấn Hán cung thùy đắc tự,
             可憐飛燕倚新妝.   Khả lân Phi Yến ỷ tân trang.
Diễn Nôm :
                Một cành hoa đẹp ngậm sương thơm,
                Mưa móc Vu Sơn cũng dỗi hờn.
                Dám hỏi Hán cung ai dám sánh,
                Thương nàng Phi Yến mới soi gương.
        

Dương Thái Chân đẹp đến nỗi Thần Nữ cũng phải hờn dỗi đoạn trường và Triệu Phi Yến mới soi gương để tân trang lại nhan sắc cũng phải chào thua ! Vì thế mà mở đầu cho bài Thanh Bình Điệu thứ nhất, thi tiên Lý Bạch đã phải hạ câu :
             雲想衣裳花想容, Vân tưởng y thường hoa tưởng dung,            

     春風拂檻露華濃。 Xuân phong phất hạm lộ hoa nùng.

Có nghĩa :               

Mây ngỡ xiêm y hoa ngỡ dung,              
Gió xuân phe phẩy đẹp vô cùng !             
       Mây buổi sáng thì gọi là Triêu Vân 朝雲, là những mảng mây màu vàng màu bạc rực rỡ ở phía trời đông khi mặt trời vừa mọc, nhưng buổi chiều thì lại gọi là Vãn Hà 晚霞, mà ta quen gọi là Ráng Chiều, là những áng mây màu rực rỡ phía trời tây khi mặt trời sắp chen lặn. Hà 霞 là Mây đủ màu đẹp đẽ, nên Hà Y 霞衣 là áo có thêu hình chim phượng hoàng và mây màu ngũ sắc rất đẹp cho hoàng hậu và các qúy phi mặc. Trong Truyện Kiều, Khi đã "nghênh ngang một cỏi biên thùy" rồi,  thì Từ Hải cho mười vị tướng quân và cung nga thể nữ đi đón Thúy Kiều với :
                  Sẵn sàng phượng liễn loan nghi,                 

Hoa quan chấp chới HÀ Y rỡ ràng !
            Image result for phật tổ như lai Image result for mây màu ngũ sắc Image result for quan âm bồ tát    
       Trên thực tế, ta chỉ thấy mây đủ màu sắc khi hoàng hôn xuống ở phía trời tây, nhưng trong hội họa hay điện ảnh thì mây ngũ sắc xuất hiện ở dưới chân hoặc sau lưng của các Thần Thánh Tiên Phật, và những đám mây đó được gọi là Tường Vân 祥雲, là Mây Lành rực rỡ để tôn tạo thêm hình tượng thiêng liêng khả kính của các vị Bồ Tát đó mà thôi. Chớ ban ngày ban mặt làm sao có được mây ngũ sắc để mà thấy ! Ta chỉ thấy mây với ba màu thường xuyên là : Xanh, Trắng và Đen .
       Mây xanh là Thanh Vân 青雲 : Có thể đây chỉ là ảo giác và lầm tưởng của " người trần mắt thịt ", vì Mây Xanh mà ta thường nhìn thấy chính là bầu khí quyển dày trên 100 cây số bao bọc quanh địa cầu. Nên ta cũng thường hay nghe câu : Cao vút tận mây xanh ! Thanh Vân ngày xưa vốn dùng để chỉ chí hướng của những người quân tử đức cao vọng trọng, sau mới dùng để chỉ những người hiển đạt làm quan, và  vì thế mà người xưa ví với việc thi đậu Tiến sĩ, Trạng Nguyên là Nhẹ bước Thanh Vân, là lên tận mây xanh rồi đó. Nên ta lại có các thành ngữ như : Thanh Vân Đắc Chí 青雲得志, hay Bình Bộ Thanh Vân 平步青雲, mà trong tiếng Nôm ta gọi là Nhẹ Bước Thang Mây, hay nói như cụ Nguyễn Công Trứ trong bài Chí Làm Trai là :                

Đường Mây rộng thênh thang cử bộ,                
Nợ tang bồng trang trắng vổ tay reo.
       Hay như cụ Nguyễn Du trong Truyện Kiều khi viết tiếp " Vương Kim cùng chiếm bảng xuân một ngày " để diễn tả Kim Trọng và Vương Quan thi đậu cùng khoa là :
                    Cửa trời rộng mở Đường Mây,              
Hoa chào ngõ hạnh hương bay dặm phần.   
       Và cụ thể hơn là tâm trạng rất có hậu của Kim Trọng khi thi đậu là nhớ ngay đến nàng Kiều :
                    Kim từ nhẹ bước Thanh Vân
               Nỗi nàng càng nghĩ xa gần càng thương
         

Thanh Vân không chỉ chỉ thi đậu, mà còn chỉ chung cho tất cả bá quan văn võ khi đạt đến đĩnh hiễn vinh, như khi cô Kiều khuyên Từ Hải quy hàng, vì : " Nghĩ mình mặt nước cánh bèo,Đã nhiều lưu lạc lại nhiều gian truân ", nếu quy thuận triều đình vẫn hơn suốt đời làm một loạn tướng :  
                   Bằng nay chịu tiếng vương thần,
             Thênh thang đường cái Thanh Vân hẹp gì !
         

Sau mây xanh là mây trắng, là Bạch Vân 白雲. Đây mới là mây thật sự mà bất cứ lúc nào ngước nhìn lên bầu trời ta cũng thấy được. Nhắc đến mây trắng, ta cũng nhớ ngay đến câu : " Bạch vân thiên tải không du du 白雲千載空悠悠 " trong bài Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu, mà cụ Tản Đà đã thoát dịch rất hay là :
               Nghìn năm mây trắng bây giờ còn bay ...                      

Image result for Nghìn năm mây trắng bây giờ còn bay   
      Hay như trong bài Ức Đông Sơn 憶東山 của Thi tiên Lý Bạch :
               不向東山久,    Bất hướng Đông sơn cữu,
               薔薇幾度花?    Tường vi kỷ độ hoa ?
               白雲還自散,    Bạch vân hoàn tự tán,
               明月落誰家?    Minh nguyệt lạc thùy gia ?Diễn Nôm :
                Đông Sơn lâu quá không qua,
                Tường vi mấy độ hoa đà phôi phai ?
                Ngẩn ngơ mây trắng còn bay,
                Trăng vàng rụng xuống nhà ai đêm này ?!

     ... và như mây trắng quyện lấy núi xanh trong bài " Ỷ Hồ 欹湖 " của Thi Phật Vương Duy :
               吹簫凌極浦,    Xuy tiêu lăng cực phố,
               日暮送夫君。    Nhựt mộ tống phu quân. 
               湖上一回首,    Hồ thượng nhất hồi thủ,
               山青卷白雲。    Sơn thanh quyển bạch vân.
                    Image result for 欹湖
Diễn Nôm :   
                     Thổi tiêu ra tận bờ,
                     Tiễn chàng chiều ngẩn ngơ.
                     Bên hồ quay nhìn lại,
                     Núi xanh mây trắng mờ !

Lục Bát :
                Thổi tiêu vẳng tận bến bờ,               
Trời chiều lòng thiếp ngẩn ngơ tiễn chồng.
                Quay đầu lòng những bâng khuâng,
        Núi xanh quyện lấy bạch vân ngỡ ngàng !

      " Ôi, cảnh biệt ly sao mà buồn vậy !" Thổi tiêu ra tận bờ hồ để tiễn chàng đi, nhưng khi người đà khuất bóng vẫn còn lưu luyến nhìn theo để chỉ còn thấy " Núi xanh quyện lấy bạch vân ngỡ ngàng " mà thôi!                                                                            
        Nhìn mây trắng bay còn làm cho kẻ ở miền xa nhớ nhung về quê cũ, vì tự ngàn xưa đã có biết bao nhiêu là thơ văn tả cảnh nhìn mây trắng bay mà nhớ thương về cố quốc. Như tâm trạng của Thúy Kiều khi hầu hạ Hoạn Thư :
                 Bốn phương mây trắng một màu,
                 Trông vời cố quốc biết đâu là nhà.

        Nhìn mây trắng bay mà nhớ nhà, có xuất xứ từ điển tích ghi trong Toàn Ðường Thư : Ðịch Nhân Kiệt 狄仁傑 (630-700) đời Ðường khi bị biếm làm quan tham quận ở Tinh Châu, nhưng cha mẹ ông cư ngụ ở Hà-Dương. Một hôm, lên núi Thái Hàng ngắm nhìn mây trắng bay nơi chân trời, ông nói với thuộc hạ rằng : "nhà cha mẹ ta ở dưới đám mây trắng kia kìa !". Từ đó văn học cổ lấy hình tượng mây trắng để nói lên nỗi nhớ thương cha  mẹ, và nơi chôn nhau cắt rốn đã sản sinh ra mình.        

Nhìn mây nhớ nhà còn là tích của Hàn Dũ (768-824), sau khi " Nhất phong triêu tấu cửu trùng thiên, Mộ biếm Triêu Dương lộ bát thiên 一封朝奏九重天 夕貶潮陽路八千 " ( Một phong tấu sớ buổi sáng  dâng lên vua, thì buổi chiều đã bị đày đi Triều Dương xa tám ngàn dặm  đường ). Khi đi đến Lam Quan thì trời đổ tuyết lớn, nên ông lại viết thêm hai câu thơ bất hủ là :
              雲橫秦嶺家何在,  Vân hoành Tần Lĩnh gia hà tại ?              
      雪擁藍關馬不前。  Tuyết ủng Lam Quan mã bất tiền.

Có nghĩa :                 

Mây ngang Tần Lĩnh nhà đâu tá  ?                 
Tuyết phủ Lam Quan ngựa khó đi !
        Image result for 雲橫秦嶺家何在 雪擁藍關馬不前 Image result for 雲橫秦嶺家何在 雪擁藍關馬不前
       Mây vắt ngang Tần Lĩnh, gọi tắt là Mây Tần, như lòng của cô Kiều nhớ nhà sau mười mấy năm lưu lạc :
                   Đoái thương muôn dặm tử phần,                 
Hồn quê theo ngọn Mây Tần xa xa !
       Hay như Nguyễn Bính, một thi nhân Tiền Chiến khi đi theo kháng chiến, lưu lạc vào Nam đã nhớ về đất Bắc mà kể lể với "Chị Trúc" là :                     
  Em ra bến nước trông về Bắc
                  Chỉ thấy Mây Trôi chẳng thấy làng !
       Hay như Quang Dũng, nôỉ tiếng là nhà thơ tài hoa của xứ Đoài mây trắng. Thơ ông hào sảng mà kiêu hùng, đầy thi vị như hai câu thơ sau đây :                 

...Tôi nhớ xứ Đoài mây trắng lắm 
                    Em có bao giờ em nhớ thương ?

       Trong ca dao dân gian, hình ảnh mây trắng cũng rất nên thơ gợi cảm với các câu :                   
         Trên trời mây trắng như bông,              
Ở dưới cánh đồng bông trắng như mây.                       
Cô kia má đỏ hây hây,              
Đội bông như thể đội mây về làng !
          Image result for   Ở dưới cánh đồng bông trắng như mây. Inline image
        Hết mây trắng thì đến mây đen. Mây Đen là Hắc Vân 黑雲 mà còn gọi là Ô Vân 烏雲 nữa. Ta có thành ngữ Ô Vân Mật Bố 烏雲密布 là Mây đen dày đặc, là mây đen mù mịt như bài học thuộc lòng ngày xưa của lớp Đồng ấu :                    
Ác vàng đang lúc tỏ trời,             
Bỗng đâu mây kéo khắp nơi mịt mù.                    
Giông giục giục, gió vù vù,             
Cây run lá đổ lao xao chật đường.                    
Bộ hành gặp cảnh thê lương,             
Tiểu thương buôn bán tìm phương ẩn mình.                     
Trên không sấm nổ liên thinh,              
Bên trời lửa nháng đầu ghềnh sóng xao.                    
Mưa tuôn xối xả ào ào,              
Giọt dài giọt vắn phủ bao mịt trời ...


           Inline image Inline image

       Lần đầu tiên xa nhà, lại phải theo cái tên Mã Giám Sinh còn chưa biết rõ lai lịch ra sao, lại ra đi một cách vội vã tất bật với " Đùng đùng gió giục mây vần, một xe trong cỏi hồng trần như bay ", cụ Nguyễn Du đã miêu tả tâm trạng Thuý Kiều với :
                      Nàng thì dặm khách xa xăm,          
      Bạc phau cầu giá Đen Rầm Ngàn Mây.                       
Vi lô san sát hơi may,                 
Một trời thu để riêng ai một người !
        Một điều thú vị nữa là Ô Vân 烏雲 còn có nghĩa các lọn tóc  được bới cao có hình thù như là những vần mây đen trên trời của các giai nhân cổ điển, như một câu trong bài từ của Hoa Nhạc 華岳đời Tống :              

金钗不整烏雲侧     Kim thoa bất chỉnh ô vân trắc

Có nghĩa :               
Thoa vàng không chỉnh tóc mây nghiêng.          

Cái búi tóc trên đầu của các người đẹp, còn gọi là Vân Kế 雲髻, Vân Mấn 雲鬢, như trong Trường Hận Ca của Bạch Cư Dị tả lúc Dương Qúy Phi tiếp sứ giả của Đường Minh Hoàng :
              雲髻半偏新睡覺,  Vân kế bán thiên tân thụy giác,
              花冠不整下堂來.    Hoa quan bất chỉnh hạ đường lai.
Có nghĩa :
              Tóc mây nghiêng lệch vừa tan mộng,
              Hoa miện nghiêng chao bước xuống giường .
       
Tóc mây dã dượi cũng là một nét hấp dẫn của người đẹp !


              Inline image Inline image Inline image
     Ô Vân, Vân Mấn hay Vân Kế, là Búi Tóc của các giai nhân xưa

             Image result for có bao nhiêu kiểu búi tóc của người xưaInline image
         Khi mới tấn cung, mới được nhà vua yêu dấu, thì Dương Quý Phi đã đủng đỉnh nũng nịu làm dáng với:              
雲鬢花顏金步搖   Vân Mấn hoa nhan kim bộ diêu

Có nghĩa :        

Tóc mai buông xõa như mây khi mới tắm xong với nét mặt  đẹp như hoa và cành trâm vàng "kim bộ diêu" lắc lư trên mái tóc. 

        Các bà các cô ngày xưa làm đẹp với làn tóc Mây, thề thốt với làn tóc Mây, như cô Kiều đã cắt tóc ăn thề với Kim Trọng : " Tóc Mây một món dao vàng chia đôi, Vầng trăng vằng vặc giữa trời, Đinh ninh hai mặt một lời song song ... ". Vợ chồng lấy nhau thì gọi là Kết tóc xe tơ, như Hoạn Thư với Thúc Sinh đã " Cùng chàng kết tóc xe tơ những ngày, Ở ăn thì nết cũng hay, Nói điều ràng buộc thì tay cũng già ..." Đến khi chán đời thì cắt tóc đi tu, như Thuý Kiều ở Quan Âm Các : " Tam quy ngũ giới cho nàng xuất gia, Áo xanh đổi lấy cà sa, Pháp danh lại đổi tên ra Trạc Tuyền... ". Khi về với Thúc Sinh và khi khuyên Thúc về thăm Hoạn Thư, thì Kiều cũng nhớ đến Kim Trọng với : " Tóc thề đã chấm ngang vai, nào lời non nước nào lời sắc son ...". Đến khi được sư Giác Duyên cứu về thảo lư thì lại sống với cuộc sống của Thiền môn : " Bốn bề bát ngát mênh mông, Triều dâng hôm sớm mây lồng trước sau "....
        Các giai nhân hồng nhan tạ thế còn được ví như Mây tan, hoa tàn, trăng khuyết ... như giai thoại văn chương lý thú sau đây:       

Mạc Đĩnh Chi (1284 - 1361) tự là Tiết Phu, người làng Lan Khê huyện Bàng Hà lộ Lạng Giang. Ông tướng mạo xấu xí, nhưng trí tuệ cực kỳ thông minh mẫn tiệp.
       Năm Hưng Long thứ 12 (1304) đời Trần Anh tông, ông đỗ trạng nguyên, làm Thái học sinh hỏa dũng thủ, sung Nội thư gia, sau thăng đến Tả Bộc Xạ dưới thời Trần Hiến Tông (1329-1341). Ông học rộng thông minh, tính liêm khiết, thẳng thắn, làm quan nhưng vẫn nghèo. Năm 1308 phụng mệnh Trần Anh tông đi sứ Nguyên, nhiều lần bị thử tài nhưng đều ứng đối trôi chảy, tỏ ra rất nhanh trí, tài năng và phẩm chất thông minh của ông khiến Nguyên triều trên dưới đều phải nể phục, nên được phong là Lưỡng Quốc Trạng Nguyên.
      Truyện kể rằng công chúa nhà Nguyên mất, sứ thần An Nam vào tế lễ, vua Nguyên đưa cho chánh sứ ta bài điếu văn viết sẵn, bảo đọc lên cho mọi người cùng nghe. Mạc Đĩnh Chi mở ra thì chỉ thấy viết có một chữ  Nhất 一, biết rằng đó là cách vua Nguyên thử tài, ông bèn lấy chữ "Nhất" đó làm đề văn, ung dung ứng khẩu đọc luôn:
              

青天一朵雲,     Thanh thiên nhất đóa vân
               烘爐一點雪,     Hồng lô nhất điểm tuyết
               上苑一枝花,     Thượng uyển nhất chi hoa
               瑤池一片月,     Dao trì nhất phiến nguyệt
               噫! 雲散 雪消 花殘 月缺.    Y! Vân tán, tuyết tiêu, hoa tàn, nguyệt khuyết!
Có nghĩa :
              Trời xanh một đóa mây,
              Lò hồng một điểm tuyết,
              Thượng uyển một cành hoa,
              Dao trì trăng một mảnh,
          Ôi ! Mây rả, tuyết tan, hoa tàn, trăng khuyết !

       Qủa là một bài điếu văn thương tiếc cho một giai nhân cành vàng lá ngọc một cách ngắn gọn mà vô cùng thương cảm với lẽ vô thường : Mây rả, tuyết tan, hoa tàn, trăng khuyết !
                                                            Đỗ Chiêu Đức
 


Phiếm về                      

THIÊN là TRỜI


                        Image result for THIÊN là TRỜI      

          Thiên 天 là Trời, Thiên 千 là Một Ngàn, Thiên 偏 là Thiên Lệch, Thiên 遷 là Di Dời ... Ở đây, ta chỉ nói đến chữ Thiên 天 là Trời, là phần không gian ở trên đầu của ta mà thôi. Theo "Chữ Nho ...Dễ Học", ta có chữ Nhân là người được viết như thế nầy 人. Đây là chữ Tượng Hình đơn giản nhất, cơ bản nhất và cũng ... Tượng hình nhất : Hình người đứng xoạt 2 chân hiên ngang giữa trời đất đúng như sách Tam Tự Kinh ngày xưa dạy : Tam tài giả, THIÊN ĐỊA NHÂN 三才者,天地人。( TAM TÀI là TRỜI, ĐẤT và NGƯỜI ). Con Người là một thành viên của vũ trụ, hợp với Trời và Đất tạo nên cái thế giới nầy !Nên ...
          Khi cần diễn tả sự to lớn thì chữ nhân 人 dang thêm hai tay ra theo lối CHỈ SỰ 指事  ( Mượn việc dang hai ta ra để chỉ sự to lớn gọi là Chỉ Sự  ) thành chữ ĐẠI 大 , theo diễn tiến của chữ viết sau đây :
    Giáp Cốt Văn     Đại Triện     Tiểu Triện     Lệ Thư
                           
  Nên...
          ĐẠI là To, là Lớn, cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng phát sinh : là Vĩ Đại, là Trưởng thành ... Nhưng ...
          Con người dù cho có cao lớn đến đâu cũng không thể cao lớn bằng Trời được, cho nên thêm một nét ngang tượng trưng cho bầu trời lên phía trên chữ Đại 大, thì ta có chữ THIÊN 天 là TRỜI, được hình thành theo lối HỘI Ý 會意 , theo diễn tiến của chữ viết như sau đây :
    Giáp Cốt Văn     Đại Triện     Tiểu Triện    Chữ Lệ 
                                 

Theo như Giáp cốt văn và Đại Triện ở trên, ta thấy rõ ràng hình người có cái đầu to tượng trưng cho Đầu Đội Trời, Chân Đạp Đất, gọi là " Đỉnh thiên lập địa 頂天立地 " như Từ Hải trong Truyện Kiều vậy :
                    ĐỘI TRỜI đạp đất ở đời,
              Họ Từ tên Hải vốn người Việt Đông.

 Nên ...
          Chữ Thiên 天 chỉ phần cao nhất của cơ thể con người, vượt lên trên đĩnh đầu cao vòi vọi, đó là Trời.
          Về mặt thể chất, thì con người không thể cao bằng Trời, lớn bằngTrời được, nhưng về chí khí thì cũng có những người có chí lớn muốn CHỌC TRỜI Quấy Nước làm nên những chuyện Kinh Thiên Động Địa. Cho nên, chữ Thiên 天 mà nhô đầu lên theo chiều dọc để CHỌC thủng Trời thì sẽ thành chữ PHU 夫 là người đàn ông cao lớn mạnh khỏe hiên ngang đứng giữa trời đất, theo diễn tiến của chữ viết như sau :
 
 

 Giáp Cốt Văn    Đại Triện       Tiểu Triện       Lệ Thư 
                   

Nên ...                     

PHU 夫 : là Người đàn ông trưởng thành, mạnh mẽ, hiên ngang mà các bà các cô ai cũng ước mong trở thành người hôn phối của mình, nên ...
         PHU 夫 còn có nghĩa là CHỒNG với các từ ghép nghe cho êm tai và âu yếm là : Phu Tế 夫婿, Phu Lang 夫郎, Phu Tướng 夫相, Trượng Phu 丈夫 ... Như trong Truyện Kiều tả lúc Từ Hải chia tay với Kiều để  lên đường lập nghiệp ....
                      Nửa năm hương lửa đang nồng,
             TRƯỢNG PHU thoát đã động lòng bốn phương.

         Chữ PHU 夫 lại làm cho ta ....
... Nhớ lại 2 câu thơ của nữ sĩ Hồ Xuân Hương trong bài "Không Chồng Mà Chửa" là :
                Duyên THIÊN chưa thấy nhô đầu dọc,
                Phận LIỄU sao đà nẩy nét ngang ?!

         Nữ sĩ đã chơi chữ bằng cách chiết tự rất lý thú và lí lắt như sau :        

Duyên THIÊN 天 là duyên trời run rủi, chưa thấy nhô đầu dọc, là chưa thành chữ PHU 夫, nghĩa là chưa có chồng.
         Phận LIỄU 了 (là Liễu bồ, là Phận gái) sao đà nẩy nét ngang ? Chữ LIỄU 了 mà " nẩy " nét ngang thì sẽ thành chữ TỬ 子 là CON. Nên 2 câu thơ trên có nghĩa :
                  Duyên trời nào thấy đâu run rủi,
                  Phận gái sao đà đã có con ?

        Trong dân gian Nam Kỳ Lục Tỉnh, ở Cái Răng Ba Láng quê tôi, lúc nhỏ tôi cũng thường nghe bà con lối xóm hát rằng :
                  Không chồng có chửa mới ngoan,
               Có chồng có chửa thế gian sự thường !

        Về chữ LIỄU 了 là Kết thúc, kết liễu, đồng âm với chữ LIỄU 柳 là Dương Liễu chỉ phái nữ mềm yếu dịu dàng ẻo lả như nhánh liễu. Ở đây, Hồ Xuân Hương đã chơi chữ bằng cách sử dụng từ Đồng Âm để đánh đồng 2 chữ Liễu theo âm Hán Việt. Chớ chữ Liễu là Dương Liễu thì làm sao có được nét ngang mà "nẩy" ?!
        Thiên 天 là Trời, chữ đầu tiên trong sách Tam Thiên Tự 三千字 của soạn giả Đoàn Trung Còn khi mới bắt đầu học chữ Nho hồi xưa :
        天 Thiên trời, 地 Địa đất, 舉 Cử cất, 存 Tồn còn, 子 Tử con, 孫 Tôn cháu, 六 Lục sáu, 三 Tam ba, 家 Gia nhà, 國 Quốc nước, 前 Tiền trước, 後 Hậu sau...                    
              Image result for thiên trời địa đất cử cất Image result for thiên trời địa đất cử cất 
         Thiên 天 là Trời, là phần không gian cao ngất ở trên đầu ta, nhưng trong dân gian theo tín ngưỡng của người dân Đông Á chịu ảnh hưởng của Nho Thích Đạo, thì Trời là thế giới của cỏi trên, có đủ các thành phần Tiên Phật Thần Thánh của thượng giới, và có đời sống giống như ở dân gian, đứng đầu là Ngọc Hoàng Thượng Đế mà ta quen gọi là Ông Trời, và ông Trời hiện diện đầy đủ trong các mặt vui buồn của cuộc sống con người, ta vẫn thường nghe các câu :       
- Vui qúa Trời !       
- Buồn qúa Trời !       
- Sướng qúa Trời !       
- Khổ qúa Trời !....         

Vui buồn sướng khổ gì đều kêu Trời cả ! Nên theo truyện cổ tích dân gian thì ... Ngày xửa ngày xưa, ông Trời ở rất gần ta, chỉ cao khỏi ba xào một chút mà thôi, nhưng vì hễ động một chút là người ta kêu Trời : Hôm nay ăn no qúa Trời; Con đói qúa Trời ơi ! Cái con nhỏ đó đẹp qúa Trời ! Nhỏng nhẻo qúa Trời; Thấy "ghét" qúa Trời đi !... Nhất nhất cái gì cũng kêu Trời, kể cả "Con mắc  ...  qúa Trời ơi !". Nên ... Ông Trời nghe thét rồi chán qúa mới "vọt" tuốt lên 9 từng mây mà ở trển luôn cho yên thân ! Chẳng những giới bình dân kêu trời, mà trong văn chương trí thức cũng kêu trời, như Vương Viên Ngoại trong Truyện Kiều, khi biết cô Kiều đã bán mình, ông cũng đã kêu lên :
                   Trời làm chi cực bấy Trời,             
          Này ai vu thác cho người hợp tan !?
hay lúc cô Kiều kể cho Vương Bà nghe về nhân cách của Mã Giám Sinh "Gẫm ra cho kỹ như hình con buôn" thì :                                       
                Vương Bà nghe bấy nhiêu lời, 
               Nỗi oan đã muốn vạch Trời kêu lên.  

hay khi bị Sở Khanh gạt, rồi còn muốn hành hung nữa, thì cô Kiều cũng đã kêu trời :
                 Nàng rằng : Trời nhé có hay !                 
            Quyến anh rủ yến sự này tại ai ?                 
                   Đem người đẩy xuống giếng khơi,                 
            Nói lời rồi lại ăn lời được ngay !                                                 

Thiên 天 là Trời, là phần đầu của con người như chữ Tượng Hình Hội Ý đã nói ở phần trên, nên trong sách tướng số gọi cái trán là Thiên Đình 天庭, phần giữa trán gọi là Thiên Môn 天門 và phần xương phía trên trán gọi là Thiên Linh 天靈, nên ta mới có từ Thiên Linh Cái 天靈蓋 là cái Mỏ Ác. Lúc còn bé thì phần Mỏ Ác nầy chỉ là một lớp sụn rất mềm, nên người lớn bắt nạt con nít hay nói câu : " Coi chừng tao cú cho một cái lủng Mỏ Ác bây giờ !". Khi lớn, Mỏ Ác đã cứng khó mà "cú" cho lủng, thì lại trở thành "cứng đầu cứng cổ"!.
          Image result for mỏ ác nằm ở đâu Inline image

        Từ Thiên Linh Cái 天靈蓋 còn tượng trưng cho cả Cái Đầu, cái Xương Sọ hoặc cái Đầu Lâu, như các thầy Pháp, thầy Phù Thủy luyện Thiên Linh Cái là chuyên sưu tập đầu lâu và xương sọ của các cô gái đã chết và như trong truyện "Trang Tử Cổ Bồn Ca 莊子鼓盆歌", mà ta quen gọi là truyện "Trang Tử Thử Vợ", thì  Thiên Linh Cái tượng trưng cho cái đầu với nội dung  câu truyện như sau :
         Trang Tử tên Chu 周 ( Châu ), tự là Tử Hưu 子休, người nước Tống 宋 thời Chiến Quốc (690-286 TCN), cùng vợ là Điền Thị ẩn cư ở phía nam núi Hoa Sơn. Một hôm, trên đường về nhà, trông thấy một thiếu phụ dùng quạt để quạt một nấm mộ bên đường. Trang Tử thấy lạ bèn hỏi, thiếu phụ cho biết là mộ của chồng mình, vì khi còn sống hai vợ chồng rất thương yêu nhau, nên có hẹn nhau là khi chồng chết, thì sau tang lễ, phải đợi cho mộ khô rồi mới tái giá, nhưng gần đây mưa gió cứ dập dìu, mộ không khô được, nên phải quạt cho mộ mau khô ! Trang Tử nghe nói, thầm cười cho thế thái nhân tình nhưng cũng thi triển pháp lực giúp thiếu phụ quạt khô mộ chồng. Khi về nhà, đem truyện kể lại với vợ là Điền Thị, Điền Thị vô cùng phẫn nộ, chê trách thiếu phụ và bảo rằng : " Trung thần bất sự nhị quân, Liệt nữ bất sự nhị phu 忠臣不事二君,烈女不事二夫". Có nghĩa " Tôi trung không thờ hai chúa, gái tiết liệt chẳng lấy hai chồng ". Mấy tháng sau, Trang Tử bệnh chết, có một thiếu niên anh tuấn dắt theo một lão bộc, tự xưng là Vương tôn của nước Sở, vì mộ tiếng của Trang Tử mà tìm đến để theo học đạo. Nay tuy Trang Tử đã mất, nhưng cũng nguyện thủ tang theo lễ thầy trò, ở lại cư tang một trăm ngày và để đọc Nam Hoa Kinh của Trang Tử. Điền Thị rất vui dạ vì cảm cái vẻ cao sang tuấn tú của Vương tôn, mới nhờ lão bộc làm người mai mối, rồi xuất tiền lo cho hôn sự của hai người. Đêm động phòng hoa chúc, Vương tôn bỗng phát bệnh đau tim, thoi thóp sắp đứt hơi. Lão bộc cho biết là nếu có óc của người sống hoặc của người chết chưa quá bốn mươi chín ngày hòa với rượu uống vào thì khỏi bệnh. Điền Thị bèn xách búa bổ quan tài của Trang Tử định lấy óc ra làm thuốc cứu mạng Vương Tôn.. Không ngờ khi quan tài vừa vỡ ra thì Trang Tử cũng vừa sống lại. Điền Thị cả thẹn, biết mọi việc đều do Trang Tử biến hóa an bày, nên treo cổ mà chết. Trang Tử gỏ bồn làm nhịp ca bài điếu tang rồi cảm khái ngâm rằng :
           從茲了卻冤家債, Tòng tư liễu khước oan gia trái,
           你愛之時我不愛。 Nhĩ ái chi thời ngã bất ái.
           若重與你做夫妻, Nhược trùng dữ nhĩ tố phu thê,
           怕你斧劈天靈蓋。 Phạ nhĩ phủ phách Thiên Linh Cái.
Có nghĩa :
              Từ nay đã hết nợ oan gia,
              Nàng bảo yêu, ta hết thiết tha.
              Tiếp tục vợ chồng như thuở trước,
              Có ngày búa bổ vỡ đầu ta.

        Ngâm xong, nổi lửa đốt sạch nhà cửa quan tài ở dưới núi Hoa Sơn rồi đi mất. Dân chúng quanh vùng chỉ nhặt lại được hai quyển Đạo Đức Kinh và Nam Hoa Kinh chưa bị thiêu rụi mà thôi.
        Inline imageInline image

       "Phủ phách Thiên Linh Cái" là búa bổ cho vỡ sọ đầu ra ! Đây là chuyện "Trang Tử Thử Vợ" thường tình của " cải lương ", của phim ảnh theo như truyện kể của dân gian đời Tống (960-1279), những người theo Tống Nho dùng để khuyến thế răn đời, chớ con người cao khiết siêu thoát với tư tưởng của Lão Trang như Trang Tử sao lại có thể dùng tiểu xảo gài bẫy để thử vợ một cách không quang minh chính đại như thế !?
        Trở lại với Thiên 天 là Trời, trong Nho Giáo THIÊN 天 không phải là Ông Trời, mà là Thiên Lý 天理 là cái Lẽ Trời, nói theo bình dân, là Cái Lý Lẽ tự nhiên công bằng chính trực, chí công vô tư, chí cao vô thượng của Trời, nên cái gì hợp với tự nhiên của nhân tình thế thái thì cái đó là ... Thiên. Ví dụ như :       -Thiên Lương 天良: là Tấm lòng lương thiện ngay thẳng bẩm sinh của trời ban, là cái Lương Tâm vốn có của con người, mà cụ Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu đã gán cho mình cái nghĩa vụ thiêng liêng là phải phổ biến, gợi mở, khơi dậy cái thiên Lương ở trong lòng mỗi người, nên ông mới mượn bài thơ " Hầu Trời " để nói thác :
              Trời rằng : " Không phải là Trời đày,
              Trời định sai con một việc này
              Là việc 
"thiên lương" của nhân loại,
              Cho con xuống thuật cùng đời hay"... 

    - Thiên Bình 天平: là Sự cân bằng thẳng hàng không thiên lệch về bên nào cả, là biểu tượng của Cán Cân Công Lý ở các tòa án, pháp đình, và là cái cân có 2 dĩa cân của các tiểu thương buôn bán ở ngoài chợ, một bên để trái cân một bên để hàng hóa lên đến khi nào cân bằng thì thôi. Nên... Thiên Bình là sự bình đẵng tự nhiên của trời, sự công bằng không thiên lệch cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng.          Inline image Image result for 天平 Image result for 天平      
Biểu tượng cái cân của tòa án ngầm bảo rằng mọi người đều bình đẵng trước pháp luật và trước... Trời !
   - Thiên Võng 天網: là Cái Lưới của Trời, nó không phải là cái lưới có thật, mà nó là biểu tượng của cái công cụ bảo vệ công lý của trời. Ai làm trái cái lý trời thì sẽ bị cái lưới nầy tóm lấy để trừng trị, như câu nói sau đây:
               Chủng qua đắc qua,     種瓜得瓜,
               Chủng đậu đắc đậu.     種豆得豆,
               Thiên võng khôi khôi,   天網恢恢,
               Sơ nhi bất lậu !            疏而不漏。

Có nghĩa :
               Trồng dưa thì được dưa,
               Trồng đậu thì được đậu.
               Lưới trời lồng lộng, 
               Tuy thưa nhưng không lọt !
      Ý muốn nói, gieo nhân nào sẽ gặt qủa nấy, làm lành sẽ gặp lành, làm ác sẽ gặp ác, không sai chạy bao giờ, chỉ sớm hay muộn mà thôi !
        Inline image Inline image
                      Thiên võng khôi khôi,   天網恢恢,
       Ông trời luôn luôn đứng về phía người hiền, người lương thiện, nên Tăng Quảng Hiền Văn cũng có câu :
             Nhân hữu thiện nguyện,   人有善願, 
             Thiên tất hựu chi !            天必祐之!
Có nghĩa :
             Người mà có những ước nguyện tốt lành, thì...
             Trời sẽ phù trợ ủng hộ cho người đó !
    - Thiên Chức 天職 : Không phải là cái chức tước do trời ban, mà là trách nhiệm vốn có mà trời đặt để cho mỗi con người trong xã hội. Như Thiên Chức của Cha Mẹ là phải nuôi dạy con cái cho nên người, và con cái thì phải biết hiếu thảo phụng dưỡng cha mẹ...
   - Thiên Bẩm 天禀, Thiên Tài 天才, Thiên Phú 天賦, Thiên Tư 天資 : đều là những cái sanh ra đã có sẵn mà trời ban riêng cho người nào đó mà người khác không thể có được. Như cụ Nguyễn Du đã khen cô Kiều :
                     Thông minh vốn sẵn Tư Trời,
                 Pha nghề thi họa đủ mùi ca ngâm.
            
Tư Trời là Thiên Tư của trời ban cho đó !      

Cái gì thuộc về tự nhiên thì đều gán hết cho Trời, và được gọi là  Thiên Nhiên 天然, ví dụ như Trời Mưa, Trời Nắng, Trời Gió... và Tai họa do những thứ đó gây ra như Mưa lũ, Hạn hán, Gió bão...đều được gọi là Thiên Tai 天災, là tai họa chết chóc, đổ vỡ do trời gây ra cho con người. Song song với Thiên Tai thì Trời cũng set-up sẵn một chỗ để tưởng thưởng cho những người lương thiện, mà tôn giáo nào cũng có, đó chính là Thiên Đàng 天堂, nơi yên vui sung sướng nhất mà mọi người đều mong ước. Tất cả những hiện tượng thời tiết mùa màng xảy ra chung quanh cuộc sống con người đều là những thứ sỡ hữu của trời như câu nói :
           Thiên hữu tứ thời xuân tại thủ,       天有四時春在首,
           Nhân sanh bách hạnh hiếu vi tiên.  人生百行孝為先。
Có nghĩa :
           Trời có bốn mùa thì mùa xuân là mùa đứng đầu, còn...
           Người thì có cả trăm phẫm hạnh, hiếu là phẩm hạnh trước tiên.
           Ông Trời làm nên tất cả, cả thân phận của con người cũng do trời đặt để, như cụ Nguyễn Du đã nói :
                 Trời kia đã bắt làm người có thân,
                 Bắt phong trần phải phong trần,
                 Cho thanh cao mới được phần thanh cao

       Bỉ sắc 彼嗇 thì tư phong 茲豐, có nghĩa Cái kia cạn thì cái nầy đầy, hết cơn bỉ cực thì đến ngày thái lai. Ông trời luôn bắt người ta phải " phong trần " trước, rồi mới cho " thanh cao " sau. Bắt cô Kiều phong trần mười lăm năm rồi mới cho gặp lại Kim Trọng. Thế mà khi đoàn viên lại phải cảm kích cái lòng tốt của ông trời :
               Trời còn để có hôm nay,
               Tan sương đầu ngõ, vén mây giữa trời.
               Hoa tàn mà lại thêm tươi,
               Trăng tàn mà lại hơn mười rằm xưa !

          Khéo mà nói sạo để... nịnh ông trời !
      Còn giới bình dân thì không khách sáo gì cả, vợ chồng cứ đẻ sòn sọt năm một, mỗi năm một đứa, nhà trên mười anh chị em là chuyện " thường tình " ở quê tôi, đời sống nheo nhóc nhưng lại rất lạc quan mà... đổ thừa cho ông trời :
            - Trời sanh trời nuôi.
            - Trời sanh voi sanh cỏ !
      Tội nghiệp cho ông trời, cứ đẻ cho đã rồi đổ thừa cho ông trời là xong ngay ! Nhưng... nói cũng lạ, " nhờ Trời " rồi tất cả cũng đều khôn lớn nên người, lắm gia đình lại còn trở nên khá giả giàu có nữa là đằng khác! Các Thầy Đồ ta ngày xưa thường nói :
                 Hữu nhi bần bất cửu,      有兒貧不久,
                 Vô tử phú bất trường.     無子富不長。
Có nghĩa :
              Có con thì nghèo không lâu, vì khi lớn lên con sẽ làm ra thêm của cải.. Còn ...    Không có con thì giàu không bền, vì không có ai làm thêm của cải cho mình. Nên các Cụ cứ... đẻ thả giàn !           

Thiên 天 là Trời, nên Thiên Hạ 天下 là dưới gầm trời nầy, là núi non sông nước, là đất đai ruộng vườn mầu mở của dân cư, là lãnh thổ, là cương thổ mà theo quan niệm phong kiến ngày xưa thì ai có tài thao lược giỏi giang, ai có đức trị dân thì sẽ là chúa tể của cái Thiên Hạ nầy, nên mới có thành ngữ Trục Lộc Thiên Hạ 逐鹿天下, có nghĩa là Đuổi bắt con nai trong thiên hạ nầy theo xuất xứ sau đây : 
             Inline imageImage result for 逐鹿天下典故                            

                                  Trục Lộc Thiên Hạ 逐鹿天下         

Theo "Sử Ký Hoài Âm Hầu Liệt Truyện 史記˙淮陰侯列傳": Tần chi cương tuyệt nhi duy thỉ, sơn đông đại nhiễu, dị tính tịnh khởi, anh tuấn ô tập. Tần thất kỳ lộc, thiên hạ cộng trục chi, ư thị cao tài tật túc giả tiên đắc yên.秦之綱絕而維弛,山東大擾,異姓並起,英俊烏集。秦失其鹿,天下共逐之,於是高材疾足者先得焉。Có nghĩa :
    " Giềng mối của nhà Tần đã hết nên lỏng lẻo, đất Sơn Đông đại loạn, các họ khác đều nổi lên, anh hùng các nơi tập hợp. Tần như làm sổng mất con nai, nên thiên hạ đều cùng đuổi bắt, vì thế, ai tài giỏi và nhanh chân thì sẽ bắt đựơc." Và...
      Các lộ anh hùng lại tiêu diệt lẫn nhau, cuối cùng đưa đến thế Hán Sở Tranh Hùng, như World-cup vào đến vòng chung kết vậy ! Nên...   
      Thiên Hạ là của chung, ai giỏi thì giành được. Ngày xưa, quan niệm Thiên Hạ là đất Trung Nguyên mầu mở với dân cư đông đúc, nên thành ngữ trên còn được nói là 
Trục Lộc Trung Nguyên 逐鹿中原, và tại sao phải là Lộc mà không phải là con vật khác ? Vì chữ Lộc 鹿 là con Nai đồng âm với chữ Lộc 祿 là Thiên Lôc 天祿, có nghĩa là " Lộc của trời ban", chính là cái ngôi vua của Thiên Tử 天子 là con trời, vì Thiên Tử mới là người xứng đáng hưởng Thiên Lộc mà thôi !
       Còn "Thiên Hạ" trong tiếng Việt Nam ta là Phiếm Chỉ Đại Từ, có nghĩa là : Người ta, Người Khác hay chỉ chung Quảng Đại Quần Chúng...như :
       - "Thiên hạ" đồn rằng...
       - Đó là chuyện của "thiên hạ", đâu phải chuyện của mình.
       - Hơi sức đâu mà lo chuyện của "thiên hạ" !...      

Ông tú Vị Xuyên Trần Tế Xương trong bài tứ tuyệt "Chợt Giấc" cũng đã buồn cho thời cuộc mà lẫy rằng :
                     Nằm nghe tiếng trống, trống canh ba,
                     Vừa giấc chiêm bao chợt tỉnh ra.
                     Thiên Hạ dễ thường đang ngủ cả,
                     Việc gì mà thức một mình ta ?!


       Còn Thiên Hạ trong đạo Phật là cỏi Ta-Bà, là bể khổ trầm luân, nên khi Bổn sư Thích Ca Mâu Ni thác sinh làm Thái Tử Tất Đạt Đa, sau khi đi bảy bước nở ra bảy đóa hoa sen thì một tay chỉ Trời, một tay chỉ đất và nói câu : Thiên Thượng Thiên Hạ Duy Ngã Độc Tôn 天上天下唯我獨尊, có nghĩa : " Trên trời dưới trời duy chỉ có TA là tôn qúy ". Cái TA hay cái NGÃ đó chính là Chân Ngã 真我, là Pháp Thân 法身thường trụ, không bao giờ hoại, bao trùm khắp không gian và thời gian mà chúng sinh đều có. TA đó chính là Phật Tánh 佛性, là Chân Tâm 真心 để giải thoát cho tất cả mọi loài khỏi trầm luân trong bể khổ của cái Thiên Hạ Ta-Bà nầy! Chính cái Phật Tánh đó là Thiên Hạ độc tôn, chớ không phải Đức Như Lai tự cho mình là độc tôn trong Thiên Hạ.
                   Inline image Image result for thien thuong thien ha duy nga doc ton  
        Trong quyển tiểu thuyết võ hiệp nổi tiếng của Kim Dung là " Thiên Long Bát Bộ " có một nhân vật nữ theo Đạo Gia là Thiên Sơn Đồng Mỗ,nhưng lại tu tập môn võ công của Phật Gia là " Thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn Công " rất lợi hại, bà ta cầm đầu và khống chế cả 81 Động và 72 Đảo võ lâm bàng môn tả đạo đều phải nghe theo lệnh của bà ta răm rắp .  
       Còn Thiên Hạ của Đạo Giáo 道教 ( Lão Giáo ) là Cỏi Hồng Trần 紅塵, nơi bụi bặm mịt mù mà con người chỉ là những cái hình chiếu từ cuộc sống thực tế ở trên trời, như Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều đã viết trong Cung Oán Ngâm Khúc là :
                      Cái quay búng sẵn trên trời,
                 Mờ mờ nhân ảnh như người đi đêm !

nên con người phải biết tu tập theo đạo pháp để trở về với cuộc sống thực ở trên trời, tức là thành Tiên để về nơi Thượng Giới !
       Thiên Hạ của ngày nay là Năm Châu Bốn Bể, là bề mặt của qủa địa cầu nầy, là cả thế giới như bài học thuộc lòng ngày xưa của lớp Đồng Ấu:
               ... Người bốn giống : đen, vàng, đỏ, trắng,
                   Trời bốn phương : nam, bắc, đông, tây.
                   Đi cho biết đó biết đây,
                   Ở nhà với mẹ biết ngày nào khôn ?!

       Thiên 天 là Trời, khi nào thì ta thấy được trời : Ban Ngày, nên Thiên 天 là Ban Ngày, như Tam Thiên Tam Dạ 三天三夜 là Ba ngày ba đêm. Thiên còn có nghĩa là Ngày, nên Kim Thiên 今天 là ngày hôm nay; Khi trời sáng trở lại là ngày hôm sau, nên Minh Thiên 明天 là ngày mai...          

Thiên còn có nghĩa là Thời Tiết, Mùa Màng, như : Thiên Vũ 天雨 là Trời mưa, nhưng Vũ Thiên 雨天 là Mùa Mưa. Tương tự, Thiên Tình 天晴 là Trời nắng, Tình Thiên 晴天 là Mùa nắng. Như thời tiết ở Miền Nam nước ta, mỗi năm chỉ có 2 mùa Mưa và Nắng, theo như câu nói :
                    Tứ thời vô xuân hạ,         四時無春夏,
                    Nhất vũ tiện thành thu.   一雨便成秋。
Có nghĩa :
             Bốn mùa không có xuân hạ gì cả, hễ...
             Mưa xuống một cái thì thành mùa thu ngay !
        Thiên còn là cái gì cao quý nhất, cần thiết nhất, như câu nói trong sách Hán Thư 漢書 : Vương giả dĩ dân vi thiên, nhi dân dĩ thực vi thiên 王者以民為天,而民以食為天. Có nghĩa : " Bậc vương giả lấy dân làm cao nhất, còn dân thì lấy cái ăn làm cao nhất."
                    Inline image

        Ý nói : Vua thì coi dân là cần thiết nhất, vì không có dân thì làm vua với ai đây ? Còn dân thì coi cái ăn là cần thiết nhất, vì không có cái ăn thì làm sao mà sống ?! Câu nói nầy thường hay bị nói sai thành : Dân dĩ thực vi TIÊN 民以食為先, có nghĩa : Dân thì lấy cái ăn làm trước hết. Sai mà không Sai, chỉ là một cách nói khác đi mà thôi, nhưng ý của chữ TIÊN 先 không mạnh bằng ý của chữ THIÊN 天 là Cao nhất, là Cần thiết nhất.  
       Thiên 天 là Trời, Thăng Thiên 升天 là Lên trời, Phi Thiên 飛天 là Bay lên trời, còn Quy Thiên 歸天 là Về trời, là chết. Nhưng không phải ai chết cũng được về trời, vì trời chỉ có 9 tầng mà thôi, ta hay nghe nói Cửu Trùng Thiên 九重天, còn địa ngục thì có tới 18 tầng lận, gấp đôi số tầng của trời. Điều nầy cho thấy là ở trên đời người xấu nhiều gấp đôi người tốt, nên Địa Ngục phải xây 18 tầng mới đủ chỗ chứa !         Về từ Cửu Trùng Thiên 九重天, ngoài nghĩa là 9 tầng trời ra, Cửu Trùng Thiên còn được dùng để chỉ ông vua thời phong kiến ngày xưa, như 2 câu thơ mở đầu trong bài thơ Tả Thuyên chí Lam Quan thị điệt tôn Tương 左遷至藍關示侄孫湘 của Hàn Dũ đời Đường :
             Nhất phong triêu tấu Cửu Trùng Thiên,   一封朝奏九重天,
             Tịch biếm Triều Dương lộ bát thiên.        夕貶潮陽路八千 .
 Có nghĩa :
             Buổi sáng trình lên nhà vua một phong tấu sớ,
             Buổi chiều bị đày đi Triều Dương xa tám ngàn dặm đường.
             Image result for 一封朝奏九重天  Inline image

       Cửu Trùng Thiên 九重天 là Vua, còn được gọi là Đấng Cửu Trùng, hay Cửu Trùng mà trong tiếng Nôm ta gọi là Chín Tầng, như câu thơ trong đoạn mở đầu của Chinh Phụ Ngâm do Nữ sĩ Đoàn Thị Điểm diễn Nôm :
                Trống Trường Thành lung lay bóng nguyệt,
                Khói Cam Tuyền mờ mịt thức mây.
                CHÍN TẦNG gươm báu trao tay,
                Nửa đêm truyền hịch định ngày xuất chinh.

       Thiên còn là Thiên Thời 天時, ngoài nghĩa chỉ Thời tiết mùa màng ra, Thiên Thời còn có nghĩa là Thời Cơ của Trời, là cái cơ trời vận hành đến một lúc nào đó, như Thúy Vân đã phân bua :
                        Cơ Trời dâu bễ đa đoan,
                Một nhà để chị riêng oan một mình !

        Ta thường nghe câu nói trong sách Mạnh Tử là "Thiên thời bất như địa lợi, địa lợi bất như nhân hòa 天時不如地利,地利不如人和". Có nghĩa : Thời cơ của trời không bằng lợi thế của đất, cái lợi thế của đất không bằng cái hòa đồng hòa hợp của con người. Ví dụ như :            
Fifa World-cup 2018 kỳ rồi tổ chức ở Russia, nên đội bóng Nga có lợi thế về THIÊN THỜI là đã quen với thời tiết giá lạnh của xứ mình; ĐỊA LỢI vì được đá ở sân nhà; NHÂN HÒA vì có cổ động viên đông nhất so với các đội bóng khác. Nên đội Nga đã thắng đậm ngay trận đầu 5-0 trước Saudi Arabia và đi một lèo đến Tứ Kết, trở thành 8 đội bóng mạnh nhất hành tinh! 
            Inline image

       Thiên thời 天時, Địa lợi 地利, Nhân hòa 人和 còn được nói thành Thiên Tường 天祥, Địa Nghi 地宜, Nhân Thuận 人顺. Có nghĩa :
      * Thiên Tường 天祥 : là cái Điềm lành của trời, là cái mặt tốt về thời cơ, thời vận, là Thiên Thời đó.
      * Địa Nghi 地宜 : là cái Tiện nghi của đất, của cái nơi mà ta định làm hay cái chỗ mà sự việc xảy ra, là Địa Lợi đó. 
      * Nhân Thuận 人顺 : là Nhân sự được suông sẻ, mọi người đều đồng ý, không ai chống đối, là Nhân Hòa đó.
       Nhưng đối với bà con lối xóm ở quê tôi thì THIÊN TƯỜNG là " Thương Tiền ", từ dùng để chỉ những người keo kiệt hà tiện mà tham lam chỉ biết có TIỀN, cả câu như thế nầy :                    
"Thiên tường tác biệt hựu thu sương ". Có nghĩa là :" Thương tiền, Tiếc bạc lại Thương xu ".       
Có một câu chuyện vui kể rằng : Có ông trưởng giả nhà quê nọ mời bạn ăn mừng thọ lục tuần. Thiệp mời có kèm theo môt câu như thế nầy : Sách có câu chữ rằng " Xuân đình hiền tạ tống mặt khơi ". Câu sách đó có nghĩa là : " Xin đừng hà tiện tới mặt không !".
          Cái Thời Cơ của Trời, chính là cái Thiên Lý  đã được đề cập ở phần đầu bài viết nầy, nói lên cái lý lẽ công bằng tự nhiên của Trời, như câu : 
                      Tử sinh hữu mệnh,   死生有命,
                      Phú quý tại thiên.     富貴在天.
Có nghĩa :
                 Chết sống đều có số mạng,
                 Giàu sang là do trời ban.
    ... và không phải ai cũng được trời ban, phải đúng với cái lẽ trời thì mới được, như trong Minh Tâm Bửu Giám ghi lại câu nói nổi tiếng của Khổng Minh Gia Cát Lượng là :  
                Mưu sự tại nhân,                       謀事在人,
                Thành sự tại thiên.                    成事在天,
                Nhân nguyện như thử như thử,  人願如此,如此,
                Thiên lý vị nhiên vị nhiên !         天理未然,未然!
Có nghĩa :
               Mưu tính công việc là ở người, còn...
               Thành công hay thất bại là do trời,
               Người muốn như thế nầy, như thế nầy đây, nhưng...
               Cái lẽ trời cho biết là còn chưa được, còn chưa được ! 
                  Image result for 謀事在人 成事在天 Inline image

       Gia Cát Khổng Minh là người giỏi cả binh thư thao lược, trên thông thiên văn dưới thông địa lý, mang chí lớn muốn khôi phục lại nhà Hán, lập rất nhiều công lớn trong việc giúp Lưu Bị tam phân thiên hạ, lập nên nhà Thục Hán, nhưng lục xuất Kỳ Sơn đều thất bại, cuối cùng đành ôm hận mà chết với câu than bất hủ là " Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên " như đã nêu trên.
       Con người khi còn nằm trong bụng mẹ, chưa được sanh ra, chưa thấy trời, thì gọi là Tiên Thiên 先天. Được sanh ra rồi, mở mắt đã thấy trời rồi, thì gọi là Hậu Thiên 後天. Hằng ngày phải đầu tắt mặt tối đội trời để làm việc kiếm sống, thì gọi là Thiên Thiên 天天. Vui vẻ trong cuộc sống thì gọi là Lạc Thiên 樂天. Buồn thảm trong cuộc sống thì gọi là Bi Thiên 悲天. Khi nhắm mắt xuôi tay rồi thì gọi là Quy Thiên 歸天. Tuổi thọ và những năm tháng mà ta có được gọi là Thiên Niên 天年.
      Mong rằng tất cả đều quy thiên 歸天 trong cái tâm tình lạc thiên 樂天 để đều được vui  hưởng những thiên niên 天年 tuyệt vời trong cuộc sống!
                                                                        Đỗ Chiêu Đức





 
Phiếm về                             

ĐỊA cũng là ĐẤT


                       alt
       Thổ 土 là Đất, Địa 地 cũng là Đất, là Địa Cầu 地球 , là qủa đất mà chúng ta đang cư trú. Theo bài học thuộc lòng của lớp Đồng Ấu ngày xưa :
                    Đi cho biết đó biết đây,
                    Ở nhà với mẹ biết ngày nào khôn.
                    Kìa thế giới năm châu quanh quất,
                    Đường bao nhiêu thì đất bấy nhiêu,
                    Sông to núi lớn cũng nhiều,
                    Đường đi lối lại trăm chiều ngổn ngang...

       Thế giới có Năm Châu Bốn Biển.       

Năm Châu là :
       Châu Á, Châu Âu, Châu Phi, Châu Mỹ và Châu Úc ( còn gọi là Châu Đại Dương  ). Nhưng theo quy ước của đa số các nước trên thế giới thì có đến 6 Châu, vì sau nầy người ta còn khám phá ra một vùng đất mới ở Nam Cực, gọi là Châu Nam Cực. Nhưng... lại nhưng, theo Mỹ thì Châu Mỹ gồm 2 châu lục là Nam Mỹ Châu và Bắc Mỹ Châu. Nên Thế Giới của người Mỹ có đến 7 châu lục, chớ không còn là 5 châu nữa ! Còn ...        Bốn Bể là bốn Đại Dương gồm có : Thái Bình Dương, Đại Tây Dương, Ấn Độ Dương và Bắc Băng Dương. Ngày trước còn có thêm một Nam Băng Dương nữa, vì người ta cứ ngỡ là nếu băng tan chảy hết thì sẽ là một đại dương như ở vùng Bắc Cực, nhưng nay đã biết rằng nó là một châu lục : Châu Nam Cực chớ không phải là một băng dương nữa !                        
Image result for 地球


         Bốn Biển là do từ Tứ Hải 四海 của người Hoa mà ra. Khi xưa, khoa học địa lý chưa phát triển, người Hoa cứ tưởng Thiên Hạ là đất Trung Nguyên, và mảnh đất nầy được bao quanh bởi 4 biển Đông Tây Nam Bắc. Theo cái Thế Giới Quan nầy, Bốn Biển tức là Thiên Hạ đó, cho nên trong thi từ ca phú của văn học xưa hay nhắc đến câu : Tứ Hải giai Huynh đệ 四海皆兄弟 là " Bốn bể đều là anh em ". Vân du tứ hải 雲遊四海 là : Lang bạt khắp nơi, và để chứng tỏ có chí hơn người còn lớn giọng mà ngâm rằng : Đại trượng phu tứ hải vi gia 大丈夫四海為家 là : Đấng đại trượng phu thì lấy bốn biển làm nhà, để tỏ ra ta đây có chí lớn !       


Trở lại với từ Địa Cầu 地球 là Trái Đất, là hành tinh xanh trong Thái dương hệ có sự sống của trên hàng triệu sinh vật, trong đó có con người, có chúng ta. Chữ Địa 地 vốn nghĩa là "Mảnh đất" thuộc bộ Thổ 土 là Đất theo diễn tiến của chữ viết như sau :             

          Đại Triện       Tiểu Triện          Lệ Thư  
                                  

Cách tính năm theo Tử Vi Đẩu Số thì trên có Thiên Can 天干 là : Giáp Ất Bính Đinh Mậu Kỷ Canh Tân Nhâm Qúy 甲、乙、丙、丁、戊、己、庚、辛、壬、癸, gọi là Thập vị Thiên Can; còn dưới thì có Địa Chi 地支 là: Tý Sửu Dần Mão Thìn Tỵ Ngọ Mùi Thân Dậu Tuất Hợi 子、丑、寅、卯、辰、巳、午、未、申、酉、戌、亥", gọi là Thập Nhị Địa Chi. Cứ một Thiên Can thì ghép với một Địa Chi, như :              

Giáp   ghép với   Tý là     Giáp Tý 甲子.
              Ất      ghép với   Sửu là   Ất Sửu 乙丑.
              Bính   ghép với   Dần là   Bính Dần 丙寅 ...cứ thế mà ghép... Nhưng vì Thiên Can chỉ có 10 mà Địa Chi đế 12, cho nên ghép đến khi giáp một vòng trở lại Giáp Tý là 60 năm. Nói cho dễ hiểu : Đứa bé nào sanh ra trong  năm nay là năm Mậu Tuất 2018 ( 1 tuổi ), thì đến năm 61 tuổi ta  cũng sẽ là năm Mậu Tuất ( 2078).      
Thập Nhị Địa Chi còn dùng để tính giờ theo Tử Vi Đẩu Số, như :
      * Giờ Tý là từ 11 giờ đêm hôm trước cho đến 01 giờ sáng của ngày hôm sau. Cho nên ta mới thường nghe câu : 
                      Nửa đêm, giờ Tý, canh ba,
                   Vợ tôi, con gái, đàn bà, nữ nhi !

               ... tất cả đều "sem-sem" như nhau !
      * Giờ Sửu là từ 01 giờ đến 03 giờ sáng.
      * Giờ Dần là từ 03 giờ đến 05 giờ sáng. Nên ta mới có câu : " Trời sáng giờ Dần, Nắng lên giờ Mão ". Vì...
      * Giờ Mão là từ 05 đến 07 giờ sáng. Nên các cụ Đồ xưa lại có câu :                    

                     Mạc ẩm Mão thời tửu,  莫飲卯時酒,
                    Hôn hôn túy đáo Dậu.  昏昏醉到酉。
Có nghĩa :
         Đừng bao giờ uống rượu vào giờ Mão, vì sẽ...
         Say say xỉn xỉn cho đến giờ Dậu (là 05 giờ chiều đến 07 giờ tối).         

Vậy là suốt ngày sẽ say xỉn mà không làm ăn gì được cả !, Và vì ...
      * Giờ Dậu là từ 05 giờ chiều cho đến 07 giờ tối, nên lại có câu :
                    Mạc mạ Dậu thời thê,   莫罵酉時妻,
                    Nhất dạ thụ cô thê.      一夜受孤悽。
Có nghĩa :
        Đừng mắng vợ vào giờ Dậu, vì mắng vào giờ nầy thì...
        Suốt đêm phải chịu cô đơn lạnh lẽo một mình !( Vợ chồng cải lộn vào buổi chiều tối thì suốt đêm cũng sẽ chẳng "làm ăn" gì được cả !). Ông bà ngày xưa cũng "tâm lý" chán !
            Địa 地 là Đất, cho ta các từ Địa Cầu 地球 là Trái đất; Địa Xác 地壳 là Vỏ trái đất, Địa Chất 地質 là Chất cấu tạo và giá trị lịch sử của các lớp đất, Địa Tâm 地心 là Lòng đất, Địa tâm dẫn lực 地心引力 là Sức hút của lòng trái đất tạo nên trọng lượng trên mặt đất ... Nếu bỏ chữ Tâm ra phía trước ta sẽ có từ ...
     * Tâm Địa 心地 : Chỉ lòng dạ sâu kín của con người, như Tâm Địa Thiện Lương 心地善良 là Lòng dạ hiền lành; Tâm Địa Hiễm Độc 心地險毒 là Lòng dạ nham hiễm ác độc, như cô Kiều đánh giá Sở Khanh :
                       Nàng rằng thề thốt nặng lời,
                    Có đâu mà lại ra người hiễm sâu.

hay như cụ Nguyễn Du nói về Hoạn Thư :
                       Bề ngoài thơn thớt nói cười,
             Mà trong nham hiễm giết người không dao !
     

Trong tiếng Nôm ta cũng có từ " Độc Địa " vốn để chỉ " Tâm địa độc ác ", nhưng sau dùng rộng ra để chỉ tất cả những thứ gì có hại, không có lợi, như : Món ăn đó độc địa lắm; lời nói đó thật độc địa....
       Mặt đất bằng phẵng thì gọi là Bình Địa 平地, nên thành ngữ Bình Địa Ba Đào 平地波濤 là Đất bằng dậy sóng, như khi về nhà thấy Thúc Sinh đã chuộc Thúy Kiều là một cô gái lầu xanh về chung sống, Thúc Ông đã " sốt gan ông mới cáo quỳ cửa công ", gây nên cảnh :
                      Đất Bằng Nổi Sóng đùng đùng,
                 Phủ đường sai lá phiếu hồng thôi tra.

.... và như  trong bửa tiệc đoàn viên, sau khi đã " Tàng tàng chén cúc dở say " Thúy Vân mới đứng dậy phân bua :
                      Rằng : Trong tác hợp cơ trời,
                    Hai bên gặp gỡ một lời kết giao.
                      Gặp cơn 
Bình Địa Ba Đào,
               Vậy đem duyên chị buộc vào duyên em...

             Image result for  Vậy đem duyên chị buộc vào duyên em...  Image result for  Vậy đem duyên chị buộc vào duyên em...
        Bỏ hết đi phần ao hồ, sông ngòi, biển cả, thì một phần ba còn lại của qủa địa cầu nầy là Lục Địa 陸地, là phần Đất Liền mà chúng ta đang ở. Lục 陸là Bờ bến, là đất liền, nên Đăng Lục 登陸 là Đổ Bộ, như Đăng Lục Nguyệt Cầu 登陸月球 là Đổ Bộ lên mặt trăng; ; Thuỷ quân lục chiến 水軍陸戰 là Lính Thủy đánh bộ, Lục Quân 陸軍 là Lính tác chiến trên bộ để phân biệt với Hải quân 海軍 là Lính đánh nhau dưới biển và Không quân 空軍 là Lính bay trên trời bỏ bom xuống !
        Tất cả đất đai trên bề mặt địa cầu đều gọi là Thổ nhưỡng 土壤 hay Thổ Địa 土地. Đất để canh tác ruộng nương là Điền Địa 田地, đất để ở là Cư Địa 居地, ta gọi là Địa Cư. Cơ quan trông coi và quản lý đất đai gọi là Địa Chính 地政. Người sỡ hữu đất đai gọi là Địa Chủ 地主. Hình thể của miếng đất là Địa Hình 地形, Cái thế cao thấp hiễm trở hay thuận lợi của đất là Địa Thế 地勢...
        Địa 地 còn là từ chỉ nơi chốn, như Địa Điểm 地點, Địa Chỉ 地址, Địa Phận 地份, Địa Khu 地區, Địa Bàn 地盤, Địa Đầu 地頭 ... Ta có thành ngữ :
     * Địa Đầu Giới Tuyến 地頭界線 là nơi giáp ranh biên giới với nước láng giềng, nơi mà các anh lính thú ngày xưa trấn thủ lưu đồn, hay các anh lính chiến VNCH gát giặc ở tiền đồn hiu hắt.     

* Thử Địa 此地 là Đất nầy, là Nơi đây, như bài thơ ngũ ngôn tứ tuyệt rất hay của Sầm Tham đời Đường như sau :
                 此地曾居住,   Thử địa tằng cư trú,
                 今來宛似歸。   Kim lai oản tự quy.
                 可憐汾上柳,   Khả lân Phần thượng liễu,
                 相見也依依。   Tương kiến dã y y !
                  Inline image 
Có nghĩa :
              Nơi nầy trọ những năm qua,
              Nay về thăm lại như là người thân.
              Thương thay hàng liễu sông Phần,
              Gặp nhau quyến luyến như không nở rời !

       Bề mặt của Địa Cầu là Mặt Đất, Nơi sinh sôi nẩy nở của các nguồn sống, kể cả động vật và thực vật, mà cũng là nơi an nghỉ cuối cùng cho muôn loài vạn vật. Vui từ đất mà ra, buồn cũng từ đất mà ra và oán hận thì lại tìm về với đất. Ta hãy nghe lời thơ của Vi Thừa Khánh 韋承慶 với bài Nam Hành Biệt Đệ 南行別弟 ( Giả biệt em trai xuôi về Nam ):                

                澹澹長江水,    Đạm đạm Trường giang thủy,
                悠悠遠客情。     Du du viễn khách tình.
                落花相與恨,     Lạc hoa tương dữ hận,
                到地一無聲。     Đáo địa nhất vô thinh!
Nghĩa bài thơ :
       Nước sông Trường Giang lửng lờ nhạt nhẻo trôi một cách vô vị ( đạm đạm ), cũng như cái tình của kẻ xa quê hương dài dằng dặc và dai dẵng kia ( du du ). Cánh hoa rụng cũng tựa như cái hận sầu của kẻ xa quê, âm thầm rơi trên mặt đất mà chẳng buồn gây nên một tiếng động nào cả !
        Ví hoa rụng như lòng kẻ lưu vong, oán hận mà âm thầm không bày tỏ cùng ai được !
                  Inline image
DIỄN NÔM :
                 Lơ lửng nước Trường Giang,
                 Mênh mang tình viễn khách.
                 Hoa rụng hận chứa chan,
                 Im lìm không oán trách !
  Lục bát :
                 Lửng lơ giòng nước Trường Giang,
                 Như tình viễn khách mênh mang bời bời.
                 Hận cùng như cánh hoa rơi,
                 Âm thầm trên mặt đất rồi lặng yên !
 
DCD_Dia.jpg
 
                                    Bản viết tay của ĐCĐ năm 1972
       Bề mặt địa cầu còn có những cơn động đất làm sập đổ lâu đài, chôn vùi thành phố, tạo nên những đợt sóng thần cuốn trôi nhà cửa, hoa màu súc vật... mà ta gọi là những cơn Địa Chấn 地震, tác hại lắm khi còn hơn cả chiến tranh. Trong chiến tranh thì ta có các từ về Địa như :
  - Địa Lôi 地雷: Ta quen gọi là mìm, chôn dưới đất.
  - Địa Đạo 地道 hay Địa Huyệt 地穴 là những con đường hay hang hầm được đào ở dưới đất nhằm phục vụ cho chiến tranh du kích.
  - Địa Cần 地勤 : là những chuyên viên kỹ thuật của Không Quân phục vụ ở sân bay dưới đất.
  - Chiến Địa 戰地: là Nơi mà hai bên dàn quân để đánh nhau, như trong Chinh Phụ Ngâm của nữ sĩ Đoàn Thị Điểm :                      
                     Xưa nay chiến địa dường bao. 
                Nội không muôn dặm xiết bao dãi dầu.                    

Chiến Địa còn gọi là Chiến Trường 戰場 hay Chiến Tuyến 戰線. Nhắc đến từ chiến tuyến lại làm ta nhớ đến lời hát của bài hát "Khúc tình ca hàng hàng lớp lớp" của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông :
           ... Dù nơi chiến tuyến ... mịt mờ mưa bay, Lòng anh vẫn nhớ ... tình người hôm nay...                    Inline image  Inline image

         Nói đến chữ Địa, ta không thể không nhắc đến Địa Lý 地理, Địa Lý là cái Lý của Đất, là môn học chuyên nghiên cứu về các vùng đất, địa hình, dân cư và các hiện tượng trên mặt Đất. Từ xa xưa đã có môn học nầy rồi, nên ta hay nghe các cụ khen những tướng cầm quân tài giỏi như Khổng Minh Gia Cát Lượng là " Trên thông Thiên Văn, dưới thông Địa Lý ", biết lúc nào thì trời có mưa gió sương mù, biết nơi nào có địa thế núi non hiễm trở mà điều binh khiển tướng...         

Địa Lý còn là những địa hình phong thủy có liên quan mật thiết đến đời sống con người mà các thầy Địa Lý phong thủy đã bày vẽ thêm để hù dọa và ăn tiền của những người cả tin nhẹ dạ. Ví vụ như nói " Nhà ở phải Bối Sơn Diện Thủy 背山面水 ". Có nghĩa là : Nhà ở phải cất xây mặt về hướng có nước và phía sau nhà phải dựa vào núi cho vững chãi. Điều nầy rất hợp với thực tế của cuộc sống mà không cần phải có thầy Địa Lý nói ta cũng thấy được : Nhà cất xây mặt về hướng sông nước sẽ dễ dàng cho việc lấy nước uống, chài lưới và tiện lợi cho việc giao thông bằng đường thủy... Sau nhà có núi sẽ dễ dàng cho việc tìm củi, hái rau trái, săn chim muông, thú rừng... Nên dân gian mới có câu nói mĩa mai rằng :
                            Hòn đất mà biết nói năng,
                     Thì thầy Địa Lý hàm răng chẳng còn !
 
           Image result for Địa Lý thế giới Image result for Địa Trung Hải 地中海
                      Địa Lý thế giới                 Địa Trung Hải
         Học Địa Lý thế giới còn để mở rộng thêm kiến thức, biết thêm nhiều Địa Phương 地方 và Địa Danh 地名 của những nước khác, đồng thời cũng biết được thêm nhiều phong tục tập quán của tất cả các dân tộc trên thế giới nầy. Học Địa Lý để biết được rằng trong một phần ba đất liền nhỏ bé của Địa Cầu còn có một cái biển mà mấy năm nay đã nhấn chìm và chôn xác biết bao người Libya, Syria, Irak, châu Phi ... tìm cách vượt biên sang Châu Âu để tìm đất sống mới. Đó chính là Địa Trung Hải 地中海, phần biển cả ở giữa châu Á châu Phi và châu Âu.        

Học Địa Lý để còn biết được cái Địa Vị 地位, cái chỗ đứng của nước ta trong Đông Nam Á và trên trường quốc tế quan trọng đến cở nào, tác động đến những nước chung quanh ra sao, để còn biết tự hào mà đóng góp công sức nhỏ nhoi của mình để xây dựng và bảo vệ đất nước.         

Địa Vị 地位 là cái Vị trí địa lý được đặt để bởi thiên nhiên cho một nơi, một địa phương hay một nước. Dùng rộng ra Địa Vị còn chỉ vị trí, chức vụ, quyền hạn của một người nào đó trong công ty, trong xã hội... Nhưng ở đời hễ " Càng cao danh vọng thì càng dày gian nan ". Biết thế nhưng mọi người đều muốn với cao hơn để có một địa vị xã hội mà mình hằng mong ước, cho dù " gian nan" cũng mặc !       

Địa là đất, đất linh thiêng sẽ sản sinh ra người tài giỏi, như đất Hoa Lư sản sinh ra Đinh Tiên Hoàng Đinh Bộ Lĩnh , đất Lam Sơn sản sinh ra Bình Định Vương Lê Lợi, đất Bình Định sản sinh ra vua Quang Trung Nguyễn Huệ... Nên ta có thành ngữ Địa Linh Nhân Kiệt 地靈人傑 : Cuộc đất linh thiêng sẽ tạo nên những anh hùng hào kiệt. Thành ngữ này có xuất xứ từ bài " Đằng Vương Các tự 滕王閣序 " của Vương Bột 王勃, một trong Tứ kiệt đời sơ Đường :
           Image result for 滕王閣序 王勃 Image result for 滕王閣序 王勃                    
Vương Bột 王勃 (650-676), tự là Tử An 子安, người đất Giáng Châu,  Long Môn (tỉnh Sơn Tây ngày nay) cha là Vương Phúc Cơ làm huyện lệnh Châu Hoan. Giao Chỉ. Lên sáu tuổi đã nổi tiếng thần đồng, thuộc làu kinh sử. 14 tuổi đoạt khôi nguyên kỳ thi đối sách của triều đình. Năm 16 tuổi trên đường đi thăm cha, hay tin Đô Đốc Diêm Bá Dư trấn nhậm Hồng Châu trùng tu Đằng Vương Các mở cuộc thi thơ văn và khoản đãi tân khách bốn phương. Chủ ý muốn khoe tài con rễ là Ngô Tử Chương, nên đã cho Chương trau chuốt sẵn một bài phú thật hay để ngày hôm đó viết lại. Bột hay tin muộn, thời may có cụ già mách cho Bột rẻ thuyền vào Chương Giang sẽ có gió giúp đưa đến Đằng Vương Các. Bột nghe theo lời, đến đêm quả có gió lớn nổi lên chỉ trong một đêm mà vượt qua 800 dặm đường ( có thể là nhờ gió của đêm Trùng Cửu mùng 9 tháng 9 ). Kịp lúc Đằng Vương Các vừa phát giấy bút chiêu đãi khách làng văn. Thấy Bột chỉ là một thằng bé con, Đô Đốc Diêm Bá Dư không muốn cấp giấy bút, nhưng Bột kiên quyết muốn làm văn. Diêm bèn cho người đứng phía sau lưng Bột, hễ Bột viết được câu nào thì chép lấy dâng đến cho Diêm xem, hễ thấy không xong là tống cổ ra khỏi buổi tiệc ngay. Khi Bột mở đầu bài văn bằng câu : Nam Xương cố quận, Hồng Đô tân phủ 南昌故郡,洪都新府 ( Xưa là quận Nam Xương, nay là phủ Hồng Đô ), thì Diêm cười và bảo : Cũng là sáo ngữ của các thầy Đồ Nho mà thôi. Đến câu : Tinh phân Dực Chẩn, Địa tiếp Hành Lư 星分翼軫,地接衡廬 ( chỉ địa thế của Đằng Vương Các : Phân chia giữa sao Dực và sao Chẩn, còn đất thì nối tiếp giữa Hành Sơn và Lư Sơn ) thì Diêm lặng thinh. Lại đến câu : Vật hoa thiên bảo, long quang xạ Ngưu đẩu chi Khư. Nhân kiệt địa linh, Từ Trĩ hạ Trần Phồn chi tháp 物華天寶,龍光射牛斗之墟;人傑地靈,徐稚下陳蕃之榻 ( Của đẹp báu trời, ánh long quang chiếu sao Ngưu sao Đẩu; Đất linh người giỏi, cao nhân Từ Trĩ hạ giường Trần Phồn ) thì Diêm lại tỏ ra vô cùng kinh ngạc. Kịp đến câu : Lạc hà dữ cô vụ tề phi, thu thủy cộng trường thiên nhất sắc 落霞與孤鶩齊飛,秋水共長天一色 ( Ráng chiều cò trắng cùng bay, Long lanh thu thủy nước mây một màu ) thì ông không còn dằn được cảm xúc, vỗ bàn đứng dậy khen là tuyệt cú ! Rồi giấu nhẹm luôn bài phú làm sẵn của con rể không dám trình làng. Vương Bột nổi tiếng luôn từ đấy và bài Tự của Vương Bột cũng được lưu truyền thiên cổ với các câu trở thành Thành Ngữ như :
     * Lão Đương Ích Tráng 老當益壯 :  Già mà còn mạnh khỏe.
     * Cùng Thả Ích Kiên 窮且益堅 : Nghèo mà biết kiên trì phấn đấu.
     * Thiên Cao Địa Quýnh 天高地迥 : Trời cao đất rộng.
     * Hứng Tận Bi Lai 興盡悲來 : Hết vui tới buồn.
     * Quan San Nan Việt 關山難越 : Núi non khó vượt.
     * Bình Thủy Tương Phùng 萍水相逢 : Bèo nước gặp nhau .....
           Image result for 滕王閣序 王勃 Image result for 滕王閣序 王勃      
    Vì tích của Vương Bột, nên ta lại có câu :
             Thời lai phong tống Đằng Vương Các    時來風送滕王閣
Có nghĩa :
        Khi thời đã đến rồi thì sẽ có gió đưa đến Đằng Vương Các ngay. Trong Truyện Kiều để tả tình duyên thuận lợi của Hoạn Thư với Thúc Sinh, cụ Nguyễn Du cũng mượn tích nầy :
                   Duyên Đằng thuận nẽo gió đưa,
              Cùng chàng kết tóc se tơ những ngày.
  
... và như trong Đại Nam Quốc Sử Diễn Ca của Lê Ngô Cát và Phạm Đình Toái, bài thứ 8 tả lại mối tình giữa Công chúa Tiên Dung và Chữ Đồng Tử có câu :
                   Tiên-dung gặp buổi đi chơi, 
            Gió đưa Đằng-Các, buồm xuôi Nhị-Hà,
     

Hay như trong Bích Câu Kỳ Ngộ, tả lại mối tình tiên tục giữa Tú Uyên và Giáng Kiều cũng có câu :
                   Gác Đằng Vương mấy dặm khơi, 
                 Có duyên đành đã gió trời thổi đưa.

              Inline image Inline image

      Trên trời thì có Thiên Đàng, tương tự dưới đất cũng có Địa Đàng. Nhưng Vườn Địa Đàng trong Kinh Thánh là câu chuyện thường được sử dụng để giải thích nguồn gốc của tội lỗi và sai phạm của con người. Theo quan niệm Á Đông thì đối chiếu với Thiên Đàng 天堂 nơi dành cho những người tốt, là Địa Ngục 地獄, nơi mà những người xấu xa tội lỗi phải bị đày đọa trừng trị. Phật Giáo thì gọi là Địa Ngục A Tỳ 地獄阿鼻, Tiếng Phạn là Avīci Naraka. A Tỳ là Không gián đoạn, nên A Tỳ Địa Ngục là nơi những người ác phải chịu khổ nhục liên tục không gián đoạn. Theo Đạo Giáo thì 18 Tầng Địa Ngục do Thập Điện Diêm Vương cai quản, và A Tỳ Địa Ngục nằm ở tầng thứ 18 nầy, dùng để chứa những người làm ác nhất thiên hạ !     

Địa Tạng Vương Bồ-tát 地臟王菩薩 là vị Bồ tát giàu lòng nhân ái, được biết đến bởi lời nguyện cứu độ tất cả chúng sinh trong lục đạo luân hồi vào thời kỳ sau khi Phật Thích-ca Mâu-ni nhập Niết-bàn cho đến khi Bồ-tát Di Lặc hạ sanh, và nguyện không chứng Phật quả nếu địa ngục chưa trống rỗng. Ngài qủa là vị Bồ-tát của chúng sinh dưới địa ngục. Hình tượng trên các bàn thờ Phật của Ngài trong các đám tang, đội mũ thất phật và mặc cà-sa màu đỏ, có tạo dáng giống như là Đường Tăng trong Tây Du Ký vậy.
            Inline image Inline image                            
                Địa Tạng Vương Bồ-tát 地臟王菩薩
        Con người sống giữa trời đất, hợp với trời đất thành TAM TÀI 三才 : THIÊN ĐỊA NHÂN 天地人, nên hễ có bất cứ sự cố vui buồn gì xảy ra là cứ lôi cả trời đất vào trong cuộc sống của con người, vì thế mà ta có rất nhiều thành ngữ, khẩu ngữ liên quan đến Trời Đất như :
    1. Đĩnh Thiên Lập Địa 頂天立地 : Ta nói là Đội trời đạp đất.
    2. Kinh Thiên Động Địa 驚天動地 : Ta nói là Động trời động đất.
    3. Hôn Thiên Ám Địa 昏天黯地 : Ta nói là Tối trời tối đất.
    4. Phiên Thiên Phúc Địa 翻天覆地 : Ta nói là Nghiêng trời lở đất.
    5. Mai Thiên Oán Địa 埋天怨地 : Ta nói là Than trời trách đất.
    6. Đàm Thiên Thuyết Địa 談天說地 : Ta nói là Nói trời nói đất.        

Nói đủ thứ chuyện trên trời dưới đất.
    7. Hoa Thiên Tửu Địa 花天酒地 : Hoa trời rượu đất, ý nói là :        
Ăn chơi đàn điếm mút mùa. Ăn chơi lu bù trời đất.
    8. Hồ Thiên Hồ Địa 胡天胡地 : Quậy trời quậy đất, ý nói là : Quậy cho tới bến. Quậy đến nỗi không còn biết trời đất gì cả!
    9. Hoan Thiên Hỉ Địa 歡天喜地 : Mừng trời vui đất, ý nói là :  Vui mừng qúa đỗi. Vui qúa trời qúa đất !
  10. Tạ Thiên Tạ Địa 謝天謝地 : Ta nói là Tạ trời tạ đất, là :  Cám ơn trời cám ơn đất, là Cám ơn Trời Đất!        Mười thành ngữ trên, lúc còn đi học, chúng tôi gọi cho vui là " Thập Đại Thiên Địa 十大天地 ". Mười cái TRỜI ĐẤT lớn nhất mà ta thường thấy trong cuộc sống hàng ngày !      

Từ Địa cuối cùng của bài viết nầy là từ Nghĩa Địa 義地 : Vốn là nơi công cộng để chôn cất người nghèo; sau nầy là những nơi của tư nhân mua để cho người trong dòng họ chôn cất hay của đoàn thể, đồng hương mua để an táng người qúa cố. Ở Việt Nam ta thì thường là của người Quảng Đông hay Triều Châu lập nên để chôn cất đồng hương. Nghĩa Địa 義地 âm Quảng Đông là " Dì tì "; âm Triều Châu là " Nghì tỳ ", nên người Việt ta đọc trại thành " Nhị Tì ", và vì vậy mà ta có kiểu nói để chỉ cái chết là " Hui Nhị Tì nhập thổ ", hay đơn giản hơn là: " Nó đã Hui Nhị Tì rồi !"      

Từ Nhị Tì lại làm cho ta nhớ đến bài hát " Nủa Đêm Ngoài Phố " của Trúc Phương là :
          ... Buồn vào hồn không tên. Thức giấc nửa đêm nhớ chuyện xưa vào đời. Đường phố vắng đêm nao quen 
một người. Mà yêu thương trót trao nhau trọn đời....           Inline image  Inline image đã được các danh hài Tùng Lâm, Phi Thoàng sửa lại thành :
          ... Buồn vào hồn Ma-ri, tôi nhớ cái đêm nàng đi dưới ánh đèn bên Nhị Tì, nàng bước tới... trao tôi...khúc bánh mì, và đưa luôn cho con gà rô-ti ...
     Xin được kết thúc bài viết nầy, không phải với " Thâp Đại Thiên Địa ", mà với... khúc bánh mì , ... con gà rô-ti, nhưng không có Nhị Tì. Ở Mỹ nầy chỉ có Funeral home ( nhà Tang lễ ) và nhà Hỏa táng mà thôi ( Đất chôn người chết mắc quá không kể !)..
                                                            Đỗ Chiêu Đức

      Thơ NGUYỄN VĂN SIÊU

 DCD_NgVSieu.jpg

              Chân dung Nguyễn Văn Siêu

 

       Nguyn Văn Siêu 阮文超 (1798-1872) tên khác là Định 定, tự Tốn Ban 遜班, hiệu Phương Đình 方亭 và Thọ Xương cư sĩ 壽昌居士, thuỵ Chí Đạo 志道, người làng Kim Lũ, huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Đông. Đỗ phó bảng năm 1838 đời vua Minh Mệnh. Ông là người cùng thời với Cao Bá Quát, hai người nổi tiếng có tài văn thơ mà dân gian hay truyền tụng là "thần Siêu thánh Quát". Nguyễn Văn Siêu làm quan đến chức án sát, có sang sứ Trung Hoa.

       Nguyễn Văn Siêu sáng tác rất mạnh, các tác phẩm của ông khá đồ sộ. Về thơ ca, cơ bản ông có các tập thơ:
- Anh ngôn thi tập 英言詩集 (2 quyển, 141+162 bài) gồm các bài thơ sáng tác khi ông ở Thăng Long
- Lưu lãm tập 流覽集 (2 quyển, 177+128 bài) gồm các bài thơ sáng tác khi ông ở Huế
- Mạn hứng thi tập 漫興詩集 (187 bài) gồm các bài thơ sáng tác khi ông rời Huế về Thăng Long
- Vạn lý tập ... 

                                                                                    ( nguồn : Thiviennet )



       Vua Tự Đức đã từng khen :


                        Văn như SIÊU QUÁT vô Tiền Hán,


để chỉ văn tài siêu việt của Nguyễn Văn Siêu và Cao Bá Quát, nhưng có biết đâu rằng Nguyễn Văn Siêu cũng giỏi thơ không thua TÙNG TUY chút nào cả !


       Mời đọc các bài thơ sau của Nguyễn Văn Siêu sẽ rõ !...



1. Bản chữ Hán cổ của bài Xuân Nhật Hiểu Khởi :


春日曉起      XUÂN NHẬT HIỂU KHỞI

t
宿火明書牖,    Túc hỏa minh thư dũ,
曉鍾聞佛臺。    Hiểu chung văn Phật đài.
主人催被起,    Chủ nhân thôi bị khởi,
小子報花開。    Tiểu tử báo hoa khai.
夜氣融孤竹,    Dạ khí dung cô trúc,
晴光弄小梅。    Tình quang lộng tiểu mai.
流鶯囀不已,    Lưu oanh chuyển bất dĩ,
應有故人來。    Ưng hữu cố nhân lai !
         阮文超                       Nguyễn Văn Siêu

 DCD_NgVSieu_Truc.jpg

     

 * Chú Thích :


  - Túc Hỏa : Đèn hoặc nến ban đêm để thắp sáng.
  - Thư Dũ : Cửa sổ bên bàn học.
  - Hiểu Chung : Chuông chùa công phu buổi sáng.
  - Thôi Bị Khởi : Đẩy cái mền ra ngồi dậy, ý chỉ thức giấc.
  - Tiểu Tử : Ở đây không có nghĩa là CON NHỎ mà là Tiểu Đồng, Thư Đồng để đối với chữ CHỦ NHÂN ở trên.
  - Dung : là Hòa, Tan, lẫn vào.
  - Tình Quang : là Ánh Nắng.
  - Chuyển : là Uyển Chuyển, là tiếng hót véo von, líu lo.
  - Ưng Hữu : Chắc có, Có thể có.

* Nghĩa Bài Thơ :
                                   SÁNG XUÂN THỨC GIẤC 
          Đèn đêm còn chiếu sáng song cửa sổ, đã nghe tiếng chuông công phu buổi sáng ở Phật đài. Chủ nhân vừa tung chăn thức giấc thì tiểu đồng đã báo cho biết là hoa sáng đã nở rồi. (Mở cửa ra thì thấy) Hơi đêm còn như đang tan vào bụi trúc cô đơn trước ngõ và ánh nắng ban mai le lói như đang ghẹo cành mai nhỏ trước sân, tiếng chim oanh bay lượn không ngừng hót líu lo, như báo trước chắc là có bạn cũ đến chơi.

* Diễn Nôm :
                   Đèn đêm còn soi song cửa,
                   Đã nghe chuông sớm ngân nga.
                   Chủ nhân tung chăn thức giấc,
                   Tiểu đồng báo sáng nở hoa.
                   Hơi đêm tan vào tre lạnh,
                   Nắng sớm ghẹo cội mai già.
                   Tiếng oanh líu lo không ngớt,
                   Chắc là bạn đến thăm ta !

  Lục bát :
                   Đèn còn hắt sáng cửa song,
            Phật đài đã vẳng chuông ngân đầu ngày.
                   Chủ nhân thức giấc vươn vai,
            Thư đồng đã báo nở vài cành hoa.
                   Hơi đêm nhành trúc la đà,
            Vài tia nắng sớm ghẹo hoa mai vàng.
                  Chim oanh ríu rít rộn ràng,
            Chắc là có bạn thuận đàng ghé chơi !


                                                  Đỗ Chiêu Đức

 

DCD_NgVSieu_sangXuan.jpg

 

2. Bản chữ Hán cổ bài Hiểu Tọa :


  曉坐  t         HIỂU TỌA
曉坐對茶甌,   Hiểu tọa đối trá âu,
空心懶應接。   Không tâm lãn ứng tiếp.
雞鳥聲復聲,   Kê điểu thanh phục thanh,
晴雲布亂蝶。   Tình vân bố loan điệp.
      阮文超             Nguyễn Văn Siêu


* Chú Thích :
  - Trà Âu : Bình sành, chén sành dùng để uống trà. 
  - Lãn : là Lười biếng.
  - Tình Vân : là Mây tạnh, là Trời quang mây tạnh.
  - Bố : là Phân tán, rải khắp.


* Nghĩa Bài Thơ :

                                  Ngồi Chơi Buổi Sáng
          Buổi sáng ta ngồi đối diện với bộ đồ trà mà trong lòng cảm thấy trống trải, lười biếng không muốn ứng tiếp với ai cả. Hết tiếng gà gáy rồi tiếng chim kêu nối tiếp nhau, trời quang mây tạnh nên đàn bướm đổ xô ra bay loạn khắp nơi ( thật là bực mình hết sức !).


          Qủa là, người buồn cảnh có vui đâu bao giờ ! Ngồi uống trà buổi sáng, trời quang mây tạnh, có gà gáy, có chim hót, có bươm bướm lượn bay, cảnh đẹp là thế, nhưng vì tâm lý của tác giả không vui, nên mới đâm ra uể hoải lười biếng chẳng muốn giao tiếp với ai và bực mình cả với tiếng gà gáy chim kêu bướm lượn !
                            
 * Diễn Nôm :
                      Sáng ngồi trước ấm trà,
                      Lòng buồn chẳng thiết tha.
                      Gà gáy rồi chim hót,
                      Mây tạnh bướm nhởn nha

 Lục bát :
                 Sáng buồn ngồi trước bình trà
                 Cỏi lòng trống trải chẳng tha thiết gì
                 Chim kêu gà gáy liền khi, 
                 Trời quang lũ bướm loạn phi khắp cùng ! 


                                                              Đỗ Chiêu Đức 

     

 DCD_NgVSieu_Ga.jpg

3. Bản chữ Hán cổ của bài thơ Tĩnh Tọa :


      靜坐  t                      TĨNH TỌA
書永午雞辰一叫,      Thư vĩnh ngọ kê thần nhất khiếu
簾垂到地人過少。      Liêm thùy đáo địa nhân qua thiểu.
無風半樹微微搖,      Vô phong bán thụ vi vi diêu,
葉裡打蟲穿出鳥。      Diệp lý đả trùng xuyên xuất điểu.

             阮文超                                  Nguyễn Văn Siêu


* Chú Thích :
  - Tĩnh Tọa : còn được đọc là Tịnh Tọa, là Ngồi yên một chỗ.
  - Thư : là Động từ, có nghĩa là Đọc sách.
  - Ngọ Thần : là Giờ Ngọ; Ngọ Kê Thần : là Con gà gáy vào giờ Ngọ.
  - Đả Trùng : Không phải Đánh Sâu, mà là Bắt Sâu.
  - Xuyên Xuất : là Chui ra.

 

* Nghĩa Bài Thơ :
                                        Lặng Ngồi
            Đọc sách cho đến lúc gà gáy trưa gáy lên, Ta lặng ngồi trong phòng có rèm phủ đến mặt đất và rất ít người qua lại mà ngắm cảnh bên ngoài. Trời không có gió lớn nên nửa thân cây chỉ hơi giao động, ta thấy một con chim bắt sâu chui ra khỏi đám lá xanh !

 

* Diễn Nôm :
                               Lặng Ngồi
                   Đọc sách đến trưa gà gáy nắng,
                   Buông rèm tới đất người qua vắng.
                   Gió yên cây lặng lá lay lay,
                   Trong lá bắt sâu chim một móng !

 Lục bát :
                   Đọc sách đến gà gáy trưa,
                   Rèm buông sát đất đường thưa vắng người,
                   Gió yên cây lặng êm trời,
                   Chui ra trong lá chim loài bắt sâu !


                                                         Đỗ Chiêu Đức

DCD_NgVSieu_TienDinh.jpg 

4. Bản chữ Hán cổ của bài thơ Đình Tiền Bộ Nguyệt :


 庭前步月    ĐÌNH TIỀN BỘ NGUYỆT


掃地焚香坐,  Tảo địa phần hương tọa,
空心待月生。  Không tâm đãi nguyệt sanh.
清影移梅至,  Thanh ảnh di mai chí
西廂遶竹行。  Tây sương nhiễu trúc hành.

          阮文超                      Nguyễn Văn Siêu


* Chú Thích :
  - Đình : là Sân nhỏ ở trong khuôn viên nhà; ĐÌNH TIỀN là Trước sân.
  - Phần Hương : là Đốt nhang, thắp hương.
  - Đãi Nguyệt Sanh : là Đợi trăng mọc.
  - Tây Sương : là Mái nhà mé tây.
  - Nhiễu : là Vòng quanh

 

* Nghĩa Bài Thơ :
                            Đi Bách Bộ Ngắm Trăng Trong Sân Nhà
            Quét sạch đất, thắp nhang rồi ngồi đó, giữ cho lòng thanh thản để đợi trăng lên. Cái bóng của cây mai thanh thanh đang di chuyển đến gần ta, thì ra trăng đã lên rồi, ta theo hướng mái tây mà đi vòng theo những hàng tre bên đó.


     Từ TÂY SƯƠNG ( Mái Tây ) làm cho ta nhớ đến bài thơ trong Tây Sương Ký của Nguyên Chẩn đời Đường :


                待月西廂下,  Đãi nguyệt Tây sương hạ,
                迎風戶半開。  Nghinh phong hộ bán khai.
                拂墻花影動,  Phất tường hoa ảnh động,
                疑是玉人來。  Nghi thị ngọc nhân lai.
Có nghĩa :
                Đợi trăng dưới mái tây,
                Cửa hé gió hây hây.
                Bên tường hoa lay động,
                Phải người ngọc tới đây ?!
                                             Đỗ Chiêu Đức

DCD_NgVSieu_maiTay.jpg              

 

* Diễn Nôm :
                   Quét đất thắp hương ngồi,
                   Thảnh thơi chờ trăng mọc.
                   Bóng mai đã di dời,
                   Mái tây vòng tre trúc !

  Lụcbát :
               Thắp hương quét đất ta ngồi,
               Thảnh thơi đợi giữa lưng trời trăng lên.
               Bóng mai đã xế kề bên,
               Vòng theo bờ trúc bên thềm mái tây !


                                                   Đỗ Chiêu Đức

DCD_NgVSieu_Thuda.jpg 

5. Bản chữ Hán cổ của bài thơ Thu Dạ Thính Vũ :


 秋夜聽雨     THU DẠ THÍNH VŨ


海國三秋半,  Hải quốc tam thu bán,
山城一雨初。  Sơn thành nhất vũ sơ.
寂寥群動息,  Tịch liêu quần động tức,
涓滴夜聲疏。  Quyên trích dạ thanh sơ.
隨葉空庭際,  Tùy diệp không đình tế,
敲金萬瓦餘。  Xao kim vạn ngõa dư.
還家此夕夢,  Hoàn gia thử tịch mộng,
不畏路沮洳。  Bất uý lộ tự như.
         阮文超             Nguyễn Văn Siêu

 

* Chú Thích :
   - Hải Quốc : Tỉnh thành ở gần biển hay Các nước ở sát bờ biển như VN ta vậy.
   - Tịch Liêu : Tịch mịch cô liêu là Buồn bã vắng vẻ.
   - Quyên Trích : Tiếng mưa dột lộp độp, tí tách.
   - Xao Kim : là Gỏ vào kim loại.
   - Ngõa : là Ngói lợp nhà.
   - Tự Như : là Bùn sình lầy lội.

 

* Nghĩa Bài Thơ :
                                 Đêm Thu Nghe Mưa
      Ở gần vùng biển đã hơn ba mùa thu rồi, cái thành ở trên núi cao nầy bắt đầu vào mùa mưa. Mọi hoạt động đều ngưng trệ trong vắng lặng buồn bã, tiếng mưa cứ thánh thót rơi đều suốt đêm, tiếng lá cây cứ xào xạt trong sân và hạt mưa đập lên muôn vạn tấm ngói trên mái nhà như tiếng kim loại chạm vào nhau. Đêm nay nếu như mơ được về nhà thì không phải sợ đường xa trơn trợt lầy lội nữa !

 

* Diễn Nôm :
                    Hơn ba thu gần biển,
                    Thành cao mưa vào mùa.
                    Buồn thiu ngày vắng lặng,
                    Rả rít đêm gió lùa.
                    Lá xạc xào sân vắng,
                    Ngói tí tách nước khua.
                    Mộng về đêm nay sẽ,
                    Chẳng sợ đường lầy mưa !

  Lục Bát :
                 Gần biển hơn ba năm nay,
                 Thành cao trên núi mưa ray rức buồn.
                 Im lìm vắng lặng mưa tuôn,
                 Tí ta tí tách mưa luồn suốt đêm.
                 Xạc xào sân vắng bên thềm,
                 Ngói khua chí chát như kim loại hòa.
                 Đêm nay nếu mộng về nhà,
                 Sẽ không phải sợ mưa sa bùn lầy !


                                                       Đỗ Chiêu Đức

 DCD_NgVSieu_Dakhedo.jpg

6. Bản chữ Hán cổ của bài thơ Dã Khê Độ :


   野溪渡             DÃ KHÊ ĐỘ
細雨埋前路,    Tế vũ mai tiền lộ,
飛花斷野橋。    Phi hoa đoạn dã kiều.
小童簑笠宿,    Tiểu đồng toa lập túc,
孤艇隔鸂招。    Cô đĩnh cách khê chiêu.
         阮文超                Nguyễn Văn Siêu


* Chú Thích :
   - DÃ KHÊ Độ : là Bến đò Dã Khê.

   - Tế Vũ : Mưa bụi, mưa lất phất.
   - Mai : là Chôn, ở đây có nghĩa là Che lắp.
   - Đoạn : là Đứt, là Gãy, ở đây có nghĩa là Làm cho bít lối.
   - Toa Lạp 簑笠 : Còn đọc là Thoa Lạp, là Áo tơi nón lá.
   - Cô Đĩnh : Chiếc xuồng con nho nhỏ đơn độc.
   - Chiêu : là (đưa tay) Ngoắt, gọi.

 

* Nghĩa Bài Thơ :
                              Bến Đò DÃ KHÊ
          Mưa lất phất rơi làm mờ mịt cả con đường trước mắt, hoa rụng bay khắp lối che khuất cả chiếc cầu ngoài đồng nội. Một chú bé con chèo đò nho nhỏ với nón lá áo tơi đang ngủ trên chiếc xuồng con, mặc cho khách ở bên kia bờ sông đang vẩy tay réo gọi !

 

* Diễn Nôm :
                     Trước mặt mưa che lối,
                     Cầu khuất trong hoa rơi.
                     Tiểu đồng say giấc bướm,
                     Mặc khách gọi ới ơi !
  Lục bát :
                 Mưa rơi che khuất đường dài,
                 Hoa bay phủ kín cầu ngoài đồng không.
                 Áo tơi nón lá giấc nồng,
                 Đưa đò say ngủ... mặc lòng khách kêu !


                                                   Đỗ Chiêu Đức

                                                Tháng 6 năm 2018.

_____________________________________________________________________ 





Biên Khảo

           CÁC CÂU ĐỐI HIỆP THIÊN CUNG CÁI RĂNG

           DCD_HiepThienCung_1.jpg

 

          Bước vào vòng rào của Hiệp Thiên Cung, ta thấy ngay đôi câu đối chữ vàng viết trên đôi cột to màu đỏ như sau :


                    聖  駕  賁  臨,  欣  蒙  到  處  即  福  地,
               Thánh giá bí lâm, hân mông đáo xứ tức phước địa,
                    神  恩  戾  止,  且  觀  這  裡  樂  春  光。
               Thần ân lệ chỉ, thả quan giá lý lạc xuân quang.


Chú thích :
  * Thánh Giá : Từ gọi chung Thần Thánh hoặc Vua Chúa.
  * Bí Lâm : là ăn mặc đẹp đẽ tề chỉnh để đến đâu đó.
  * Hân Mông : Vui mừng mà mang ơn.
  * Đáo Xứ : là Khắp nơi, là nơi mà thần ngự đến. 
  * Lệ Chỉ : là Đến nơi, là soi rọi đến.
  * Thả Quan : là Hãy xem, chờ mà xem.
  * Xuân Quang : là Quang cảnh của mùa xuân.


Có nghĩa :
          Thần thánh ngự đến nơi đâu, thì nơi đó đó nên mừng là vùng đất phước.( Ý nói sẽ sống yên ổn là làm ăn phát đạt ).
          Ơn của thần thánh ban đến nơi nào, thì hãy chờ mà xem, nơi đó dân chúng sẽ vui sống trong quang cảnh của mùa xuân.


Diễn Nôm :
                  Thánh ngự đến nơi, mừng đội ơn trên là đất phước,
                  Thần ân ban phát, hãy xem khắp chốn thảy vui xuân.

    Hai bên cửa ra vào chính có hình của Thần Đồ Uất Luỹ 神荼鬱壘, cũng có đôi câu đối ở phía dưới 4 chữ Tam Dương Khải Thái 三陽啟泰 là :


              元旦參神添百福,     Nguyên đán tham thần thiêm bách phước,
              新年入廟納千祥。     Tân niên nhập miếu nạp thiên tường.


Có nghĩa :
        Tết Nguyên Đán( ngày đầu của một năm ) mà đến đây để tham kiến thần linh, thì sẽ thêm được trăm điều phước.
        Năm mới mà vào chùa ( miếu ) để cúng bái, thì sẽ nhận được ngàn điều lành.

               DCD_hiepthiencung_2.jpg 


Diễn Nôm :
                    Nguyên Đán lạy thần thêm trăm phước,
                    Đầu năm vào miếu nhận ngàn lành.   

 Ngoài ra, hai bên vách của cổng chính cũng có vẽ các bức tranh về sự tích Đào Viên Tam Kết Nghĩa 桃園三結義 giữa Lưu Bị, Quan Công và Trương Phi, như hình của Lưu Quan Trương thử binh khí 劉關張試兵器 (Lưu Quan Trương thí binh khí), Quan Công Xá Tào Tháo 關公赦曹操 (Tích Quan Công tha cho Tào Tháo ở Huê Dung Đạo),Lưu Quan Trương theo kế của Khổng Minh, Hình của Châu Thương và Quan Bình hai người con nuôi đứng hầu hai bên của Quan Công, một người cầm cây Thanh Long yễm Nguyệt Đao, một người bưng cái ấn Hán Thọ Đình Hầu của Quan Công....

 
         Hai bên vách nơi nhô ra còn có 2 bài thơ của Thi Tiên Lý Bạch, bên trái là bài " Sơn Trung Vấn Đáp":    



            山中問答                SƠN TRUNG VẤN ĐÁP


         問余何意棲碧山,      Vấn dư hà ý thê bích sơn,
         笑而不答心自閒。      Tiếu nhi bất đáp tâm tự nhàn.
         桃花流水窅然去,      Đào hoa lưu thủy yểu nhiên khứ,
         別有天地非人間。      Biệt hữu thiên địa phi nhân gian.
                          李白                                            Lý Bạch


CHÚ THÍCH :
 * Dư : Nhân xưng Đại từ ngôi thứ nhất, là Tôi, Ta, Tao...
 * Thê : là Đậu trên cây, ở đây có nghĩa là Ở, là Cư ngụ.
 * Bích Sơn : tên núi ở TP An Lục tỉnh Hồ Bắc, dưới núi có Đào Hoa Động là nơi Lý Bạch ăn ở và học tập.

 * Đào Hoa Lưu Thủy : Theo Đào Hoa Nguyên Ký của Đào Tiềm có ghi : Vào đời Đông Tấn, ở đất Võ Lăng, có người đánh cá đi lạc vào rừng hoa đào, cuối rừng có núi, trong núi có con đường nhỏ dẫn vào Đào hoa Nguyên, trong đó dân chúng sống thanh bình an cư lạc nghiệp như trong tiên cảnh.
 * Yểu Nhiên : chỉ Âm thầm, Lặng lẽ.
 * Biệt Hữu Thiên Địa : là Có trời đất riêng biệt.

NGHĨA BÀI THƠ :
        Bạn hỏi tôi sao tôi lại chọn nơi Bích Sơn mà ở, là có ý gì ? Tôi chỉ cười mà không trả lời câu hỏi của bạn, vì trong lòng tôi tự cảm thấy nhàn nhã là được rồi. Hãy xem kìa, dòng nước cuốn những cánh hoa đào lặng lẽ trôi đi như ở xứ Đào Nguyên tiên cảnh, có trời đất riêng biệt chớ không phải như ở chốn nhân gian nầy !

DCD_HiepThienCung_3.jpg

DIỄN NÔM :
                    HỎI ĐÁP NHAU TRONG NÚI


                  Bạn  hỏi  ý gì chọn Bích Sơn ?
                  Cười thôi chẳng đáp nhàn là hơn.
                  Hoa đào nước cuốn trôi êm ả,
                  Là cảnh Đào Nguyên há phải thường !
Lục bát :
                  Bích Sơn bạn hỏi ý chi ?
                  Cười mà không đáp lòng thì thảnh thơi.
                  Hoa đào rụng, nước cuốn trôi,
                  Đào Nguyên há phải cảnh đời nhân gian !
                                                         Đỗ Chiêu Đức

 

 

DCD_HiepThienCung_4.jpg

Bên trái là bài thơ LỤC THỦY KHÚC :


              淥水曲                Lục Thủy Khúc


           淥水明秋月,     Lục Thủy minh thu nguyệt
           南湖採白蘋。     Nam hồ thái bạch tần.
           荷花嬌欲語,     Hà hoa kiều dục ngữ,
           愁殺盪舟人。     Sầu sát đãng chu nhân.
                        李白                          Lý Bạch


CHÚ THÍCH :
 * Lục Thủy Khúc :Là Tên của một khúc hát xưa, có nghĩa là Khúc hát về Dòng Nước Trong.
 * Nam Hồ : là Phía nam của Động Đình Hồ.
 * Bạch Tần : Một loại rau nổi trên mặt nước có hoa màu trắng như rau muống, rau ngổ vậy.
 * Hà Hoa : là Hoa Sen, tức là Liên Hoa 蓮花 đó.
 * Sầu Sát : chữ SÁT 殺 đứng sau Động từ là Trạng từ chỉ Mức độ, có nghĩa như Rất, Rất là. Nên Sầu Sát có nghĩa là Rất buồn, là Buồn muốn chết !

 * Đãng Chu Nhân : là Người chèo thuyền, người bơi xuồng.

NGHĨA BÀI THƠ :
          Dòng nước trong trẻo làm cho trăng thu như sáng hơn lên, ta thả thuyền ở phía nam Hồ Động Đình để hái rau bạch tần. Nhìn thấy bông sen nở trên hồ thật đẹp thật sống động như muốn nói chuyện cùng ta, làm cho ta cảm thấy buồn muốn chết đi được vì ta không thể nào đối thoại được với hoa.

DIỄN NÔM :
                     LỤC THỦY KHÚC


                Nước trong sáng trăng thu,
                Bạch tần hồ nam hái,
                Sen đẹp như muốn nói,
                Sầu chết người đãng chu !
Lục bát :
               Nước trong làm sáng trăng thu,
               Rau tần tìm hái bên hồ phía nam.
               Lá xanh bông trắng nhị vàng,
              Tựa như muốn nói sầu sang người chèo !
                                                          Đỗ Chiêu Đức


           

DCD_HiepThienCung_5.jpg

Đứng từ ngoài nhìn vào chùa, ta còn thấy hai bên có hai dãy Nghi Trượng. (NGHI TRƯỢNG là những cờ xí binh khí giàn giá khi các quan ngày xưa đi ra ngoài hoặc thăng đường xử án). Nghi Trượng Sự Thần 儀仗事神 là các giàn giá để thờ thần linh, với các tấm bảng Nghi Trượng hai bên như sau :


   * 協天大帝 Hiệp Thiên Đại Đế : Tước hàm được phong của Quan Công.
   * 天后元君 Thiên Hậu Nguyên Quân : Tước hàm của bà Thiên Hậu.
   * 肅靜迴避 Túc tĩnh Hồi tỵ : là Giữ  Nghiêm túc yên lặng và Tránh sang một bên.
   * 污穢勿近 Ô uế Vật cận : Những gì dơ dáy không sạch sẽ thì tránh sang một bên (đừng đến gần).

 

          Ngoài cửa chánh vào chùa ra, ta còn thấy có 2 cửa hông hai bên, cửa hông bên phải cũng có đôi câu đối :


                 入是門必恭敬止,     Nhập thị môn tất cung kính chỉ,
                 由斯道惟孝友于。     Do tư đạo duy hiếu hữu vu.


   * Thị Môn : là Cánh cửa nầy, là lối vào nầy. 
   * Tư Đạo : là Con đường nầy, là Lối đi nầy.


Có nghĩa :
       Đi vào cửa nầy, phải có thái độ cung kính ( để nhớ đến các bậc tiền nhân đã tạo ra nó ).
       Do đường nầy( tư đạo ) mà vào, duy chỉ có những người hiếu thảo ( với cha mẹ anh em ). 

         

DCD_HiepThienCung_6.jpg

Cửa hông bên trái, nơi có treo bảng Ban Quản Lý Chùa 協天宮理事會, cũng có đôi câu đối :


                 出入禮門咸迪吉,     Xuất nhập lễ môn hàm địch kiết,
                 往來義路盡亨通。     Vãng lai nghĩa lộ tận hanh thong.
Có nghĩa :
                   Ra vào cửa lễ đều lành tốt,
                   Vãng lai đường nghĩa thảy hanh thông.
Ý nói :
           Đi ra đi vào ở cánh cửa lễ nghi nầy thì mọi việc đều được tốt lành. Và...
           Qua lại ở con đường có nghĩa nầy, thì mọi việc đều được suông sẻ.

 

          Nói thêm về 4 chữ Tam Dương Khải Thái 三陽啟泰. Khải là Mở ra, mà Khai 開 cũng là Mở ra, nên 4 chữ nầy còn được viết là TAM DƯƠNG KHAI THÁI 三陽開泰...  


      Theo sách Chu Dịch. Sau tiết Đông Chí thì khí âm hàn bắt đầu tiêu thoái, và khí dương thì bắt đầu sanh trưởng, ta thường nghe các Thầy Bói gọi là Âm Tiêu Dương Trưởng, đêm sẽ ngắn dần, ngày sẽ dài thêm ra, cho nên Tháng Mười Một là tháng Tý, thuộc quẻ Phục 復 là Nhất Dương Sanh, Tháng Mười Hai là Tháng Sửu, thuộc quẻ Lâm 臨 là Nhị Dương Sanh, và Tháng Giêng là Tháng Dần, thuộc quẻ Thái 泰 là Tam Dương Sanh. Vì thế nên Tết Nguyên Đán của tháng Giêng mới dùng câu Tam Dương Khai Thái 三陽開泰 mà chúc mừng cho năm mới mở ra vận hội mới, lấy Ý chữ Thái là Lớn, là Thông, như trong tiếng Việt ta thường nói "Hết vận Bỉ rồi thời lại Thái", hoặc "Bỉ cực thì Thái lai" và "Hết cơn Bỉ Cực, đến hồi Thái lai". Có nghĩa: Hết lúc Bế tắt, nghèo khó thì đến lúc Hanh Thông, khá giả !

 

                                  Vì 2 chữ Dương 陽 và 羊 Dương đồng âm, nên ta thường gặp những bức tranh vẽ hình 3 con dê thay thế cho khí dương của trời đất mà chúc nhau bằng câu Tam Dương Khai Thái như ta thường  trông thấy!    


        Bước vào cửa chánh, bên trong là một cái sân lộ thiên rồi mới đến chánh điện với 4 chữ hoành phi trên cao :


                        丹心貫日           ĐAN TÂM QUÁN NHẬT
Có nghĩa :
            Một tấm lòng son ngang bằng với mặt Trời.( để chỉ lòng trung thành bền vững của Quan Thánh Đế Quân ).


         Dưới 4 chữ trên trên hoành phi là 2 cặp câu đối, cặp bên ngoài là :



               九天日月開新運,        Cửu thiên nhật nguyệt khai tân vận,
               萬國笙歌樂太平。        Vạn quốc sanh ca lạc thái bình.


Có nghĩa :
             Trên chín từng trời, mặt trăng mặt trời đang mở ra vận hội mới, và ở dưới đất...
             Muôn nước muôn nhà đều ca hát mà vui cảnh thái bình.
     Theo quan niệm xưa thì : Trời có 9 từng, gọi là Chín Từng Trời, còn Địa Ngục thì có 18 từng, nên gọi là Mười Tám Từng Địa Ngục

          Cặp câu đối bên trong là :


                  萬古桃園生秀色,     Vạn cổ Đào viên sanh tú sắc,
                  千秋義武見英風。     Thiên thu nghĩa vũ kiến anh phong.
Có nghĩa :
           Chuyện Đào viên kết nghĩa thì muôn năm sau vẫn còn mang màu sắc đẹp đẽ, và...
          Cái vũ dũng nghĩa khí đó thì đến ngàn năm sau vẫn còn thấy được là phong cách của anh hùng.
     

          Kế đến, là đôi cột thứ nhì của chính điện, và đây có thể là câu đối hay nhất,có ý nghĩa nhất, sát sao nhất với cuộc sống của toàn thể cư dân Quận Cái Răng :


           被聖澤,本市匹民安樂業,   Bị thánh trạch, bổn thị thất dân an lạc nghiệp,
           謝神恩,周城合境保平安。   Tạ thần ân, châu thành hợp cảnh bảo bình an.

* Bị : Danh từ là cái Mền đắp. Động từ là Phủ kín, là Mang, là Đội. Nên BỊ THÁNH TRẠCH là Chịu ơn của thần thánh.

  * Thất Dân : là Dân chúng bình thường.
  * Châu Thành : là Khắp cả Thành phố, Thị Trấn.
  * Hợp Cảnh : là Toàn cảnh, ý chỉ cả cái khuôn viên của nơi ta ở.


Có nghĩa :
              Mang ơn mưa móc của ông Thánh, mà dân thường trong bổn chợ của ta đều được an cư lạc nghiệp,
             Tạ ơn phù hộ của Thần, mà toàn thể khuôn viên của quận ta đều giữ được bình yên. 

            Và đôi câu đối trên bảng đỏ chữ đen của hàng cột tiếp là :


           擎天一柱,鐵石為心是漢室,   Kình thiên nhất trụ, thiết thạch vi tâm thị Hán thất, 
           拔地齊峰,春秋得力與尼山。   Bạt địa tề phong, Xuân thu đắc lực dữ Nê sơn.
Có nghĩa :
              Như một cây cột trụ chống trời, sắt đá quyết lòng phò nhà Hán,
              Vượt khỏi mặt đất để lên bằng ngọn núi, Xuân Thu đắc lực cùng với Nê Sơn.( NÊ SƠN là nơi sanh của Khổng Tử. Khổng Tử soạn ra sách Xuân Thu, còn Quan Công thì đọc sách Xuân Thu để noi theo những cái gương trong đó. Ở đây có ý đề cao Quan Công một cách quá đáng, so sánh Quan Công ngang bằng với Khổng Tử vì cả 2 đều được phong Thánh ).     



        Hàng cột kế tiếp là đôi câu đối ca ngợi công đức của Quan Thánh Đế Quân một cách văn chương thi vị :


                        清  夜  讀  春  秋, 半  朵  燭  花  籠  月  色,

             Thanh dạ độc Xuân Thu, bán đóa chúc quang lung nguyệt sắc, 
                        赤  心  伸  討  伐, 一  鞘  劍  氣  繞  星  寒。

             Xích tâm thân thảo phạt, nhất sao kiếm khí nhiễu tinh hàn.
Có nghĩa :
            Đêm thanh vắng ngồi đọc sách Xuân Thu, Nửa đóm lửa từ ngọn nến lay động làm lung linh cả ánh trăng, 
            Một tấm lòng thành giúp vua thảo phạt( đánh giặc), một làn kiếm khí vút cao làm lạnh lẽo cả các vì sao.
            Qủa là một câu đối đầy tính văn chương và thi vị.



       Câu đối ở hàng cột áp chót là :


                  萬古勳名垂竹帛,    Vạn cổ huân danh thùy trúc bạch,
                  千秋義勇壯山河。    Thiên thu nghĩa dũng tráng sơn hà.
Có nghĩa :
          Muôn đời sau chiến công ( của Quan Công ) vẫn còn ghi lại trên tre, trên vải.( vì ngày xưa chưa có giấy, nên sử sách đều được khắc trên các thanh tre cuốn tròn lại như quyển sách, ta thường gọi là Thanh Sử 青史, hay Sử Xanh. Sau nầy còn được chép lên Vải, lên Lụa. BẠCH 帛 là Vải là Lụa.)
          Ngàn thu sau cái nghĩa khí và cái dũng cảm ( của Ngài ) vẫn còn làm cho núi sông trở nên hùng tráng hơn.

DCD_HiepThienCung_Nghiaquan.jpg DCD_HiepThienCung_ThienCo.jpg 

 

         Hai bên hông chánh điện còn có các bức hoành phi như :

* 義貫千秋    Nghĩa quán thiên thu

Có nghĩa :
     Cái nghĩa của Quan Thánh xuyên suốt từ ngàn thu đến nay và về sau nữa.


                       * 千古一人   Thiên cổ nhất nhân
Có nghĩa : 
              Ngàn xưa đến nay chỉ có một người ( trung nghĩa như là Quan Công vậy !).

 

             Cuối cùng là đôi câu đối ở 2 bên kham thờ của Quan Thánh Đế Quân là :


                  聖德無疆沾萬古,   Thánh đức vô cương triêm vạn cổ,
                  帝恩靡極頌千秋。   Đế ân mĩ cực tụng thiên thu.
Có nghĩa :
      Cái đức của bậc thánh nhân ( ở đây chỉ Quan Công ) còn thấm nhuần đến muôn đời sau,
      Ơn vua thì vô cùng, còn ca tụng mãi đến ngàn thu sau.

DCD_HiepThienCung_Quangnhatdien.jpg

Quay ngược ra phía trước, đứng từ trong nhìn ra ngoài, ta thấy mặt trong phía trước có một hoành phi với 3 chữ HIỆP THIÊN CUNG bằng chữ Quốc Ngữ, bên dưới là đôi câu đối 4 chữ :

 

 廣種福田,    Quảng chủng phước điền,

                   為善最樂。    Vi thiện tối lạc.
Có nghĩa :
          Cố gắng mà trồng cho rộng ra cái mảnh ruộng phước đức, và nên hiểu rằng...
          Làm việc thiện là điều vui vẻ nhất trên đời.

          Và đôi câu đối 2 bên là :


                  帝錫龍章開泰運,    Đế tích long chương khai thái vận,
                  千秋神武見英風。    Thiên thu thần võ kiến anh phong.
Có nghĩa :
             Cờ của vua ban cho các Đại tướng đi chinh phạt (  Đế tích long chương : ở đây chỉ cờ của Quan Thánh Đế Quân ) mở ra thời vận lớn,
             Cái thần uy và võ dũng của Ngài, ngàn thu sau vẫn còn mang phong độ anh hùng.

    

            Ở sát mặt trong của cửa ra vào, còn có một hoành phi với 4 chữ :


                            萬物並育    Vạn vật tịnh dục
Có nghĩa :
               Muôn vật muôn loài cùng nhau phát triển mà không xâm hại lẫn nhau.

      

DCD_HTCung_DuThien.jpg

Ngoài ra,ta còn thấy rải rác các hoành phi trong chính điện như :


                           與天地參    Dữ thiên địa tham
Có nghĩa :
               Bất cứ việc gì cũng phải kết hợp giữa Trời Đất và Con Người, thì mới thuận lý tự nhiên, như ta thường nói phải có " Thiên thời địa lợi và nhân hòa vậy !".


                           義炳乾坤   Nghĩa bỉnh càn khôn
Có nghĩa :
               Cái nghĩa khí tràn đầy cả vũ trụ, trời đất (càn khôn).

 

 浩氣配天   Hạo khí phối thiên

Có nghĩa :
               Cái chí khí to lớn đến có thể  phối xứng ngang bằng với trời.


                           氣壯山河   Khí tráng sơn hà
Có nghĩa :
               Cái hào khí có thể làm cho núi sông trở nên hùng tráng hơn.

      Phía bên trái thờ Phước Đức Chánh Thần, còn có các hoành phi sau :


                        * 人民福地    Nhân dân phước địa
Có nghĩa :
                Đây chính là nơi đất Phước của nhân dân.




                        * 大義聯光    Đại nghĩa liên quang
Có nghĩa :
               Cái nghĩa lớn sáng cả các thần có liên quan với nhau ( chỉ cả Quan Thánh Đế Quân, Phước Đức Chánh Thần và Thiên Hậu Nguyên Quân ).

 

           Phía bên phải của chánh điện thờ bà Thiên Hậu với các Hoành phi :


                        * 聖德如天   Thánh đức như thiên
Có nghĩa :
                Cái đức của ông Quan Thánh ngang bằng như là Trời vậy !


                       * 至大至剛    Chí Đại Chí Cương
Có nghĩa :
     CHÍ : là Đến cùng, là hết mức.
     ĐẠI : là Chính Đại quang minh.
     CƯƠNG : là Cương Trực ngay thẳng. Nên...
    CHÍ ĐẠI CHÍ CƯƠNG là Quang minh chính đại tới cùng, Cương trực ngay thẳng tới cùng !

DCD_HTCung_Chidai.jpg DCD_HTCung_Thanhduc.jpg 

 


Chí Đại Chí Cương    Thánh đức như thiên

        Dười đây là hai hình ảnh, một ban ngày một ban đêm của Hiệp Thiên Cung được trang hoàng rực rỡ để đón Tết Mậu Tuất 2018.
       DCD_HTCung_Mattien.jpg

          Mặt tiền Hiệp Thiên Cung tết Mậu Tuất 2018

            DCD_HTCung_HTCungatnight.jpg 

     Cảnh đêm : Mặt tiền Hiệp Thiên Cung tết Mậu Tuất 2018

     Trên đây là tất cả các câu đối, hoành phi đã đọc thấy được trong Chùa HIỆP THIÊN CUNG Quận CÁI RĂNG, Phường LÊ BÌNH, Thành phố CẦN THƠ. Chép ra đây để cùng tìm hiểu, chiêm nghiệm và đọc chơi tiêu khiển khi trà dư tửu hậu.


                                                                                              Đỗ Chiêu Đức
                                                                                                 kính bút
                                                                                         Xuân Mậu Tuất 2018

 

THỔ là ĐẤT

                        

DCD_Tho.jpg

 

                                           

          THỔ 土 là ĐẤT, đất là ĐỊA 地, trong chữ Địa có Bộ Thổ, nên Địa cũng là Đất. Ta có từ kép Thổ Địa 土地 là Đất Đai. Thổ cũng thuộc một trong 214 bộ của CHỮ NHO... DỄ HỌC, theo diễn tiến của chữ viết như sau :


          
Giáp Cốt Văn      Kim Văn        Đại Triện       Tiểu Triện     Lệ Thư

 

               DCD_Tho_2.jpg

Ta thấy :
         Từ Giáp Cốt Văn cho đến Đại Triện đều là hình tượng của một mô đất trên mặt đất, nên Thổ vừa là chữ Tượng Hình vừa là chữ Chỉ Sự, chỉ một đống đất trên mặt đất, đến Tiểu Triện thì các nét mới được kéo thẳng ra thành biểu tượng của chữ viết, cho đến Chữ Lệ thì mới hoàn chỉnh như chữ viết hiện nay THỔ 土 là ĐẤT.

 

         Có tất cả 463 chữ được ghép bởi bộ Thổ nầy để chỉ những gì có liên quan đến Thổ là Đất. Ta có các từ về Thổ là Đất rất lý thú và cũng không kém phần rắc rối như sau :


  - Thổ Địa 土地 : là Đất Đai, chỉ tất cả các loại đất trên đời nầy.
  - Thổ Nhưỡng 土壤 : cũng là Đất Đai, chỉ tất cả các loại đất dùng để trồng trọt.
  - Thổ Cư 土居 : chỉ tất cả các loại đất dùng để ở.
  - Thổ Canh 土耕 : là tất cả các loại Đất dùng để canh tác, làm ruộng.
  - Thổ Trạch 土宅 : là tất cả các loại Đất dùng để cất nhà ở, biệt thự.
  - Thổ Mộ 土墓 : là tất cả các loại Đất dùng để chôn cất người trong gia tộc, còn gọi là Đất Hương Hỏa, là đất dùng để lo nhang đèn hương khói cho người thân đã chết.   

 

          Theo Tử Vi đẩu số ta còn có 6 loại đất sau đây :


  * Lộ Bàng Thổ 路旁土 : Đất bên đường.
  * Thành Đầu Thổ 城頭土 : Đất đầu thành.
  * Ốc Thượng Thổ 屋上土 : Đất trên mái nhà.
  * Bích Thượng Thổ 壁上土 : Đất trên vách.
  * Đại Trạch Thổ 大澤 土 : Đất trong đầm lầy lớn.
  * Sa Trung Thổ 沙中土 : Đất trong cát.
    và...
           Mặc dù Mộc khắc Thổ, cây cối mọc lên hút hết chất bổ của đất làm cho đất trở nên cằn cỗi, và cây gỗ để ở dưới đất lâu ngày sẽ bị đất làm cho mục nát hết. Cái nầy kêu bằng tương khắc với nhau, nhưng...
           Lộ Bàng Thổ (đất ven đường), Đại Trạch Thổ (Đất trong đầm lầy lớn) và Sa Trung Thổ (Đất pha cát) không sợ Mộc, vì cây không sống giữa đường cái quan hay trên bãi cát, đầm lầy. Cả ba hành Thổ này nếu gặp Mộc không khắc dù Mộc khắc Thổ, trái lại còn có đường công danh, tài lộc thăng tiến không ngừng.

          Thành Đầu Thổ (Đất đầu thành), Bích Thượng Thổ (Đất trên vách) và Ốc Thượng Thổ (Đất mái nhà) đều sợ Mộc, nhất là Tang Đố Mộc, Thạch Lựu Mộc, như thân tự chôn xuống mộ. Ba hành Thổ này tuy không sợ Bình Địa Mộc, Đại Lâm Mộc, Tùng Bách Mộc nhưng không bền vững vì hình kỵ.

               DCD_Tho_3.jpg

               
    
Thổ là Đất, giá trị của đất tăng theo tỉ lệ thuận với số lượng của đất, chưa có một vật chất nào có giá trị từ số không, rồi sau đó cứ tăng dần đến vô tận như đất cả ! Hốt một nắm đất cho không, không ai thèm lấy cả, mặc dù họ không có đất để cắm dùi, nhưng nếu cho một vuông đất để che chòi ở, để cất nhà, thì không ai nở... từ chối cả ! Và cứ thế tăng dần, một công đất để trồng rẩy, một mẫu đất để cày ruộng... cho đến một xã, một làng, một huyện, một tỉnh, một nước... giá trị của đất cứ tăng mãi đến vô cực là... Trái Đất, là cả Quả Địa Cầu nầy !  

 

        Ông bà ta nói:
                   Tiền tài như phân thổ,        錢財如糞土,
                   Nhân nghĩa trị thiên kim.    仁義值千金。
Có nghĩa :
            Tiền của tài sản như phân như đất,
            Nhân nghĩa mới đáng giá ngàn vàng.
là ý ông bà muốn đề cao nhân nghĩa mà xem nhẹ tiền tài, tiền tài chỉ như phân như đất mà thôi, cũng như lời cô Kiều đã nói với Kim Trọng khi biết Kim đã nhặt được chiếc kim thoa của mình :


                         Chiếc thoa là của mấy mươi,
                  Mà lòng trượng nghĩa khinh tài xiết bao !

 

         Nhưng người đời thường xem trọng kim tiền hơn nhơn nghĩa, nên câu nói trên còn được sửa lại một cách mĩa mai như sau :


                      Tiền tài như... ông tiên tổ,
                      Nhơn nghĩa tợ... cục cứt khô !


         Ông bà ta lại dạy rằng : " Tấc đất là tấc vàng " để con cháu biết quý trọng cái cuộc đất mà ta đang sở hữu, nếu biết sử dụng đất một cách thích đáng, biết bỏ công sức lao động canh tác trồng trot, thì " tấc đất sẽ cho một tấc vàng " như chơi mà thôi !


        Nhớ khi xưa cái miếu Thổ Địa ở đầu làng quê tôi có đôi câu đối như sau :

 

                     THỔ năng sanh bạch ngọc,       土能生白玉,
                     ĐỊA khả xuất hoàng kim.          地可出黃金。
Có nghĩa :
               Đất có thể sanh ra ngọc trắng, và 
               Đất cũng có thể cho ra vàng ròng !


       Hạt ngọc trắng ở đây chính là hạt gạo trắng ngần đã nuôi sống chúng ta hàng ngày, còn vàng ròng sẽ có được nếu chúng ta chịu cày sâu cuốc bẫm. Đất chẳng những cho ta chỗ ở, cho ta việc làm, còn cho ta cái ăn cái mặc nữa, nên ông bà ta rất coi trọng đất và luôn quan niệm rằng : " Đất có Thổ Công, sông có Hà Bá ". Thổ Công là ông thần đất, còn được gọi là Thổ Thần, nên khắp cả các thôn làng, nơi nào cũng có Thổ Công của nơi đó, và ông thần đất nầy cũng luôn luôn được cúng tế đầy đủ ở bất cứ lễ lạc nào. Trong Truyện Kiều tả lúc Bạc Hạnh thành thân với cô Kiều, cụ Nguyễn Du cũng đã viết :    

               
                                Bạc sinh qùy xuống vội vàng,
                      Qúa lời nguyện hết Thành Hoàng Thổ Công.


                               
Câu đối thường thấy nhất của các miếu Thổ Thần ở vùng Nam Kỳ Lục Tỉnh quê tôi là :


                       土旺人從旺,     Thổ vượng nhân tòng vượng,
                       神安宅自安。     Thần an trạch tự an.
Có nghĩa :
             Đất có vượng thì người cũng sẽ vượng theo, và...
             Thần có được yên ổn, thì nhà cũng sẽ tự nhiên được yên ổn mà thôi !

 

       Thổ ngoài nghĩa là Đất ra, còn có nghĩa là : Cái gì đó thuộc về bản xứ, bản địa. Ta quen miệng gọi là đồ lô-can (local). Bây giờ thì Thổ được sử dụng như là một Hình Dung Từ (Tính Từ), như :


  - Thổ Dân 土民 : Dân cố hữu của một địa phương hay của một vùng nào đó. Ví dụ : Thổ Dân của Châu Mỹ là những Bộ tộc mọi Da Đỏ chẳng hạn...
  - Thổ Sản 土產 : là Đặc sản riêng của một vùng nào đó , Như Thổ Sản của Lái Thiêu là Sầu Riêng chẳng hạn...

  - Thổ Cẩm 土錦 : là Gấm được dệt ở địa phương, là Gấm nội hóa.
  - Thổ Âm 土音 : là Tiếng nói và Âm sắc riêng của địa phương nào đó. Như Giọng Bắc, Giọng Huế, Giọng Nam của ta vậy...
  - Thổ Hào 土豪 : là Cường hào ác bá ở địa phương.
  - Thổ Phỉ 土匪 : là các phe nhóm băng đảng cướp bóc ở địa phương.
  - Thổ Công 土公 : là Ông Thần Đất của địa phương nào đó như ta đã nói ở trên...

  - Thổ Quan 土官 : là Ông quan ở địa phương, như Trưởng thôn, Trưởng Làng, hay cao hơn là Tri Châu, Tri Huyện... Như trong Truyện Kiều, Hồ Tôn Hiến sau khi ngủ với cô Kiều một đêm rồi sợ mang tiếng " Quan trên ngó xuống người ta trông vào ", nên sáng ngày mới ép nàng lấy Thổ Quan : 


                             Lệnh quan ai dám cãi lời,
                      Ép tình mới gán cho người Thổ Quan.

 

        Thổ còn là cái Phong Thổ 風土, là phong thủy thổ nhưỡng, phong tục tập quán, là nếp sống của một địa phương nào đó, mà người ta thường gọi là Phong Thổ Nhân Tình 風土人情, Đi đến đâu, ta cũng phải tìm hiểu cái phong thổ nhân tình của nơi đó để dễ dàng hòa nhập vào nếp sống của địa phương đó.

       Ngoài Phong Thổ, ta còn có Thủy Thổ 水土, là Nước và Đất của một nơi nào đó kể cả khí hậu thời tiết nắng mưa của nơi đó luôn. Nếu không hợp với Thủy Thổ của nơi đó sẽ làm cho con người sanh ra bệnh hoạn, súc vật thì gầy còm, cây cỏ thì èo ọt... như câu chuyện ứng đối lý thú của Tướng quốc nước Tề với vua nước Sở thời Xuân Thu Chiến Quốc như sau :

      
       Yến Anh 晏嬰, còn được gi là Án Anh, người đời sau tôn trng ông, nên còn gi là Án T, ông sinh năm 578 TCN Sơn Đông, mt năm 501 TCN Truy Bác, t Bình Trng là mt nhân vt lch s ni tiếng, sng và làm quan hai triu vua T Trang Công và T Cảnh Công thời Xuân Thu Chiến Quốc. Ông có dáng thấp nhỏ như đứa bé, nhưng có trí tuệ thông minh và là một vị quan có tài ứng đối giỏi của nước Tề.

       Một lần Án Tử vâng lệnh vua Tề đi sứ sang nước Sở. Vua Sở định làm nhục để thử tài của Án Tử, nên sau khi ban rượu, thì cho lính dẫn một người bị trói đi ngang qua. Vua Sở mới hỏi là người đó phạm tội gì ? Lính đáp, đó là một người ở nước Tề, phạm tội ăn trộm ngựa. Vua Sở bèn cười mà quay sang hỏi Án Tử là : " Người nước Tề hay ăn trộm lắm hay sao ? ". Án Tử mới đứng dậy chắp tay thưa rằng : " Thần nghe nói, cây quít trồng ở phương bắc thì cho trái to và ngọt, nhưng khi đem trồng ở phương nam thì lại cho trái nhỏ và chua, là bởi vì đâu ? Đó là đều do Thủy Thổ mà ra cả ! Nay người nước Tề ở nước Tề thì không trộm cắp, sang qua ở nước Sở lại sinh ra trộm cắp, thần nghĩ chắc cũng do cái Thuỷ Thổ bất đồng mà sinh ra như thế chăng ?! ". Vua Sở cười rằng : " Ta vì muốn nói chơi mà bị nhục ! ". Thế mới biết kẻ cả không nên nói chơi bao giờ !

 

                      Thổ là Đất, mà đất còn là quê hương đất nước. Cố Thổ 故土 là Cố Hương 故鄉, là quê cũ, quê xưa, quê nhà , là Cố Quốc 故國, là nơi chôn nhau cắt rốn, là nơi mà ta được sinh ra và lớn lên, như trong bài Độ Long Vĩ Giang 渡龍尾江 của cụ Nguyễn Du :


                    故國回頭淚,   Cố quốc hồi đầu lệ, 
                    西風一路塵。   Tây phong nhất lộ trần.
Có nghĩa :
                        Ngoảnh đầu quê cũ lệ rơi,
                   Dọc đường cát bụi tơi bời gió tây.


         Ngoảnh đầu trông lại quê hương mà khôn ngăn hai hàng lệ nhỏ. Lại thêm gió tây thổi suốt dọc đường gió bụi. Vừa qua khỏi sông Long Vĩ thì thân ta đã là người tha hương rồi... Trong Truyện Kiều, tả lúc Hoạn Thư bắt Kiều về làm nô tì, nguyễn Du đã viết :

 

                        Lâm truy chút nghĩa đèo bòng,
                        Nước non để chữ tương phùng kiếp sau.
                        Bốn phương mây trắng một màu,
                        Trông vời Cố Quốc biết đâu là nhà.


... và như lời than của một cung nhân đời Đường qua lời thơ của Trương Hỗ 張祜 là :


                   Cố quốc tam thiên lý,          故國三千里,
                   Thâm cung nhị thập niên.    深宮二十年.
Có nghĩa :
                   Quê cũ ba ngàn dặm,
                   Thâm cung hai mươi năm !


        Cách xa quê hương ba ngàn dặm và bị nhốt trong cung hai mươi năm thì còn gì là tuổi xuân nữa ! Trông người lại ngẫm đến ta, chúng ta đã lưu vong ở Mỹ trên bốn mươi năm và cách xa quê hương trên hai mươi ngàn dặm, chỉ còn đợi gởi nắm xương tàn nơi " Ngoại Thổ 外土" mà thôi !

 

        Theo Ngũ hành Sinh khắc thì Thổ khắc Thủy, có nghĩa là Đất khắc chế được Nước. Nói theo binh pháp ngày xưa là Binh đến thì Tướng ngăn, Nước đến thì Đất ngăn như cụ Đào Duy Từ  đã khuyên Chúa Sãi không nhận sắc phong của vua Lê do Chúa Trịnh áp đặt, với diễn tiến câu chuyện như sau :

 

      Năm 1627, chúa Trịnh Tráng muốn lấn vào Nam bèn sai Nguyễn Khắc Minh đi sứ, mang tiếng là phong tước cho chúa Nguyễn nhưng đồng thời cũng để dò xét tình hình đàng trong. Lúc bấy giờ Đào Duy Từ là Tham Tán bèn khuyên chúa Nguyễn che giấu lực lượng và tạm nhận phong để hòa hoãn với chúa Trịnh. Chúa Trịnh cũng đồng thời đòi chúa Nguyễn cho con ra Bắc chầu, nộp 30 voi đực và 30 chiến thuyền để đi cống nhà Minh bên Trung Quốc, Duy Từ khuyên là không  thực hiện rồi bày kế cho chúa Nguyễn đắp lũy Trường Dục để phòng thủ, với ý là Binh đến thì Tướng ngăn, Nước đến thì Đất ngăn . Chúa Nguyễn nghe theo và thực hiện ngay.

       Về việc sắc phong, vào năm 1630 Duy Từ cho người làm một cái mâm đồng hai đáy bên trong đựng sắc của chúa Trịnh, trên phủ lụa vàng rồi sai Trần Văn Khuông đi sứ. Trần Văn Khuông theo lời Duy Từ dặn dò, đối đáp, dâng mâm cho chúa Trịnh, rồi kiếm cớ trốn về. Chúa Trịnh thấy sứ đoàn vội vã đi về, sinh nghi, bèn cho lục mâm đồng thì thấy tờ sắc của mình trước đó còn có kèm theo một bài thơ như sau :


                  Mâu nhi vô dịch,          
矛而無剔,

                  Mịch phi kiến tích.        覔非見迹.

                  Ái lạc tâm trường,        愛落心腸,

                  Lực lai tương địch!        力來相敵 !

Có nghĩa :

                Cây mâu mà không đâm, không khều.

                Tìm mãi mà không thấy tung tích gì cả.

                Thương đến nỗi rớt cả lòng dạ ruột gan.

                Nếu dùng sức mạnh đến đây, thì sẽ đối địch với nhau mà thôi !


         Cả triều không ai hiểu là ý muốn nói gì ?!. Giai thoại kể rằng :

         Chúa Trịnh cho mời Phùng Khắc Khoan (1528 -1613, trong khi sự kiện này xảy ra năm 1630 nên không chính xác) đến hỏi thì mới vỡ lẽ, trong chữ Hán cổ, chữ MÂU  viết không có dấu phết thì thành chữ DƯ , nghĩa là ta; Chữ MỊCH  mà bỏ chữ KIẾN  chỉ còn lại chữ BẤT  nghĩa là không. Chữ ÁI   nếu viết thiếu chữ TÂM  thì ra chữ THỤ nghĩa là nhận.  Chữ LỰC   ghép với chữ LAI  sẽ thành chữ SẮC   là sắc phong. Ghép 4 chữ của bốn câu trên lại ta có câu :

      Dư Bất Thụ Sắc 予 不 受 勑 ( Có nghĩa là : Ta không nhận sắc phong ). Chúa Trịnh hiểu ý là Chúa Nguyễn trả lại sắc phong, nổi giận, cho người đuổi theo sứ đoàn của Chúa Nguyễn, thì cả sứ đoàn của Trần Văn Khuông đã đi xa rồi !

      Chuá Trịnh cả giận cử binh hỏi tội, nhưng đụng phải lũy Trường Dục của Đào Duy Từ, nên bị Chúa Nguyễn đánh cho thua chạy tơi bời ! 

                                            DCD_DaoDuyTu.jpg 

             Đào Duy Từ được tiếng là nhà chính trị quân sự, vừa là thầy giáo, vừa là bậc khai quốc công thần lớn nhất của 9 đời Chúa Nguyễn và 13 đời vua nhà Nguyễn, trong khi Gia Cát Lượng chỉ phò trợ có 2 đời Thục Hán mà thôi !

 

         Thổ là Đất, mà Đất còn là Nước, ta có từ kép Đất Nước để chỉ Lãnh thổ 領土 của một quốc gia, còn được gọi là Quốc Thổ 國土, Cương Thổ 疆土 là phần đất ở sát biên cương với nước láng giềng mà ta có được, nói theo lịch sử của thời phong kiến, thì đó là Hoàng Triều Cương Thổ 皇朝疆土 là đất của vua , đất của triều đình. Hoàng Triều Cương Thổ lớn nhất, mở mang nhất nước ta là dưới thời vua Minh Mạng, tiêu diệt và đồng hóa Chàm (Champa), lấn chiếm Chân Lạp (Campuchia), sát nhập đất Phù Nam (Hà Tiên, Rạch Giá, Cà Mau) để có được bản đồ hình cong chữ S như hiện nay. Nên, không có Đất là không có Nước, dân không có đất là dân vong quốc, chính quyền không có đất là chính quyền lưu vong, sẽ không làm nên trò trống gì cả ! Từ đó cho thấy ĐẤT quan trọng biết chừng nào ! Nhưng, nếu chính quyền lưu vong mà lập quốc được như dân Do Thái, thì chữ Nho gọi là "Quyển thổ trùng lai 卷土重來" Có nghĩa là : Cuốn đất mà trở lại, theo như ý của bài thơ thất ngôn tứ tuyệt "Đề Ô Giang Đình 題烏江亭" của Đỗ Mục khi đến bến Ô Giang nơi mà Hạng Võ Sở Bá Vương đã tự sát :


              勝敗兵家事不期,     Thắng bại binh gia sự bấtkỳ
              包羞忍恥是男兒.       Bao tu nhẫn sĩ thị nam nhi
            江東子弟多才俊,     Giang Đông tử đệ đa tài tuấn
              捲土重來未可知。     Quyển thổ trùng lai vị khả tri !

Có nghĩa :
                   Thắng bại chuyện binh ai biết trước ,
                   Làm trai nhịn nhục cứ dửng dưng.
                   Giang Đông tuấn kiệt còn đầy rẫy,
                   Cuốn đất làm nên chửa biết chừng !


        
                Ý của Đỗ Mục là : Nếu như Hạng Võ cố chịu nhục mà về Giang Đông chiêu mộ thêm anh tài 

DCD_Israel.jpg

còn đầy rẫy nơi đó mà phất cờ đánh lại Lưu Bang, thì chưa biết chừng đã làm nên cơ nghiệp lớn ! Cũng như Nhà nước Israel hiện đại đã được hoàn thành năm 1948 sau hơn 60 năm nỗ lực của các nhà lãnh đạo phái Zion (Chủ nghĩa lập quốc Do Thái) nhằm thiết lập chủ quyền và quyền tự quyết trên một Tổ quốc Quốc gia Do Thái vậy.

                Thổ là Đất, Nhất Phầu Hoàng Thổ 一抔黃土 là Một nấm đất vàng, thường dùng để chỉ một nấm mộ, nhất là những nấm mộ hoang như của Đạm Tiên :


                              Xè xè nấm đất bên đường,
                       Dàu dàu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh.


          Còn sống thì phong lưu tiêu sái, hương trời sắc nước, nguyệt thẹn hoa nhường hay sự nghiệp lẫy lừng, danh vang bốn bể, anh hùng cái thế ... Nhưng khi chết đi rồi thì tất cả cũng đều vùi chôn dưới một nấm đất vàng ô trọc mà thôi ! Nên chi, Tào Tuyết Cần mới cho người đẹp u sầu muôn thuở Lâm Đại Ngọc chôn xác hoa rơi với " Nhất Phầu Tịnh Thổ 一抔淨土 " là một nấm đất tinh khiết không ô nhiễm bụi trần :

          Người đẹp Lâm Đại Ngọc 林黛玉 trong Hng Lâu Mng 紅樓夢 ca Tào Tuyết Cn 曹雪芹, là người đẹp đa su đa cm đa tài, rt gii v văn thơ đã thương khóc cho nhng cánh hoa rơi như thương cho thân phn ca chính mình, ri chôn hoa, ri ngâm thơ điếu hoa hn hoi vi bài TÁNG HOA NGÂM 葬花吟 vi nhng li thơ tht đẹp như sau :


              ... 願儂此日生雙翼﹐      Nguyện nông thử nhật sanh song dực,
                  隨花飛到天盡頭         Tùy hoa phi đáo thiên tận đầu.
                  天盡頭!何處有香丘﹖Thiên tận đầu ! Hà xứ hữu hương khâu ?
                  未若錦囊收艷骨         Vị nhược cẩm nang thu diễm cốt,
                  一抔淨土掩風流﹐      Nhất phầu tịnh thổ yễm phong lưu !...

Có nghĩa :
        Ước gì hôm nay ta chắp được đôi cánh, để cùng với các cánh hoa rơi bay đến tận cuối chân trời. Ở nơi cuối chân trời kia, không biết là nơi đâu có mồ hoa thơm đẹp. Ta chưa kịp may túi gấm để thâu táng thân xác đẹp đẽ của hoa, thôi thì đành mượn một nắm tịnh thổ để vùi chôn một kiếp phong lưu diễm lệ !...
       Lục bát :
                   .... Theo hoa bay đến cuối trời,
                  Chắp đôi cánh đẹp rạng ngời như hoa.
                        Cuối trời xa, cuối trời xa !...
                   Tìm hương mộ đẹp la đà xác thơm.
                        Chưa may túi gấm chiều hôm,
                   Vùi nông một nắm tủi hờn phong lưu !...
              

                 Người xưa để lại một câu nói ý vị sâu xa để khuyên răn người đời là :


                        Đản tồn phương thốn thổ,      但存方寸土,
                        Lưu dữ tử tôn canh.               留與子孫耕。
Có nghĩa :
           Làm sao cũng phải chừa lại một tấc đất nào đó, để cho con cháu sau nầy có đất mà canh tác.


       Một tấc Ta ngày xưa chưa bằng được ba phân Tây bây giờ, thế thì một tấc đất làm sao mà canh tác ?! À, thì ra câu nói còn có " ý tại ngôn ngoại ". Đất là một thực thể chứng minh cho sự sở hữu ngày xưa, ai chiếm hữu đất nhiều thì người đó sẽ giàu có, sẽ là chủ đất đầy quyền uy. Nên đất được mượn để chỉ mọi vật chất qúy giá và khi dùng rộng ra thì chỉ cả những giá trị tinh thần nữa. Như câu "Quảng chủng phước điền 廣種福田" có nghĩa : Trồng cho rộng ra mảnh ruộng phước đức. Ruộng Phước đức không phải là mảnh ruộng có thật, mà là muốn khuyên ta nên làm nhiều chuyện phước để "để đức" lại cho con cháu. Nên câu nói " Đản tồn phương thốn thổ, lưu dữ tử tôn canh " có ý khuyên ta :


   - Làm việc gì đó, đừng qúa cạn tàu ráo máng, đừng qúa tuyệt tình, hãy chừa một chút gì đó để lại cho con cháu về sau. Như đừng qúa cậy thế hiếp người, đừng ví người khác vào bước đường cùng, hãy chừa cho người ta một con đường sống, biết đâu sau nầy cũng vì thế mà con cháu ta cũng được người khác niệm tình mà tha cho con đường sống như thế.

 

   - Đừng sử dụng hết những uy tín, tín dụng mà mình có được, phải biết chừa lại cho con cháu. Ví dụ như : Ta dùng uy tín và sự tín dụng của mình để lừa hết người nầy đến người khác để thủ lợi, thì con cháu sau nầy sẽ bị mang tiếng là "Con cháu của tên lừa đão", chẳng những mọi người không chịu kết giao giúp đỡ, mà còn không tin tưởng để giao phó công việc nữa. Con cháu sẽ không còn "chút đất nào để cày bừa" nữa cả !


     Nói theo trào lưu trước mắt là :
   - Phải biết yêu qúi và bảo vệ môi trường sống trước mắt, đừng quá phung phí không khí trong lành mà phải biết tiết chế để chừa lại phần nào môi trường và không khí trong sạch cho con cháu sau nầy !

     Nói theo bình dân mà ông bà ta thường nhắn nhủ : "Làm việc gì đó phải cho có hậu". Đừng làm việc đoản hậu, mà phải biết chừa cái hậu cho con cháu sau nầy. Đó là tất cả những gì mà cổ nhân đã gói ghém trong câu : " Đản tồn phương thốn thổ, lưu dữ tử tôn canh " là thế !

 

        

DCD_CungOan.jpg

Bà con vùng đồng bằng sông Cửu Long thường hay nói chơi với nhau rằng : " Làm cho lắm tắm cũng ở truồng !". Ý muốn nói dù cho thị phi thành bại gì hễ nhắm mắt buông xuôi thì đều "Nhập thổ vi an 入土為安" mà không thể mang theo thứ gì cả, như "tắm" thì làm sao mà "mặc đồ" cho được ! Bôn ba vất vả một đời, cuối cùng thì cũng đành chịu vùi sâu dưới ba tấc đất. Con người sống nhờ đất, chết lại về với đất, và cứ thế mà luân hồi mãi như Nguyễn Gia Thiều đã nói trong Cung Oán Ngâm Khúc:

 

                           Tuồng huyễn hóa đã bày ra đấy, 
                      Kiếp phù sinh trông thấy mà đau.

                           Trăm năm còn có gì đâu,
                    Chẳng qua một nắm cổ khâu xanh rì !

 

 

Xin được kết thúc bài phiếm luận " Thổ là Đất " ở nơi đây, và để thực hiện câu :


                           Đản tồn phương thốn thổ,     但存方寸土,
                           Lưu dữ tử tôn canh.              留與子孫耕。

     
xin mọi người hãy hỏa thiêu thân xác sau khi chết, để chừa lại tấc đất và môi trường sạch cho con cháu sau nầy!


                        Mong lắm thay !

Đỗ Chiêu Đức       

 

                                   HỎA là LỬA

                                                                DCD_Hoa.jpg

 

     Theo Phật giáo, cơ thể con người là do Tứ Đại : Phong Thủy Hỏa Thổ, tức là Đất Nước Gió Lửa kết hợp lại mà thành, nên bản thân con người đã có một phần tư là lửa ở trong đó rồi, ngọn lửa đó cứ âm ỉ mãi trong ngũ tạng lục phủ tạo nên sự ham muốn mãnh liệt mà ta gọi là Lửa Dục Vọng. Trong văn chương Phật giáo thì gọi nhẹ nhàng hơn : Lửa Lòng. Như cụ Nguyễn Du đã diễn tả tâm trạng của Thúy Kiều khi tu ở Quan Âm Các :


                                Cho hay giọt nước cành dương  
                         Lửa Lòng tưới tắt mọi đường trần duyên ...


và như lời của Thúy Kiều đã phân bua với Vương Viên Ngoại khi ông muốn nàng từ giả sư Giác Duyên để theo mọi người về nhà đoàn tụ :


                                 Sự đời đã tắt Lửa Lòng,
                         Còn chen vào chốn bụi hồng mà chi ?!

 

       " Tắt Lửa Lòng " còn là một tiểu thuyết tình cảm lãng mạn nổi tiếng của nhà văn Nguyễn Công Hoan, được giới thiệu lần đầu tiên vào năm 1933. Tác phẩm này nhanh chóng trở nên phổ biến, và rất nhiều người chuyển thể thành các vở kịch nói, phổ nhạc... trong số đó phải kể đến Soạn giả Trần Hữu Trang đã biên kịch lại và chuyển thể thành vở cải lương năm 1936 với tên của 2 nhân vật đi vào huyền thoại kịch nghệ Việt Nam là " Lan và Điệp ". Chuyện tình " Lan và Điệp "của Việt Nam ta có thể sánh ngang với chuyện tình " Lương Sơn Bá và Chúc Anh Đài " của Trung Hoa xưa, và còn có phần vượt trội hơn về mặt bình dân, được phổ biến rộng rãi trong mọi tầng lớp quần chúng nhân dân. Nhớ khi xưa, yêu một cô bạn cùng trường, tôi cũng lấy chuyện tình Lan và Điệp để ví dụ :


                         Anh với em như Điệp với Lan,
                         Thanh mai trúc mã đẹp muôn vàn.
                         Vỏ vẻ thơ Đường anh đọc thấy,
                         Chuyện mình sao giống khúc Trường Can...


    Chả trách mối tình đầu học sinh tan vỡ theo khói mây như bao mối tình đầu khác !

                                           dcd_ngconghoan.jpg 

 

                  Trong Cung Oán Ngâm Khúc Nguyễn Gia Thiều cũng đã gọi ngọn lửa âm ỉ đốt trong lòng người cung nữ là Tâm Hỏa với các câu :


                        Ngọn tâm hỏa đốt dàu nét liễu, 
                        Giọt hồng băng thấm ráo làn son. 
                        Lại buồn đến cảnh con con, 
                        Trà chuyên nước nhất, hương đùn khói đôi !

 

         Trong Truyện Kiều, cụ Nguyễn Du cũng mượn chữ Tâm Hỏa nói thành "Lửa Tâm" để tả ngọn lửa ghen tuông trong lòng của Hoạn Thư là:


                        Lửa Tâm càng dập càng nồng,
                  Trách người đen bạc ra lòng trăng hoa.

                        Ví bằng thú thật cùng ta,
                  Cũng dung kẻ dưới mới là lượng trên !

 

 

           Hỏa là Lửa, và là chữ Tượng Hình của một trong 214 bộ của Chữ Nho... Dễ Học, theo diễn tiến của chữ viết như sau :
 

               Giáp Cốt văn         Đại Triện          Tiểu Triện          Lệ Thư

                   DCD_Hoa_3.jpg

Ta thấy :
           Giáp Cốt Văn là hình tượng của một ngọn lửa được vẽ cách điệu để tượng trưng cho lửa, qua Đại Triện, Tiểu Triện dần dần diễn tiến thành chữ viết, cho đến Chữ Lệ thì đã định hình giống như chữ viết hiện nay HỎA 火 là LỬA. Có tất cả 407 chữ được ghép bởi bộ Hỏa nầy để chỉ những gì có liên quan tới Lửa như đèn đóm đuốc nến, nóng nực sáng sủa, nấu nướng chiên xào ... đều thuộc bộ Hỏa cả , Cho thấy là Lửa quan trọng biết bao trong đời sống của chúng ta.


         Lửa cháy đỏ rực, hừng hực với ngọn lửa đỏ bốc cao là Dương Hỏa, còn lửa cháy âm ỉ với ngọn lửa xanh dịu dàng chập choạng là Âm Hỏa. Nhưng dù âm dù dương thì lửa vẫn cho ánh sáng và sức nóng có thể thiêu đốt hoặc làm thay đổi hình dạng của những vật chất khác, kể cả Vàng cũng bị chảy thành chất lỏng, mặc dù ông bà ta nói " Vàng thật không sợ lửa ", cũng là để chỉ màu sắc của vàng không hề bị suy suyển mà thôi.

 

                    DCD_Hoa_4.jpg

                      Thiên Thượng Hỏa              Tích Lịch Hỏa 

 

         Theo Tử Vi đẩu số thì có 6 hình thức lửa, đó là : Thiên Thượng Hỏa 天上火 là Lửa trên trời là Lửa của Mặt Trời, Tích Lịch Hỏa 霹靂火 là Lửa Sấm sét là Lửa của điện chớp, Sơn Đầu Hỏa 山頭火 là Lửa đầu núi là Núi lửa, Sơn Hạ Hỏa 山下火 là Lửa dưới núi là Lửa cháy rừng, Lô Trung Hỏa 爐中火 là Lửa trong lò là Lửa nấu ăn và Phúc Đăng Hỏa 覆燈火 là Lửa của cây đèn dầu là Lửa dùng để thắp sáng. Nên được chia làm hai nhóm :
      * Thiên Thượng Hỏa 天上火, Tích Lịch Hỏa 霹靂火, Sơn Đầu Hỏa 山頭火 thì không kỵ thủy, không sợ nước, có nước lại càng nổ lớn cháy lớn hơn.
      * Sơn Hạ Hỏa 山下火, Lô Trung Hỏa 爐中火, Phúc Đăng Hỏa 覆燈火 thì gặp nước, gặp mưa đổ xuống là tắt queo ngay !

 

        Theo thần thọai xưa thì Lửa có 2 nguồn gốc như sau :


       * Toại Nhân 燧人, hay Toại Nhân thị 燧人氏, là người sáng tạo ra lửa trong Thần thoại Trung Hoa cổ đại, có thuyết xưng ông là một trong Tam Hoàng Ngũ Đế. Theo Cao Đài từ điển, Toại là khoan gỗ lấy lửa, còn Nhân là người.
        Theo Sách Hàn Phi tử - Ngũ Đố chép rằng: " Thời thượng cổ, dân ăn quả, củ, thịt sống nên bị đau bụng, bệnh tật rất nhiều. Có thánh nhân bổ củi để lấy lửa nấu chín thức ăn, dân ca ngợi tôn làm vua trong thiên hạ, hiệu là Toại Nhân thị ". Nhờ có Toại Nhân, loài người có lửa, không còn đứng ngang hàng với cầm thú như trước nữa.

 

       * Chúc Dung 祝融, vốn tên là Trọng Lê 重黎, sáng tạo ra cách nấu qua vật cách nhiệt như: nồi đất, ấm đất, niêu đất; khiến món ăn có mùi vị và thơm ngon hơn, ông lại nghiên cứu ra các chất để khi cần là có lửa ngay mà khỏi phải dùi cây hay mài đá nữa. Ví dụ như ông ép dầu lạc (dầu phọng) tích trữ làm chất cháy, hoặc chế ra ngọn đuốc để có thể giữ lửa và di chuyển được trong bóng tối. Ông giữ chức Hỏa Chính cai quản về việc chế tạo và sản xuất lửa trong thiên hạ với danh hiệu là Chúc Dung 祝融, được dân gian truyền tụng như là một ông Thần Lửa sau Toại Nhân.

         Từ sau khi La Quán Trung viết quyển Tam Quốc Chí có nhân vật Chúc Dung Phu Nhân là vợ của Man Vương Mạnh Hoạch, thì lại có thuyết cho thần lửa Chúc Dung là phái nữ, và có lẽ vì thế mà ta có từ " Bà Hỏa " để chỉ lửa củi hỏa hoạn chăng ?! Sau PHONG DI là " Dì Gió ", ta còn có CHÚC DUNG là " Bà Hỏa " nữa, cho thấy từ ngàn xưa Phái Nữ đã không phải là phái yếu đuối tầm thường !

                 DCD_Hoa_5.jpg

       Toại Nhân thị 燧人氏      Chúc Dung 祝融    Bà Hỏa Chúc Dung   

   

        Theo Dịch Lý Bát Quái về âm dương ngũ hành thì NAM PHƯƠNG BÍNH ĐINH HỎA. Bính là Dương hỏa, Đinh là Âm hỏa và đều thuộc Phương Nam, ăn với mùa hè là mùa nóng nực nhất trong năm, mùa của " Lựu phun lửa hạ..." thích hợp với các loài hoa màu đỏ rực như Hoa  Phượng, Hoa Đỗ quyên, hoa Thạch lựu... và như cụ Nguyễn Du đã chuyển mùa trong Truyện Kiều khi ông cho cô Kiều đi tắm :


                             Dưới trăng quyên đã gọi hè,
                        Đầu tường lửa lựu lặp lòe đâm bông.

                             Buồng the phải buổi thong dong,

                        Thang lan rủ bức trướng hồng tắm hoa.       

 

           Hỏa là lửa, lửa chẳng những mang lại sự ấm áp, mang lại ánh sáng cho con người, mà còn đưa con người ra khỏi cảnh sống hoang sơ ăn lông ở lổ lúc ban đầu nữa. Lửa còn mang lại những niềm vui, hạnh phúc cho con người khi trời đông gía rét mà được quây quần bên bếp lửa hồng ấm cúng của gia đình như lời ca trong bài "Về Dưới Mái Nhà" của Y Vân và Xuân Tiên :


                     "...Người ơi, mau về đây, 
                         về bên bếp hồng tay cầm tay...

                         Cười lên chan chứa tươi làn môi ...

                         nhớ phút vui đêm nay !

và...

                      ...Nhà ai trong chiều nay
                         Lửa đêm đốt hồng vai kề vai
                         Và nghe câu hát yêu đời ai
                         Hát mãi sao không nguôi..."


... và cái " bếp hồng " ấm áp hạnh phúc kia theo mãi trong tâm thức của những con người tha phương cầu thực như chúng ta mãi mãi cho đến trọn đời :

               Ơi,... nỗi lòng chan chứa, 
               Hỡi người ơi ... biết sao cho vừa... tình thương... của bếp hồng soi !

và bâng khuâng ray rức thiết tha hơn với ...


                     ...Chiều nay mưa còn rơi
                        Chiều nay bếp hồng đang còn say
                        Chiều nay vui sống trong tình yêu.
                        Nhớ phút vui không nguôi.


                Nào ai xa ngàn nơi.
                Kìa bao mái nhà đang chờ ai
                Kìa bao bếp hồng đang còn tươi
                Thương nhớ lên đầy vơi..."


         Ôi, qủa là những lời ca ray rức, não nuột làm xúc động lòng người xa xứ !... Bài hát " Về Dưới Mái Nhà " đã ăn sâu vào tâm thức của tôi khi tôi vừa mới lớn, khoảng cuối thập niên năm mươi của Thế Kỷ trước, lúc Tổng Thống Ngô Đình Diệm mới về nước chấp chánh, nên... đến bây giờ định cư trên đất Mỹ nầy, lời của bài hát càng âm ỉ râm rang hơn làm ray rức mãi lòng người viễn xứ như tôi, nhất là vào những ngày cận Tết với trời đông gía lạnh.....

 

         Trong thi ca cổ cũng vẽ nên một bức tranh ấm áp của những người bạn xa quê tìm đến với nhau trong những đêm xuân cận Tết với các nét chấm phá thật nên thơ như trong bài Hàn Dạ ( đêm lạnh ) của Đỗ Tiểu Sơn đời Tống :


                  寒夜客來茶當酒,     Hàn dạ khách lai trà đương tửu,
                  竹爐湯沸火初紅。     Trúc lô thang phất hỏa sơ hồng.
                  尋常一樣窗前月,     Tầm thường nhất dạng song tiền nguyệt,
                  才有梅花便不同。     Tài hữu mai hoa tiện bất đồng.   
Có nghĩa :
                Đêm đông bạn đến rượu thay trà,
                Quanh bếp than hồng nước mới pha.
                Bên cửa thường ngày trăng vẫn chiếu,
                Thêm cành mai nữa, nhớ quê xa !...

                         DCD_Hoa_6.jpg

                                         Đêm đông bạn đến rượu thay trà,

 

          Hỏa là Lửa, ngoài nghĩa Bếp Lửa ra, Hoả còn có nghĩa là Đèn Đóm, đèn đuốc thắp lên ban đêm để vui chơi trong cung như nàng cung nữ thất sủng nhìn về nơi có ánh đèn lửa tiệc tùng mà tủi thân tủi phận :


                  火照西宮知夜飲,    Hỏa chiếu Tây cung tri dạ ẩm
                  分明復道奉恩時。    Phân minh phúc đạo phụng ân thì.

                                                                     ( Tây Cung Thu Oán )
Có nghĩa :
                        Lửa chiếu Tây cung đang dạ tiệc,
                        Rõ ràng nơi đó hưởng ơn vua !


...và buồn như nàng cung nữ trong Cung Oán Ngâm Khúc của Ôn Như Hầu :


                        Hóa công sao khéo trêu ngươi, 
                        Bóng đèn tà nguyệt tẻ mùi ký sinh.
 


  ... cũng là đèn lửa nhưng buồn vui có khác, và không chỉ có buồn vui, có những ánh đèn còn rất nên thơ, như đèn của lửa chài trong Phong Kiều Dạ Bạc của Trương Kế :

 

                   江楓漁火對愁眠      Giang phong ngư hỏa đối sầu miên


mà Tản Đà đã diễn Nôm rất nên thơ là :


                            Lửa chài cây bến sầu vương giấc hồ...


           ... hay như hai ba đóm lửa lặp lòe của một bến đò xa xa trong đêm tối trong bài Đề Kim Lăng Độ của Trương Hỗ đời Đường :


                金陵津渡小山樓,    Kim Lăng tân độ tiểu sơn lâu,
                一宿行人自可愁。    Nhất túc hành nhân tự khả sầu.
                潮落夜江斜月裡,    Triều lạc dạ giang tà nguyệt lý
                兩三星火是瓜州。    Lưỡng tam tinh hỏa thị Qua Châu
Có nghĩa :
                      Kim Lăng bến nước cạnh đồi cao,
                      Lữ khách qua đêm tự cảm sầu.
                      Triều xuống trăng mờ chênh chếch chiếu,
                      Lặp lòe đóm lửa ấy Qua Châu !


           

DCD_Hoa_7.jpg

Trong cảnh đêm khi nước thủy triều đang xuống dưới ánh trăng nghiêng nghiêng mờ chiếu, thấp thoáng hai ba đóm lửa đèn nhà ai như những vì sao lạc kia, chính là bến đò Qua Châu đối diện đó vậy ! Qủa là một bức tranh chấm phá với cảnh đèn đóm trong đêm vô cùng nên thơ và thi vị !

 

          Lửa dịu dàng là thế, ấm áp là thế, nên thơ là thế... nhưng khi nổi " tam bành " thì " Bà Hỏa " hoạn đến không buông tha cho ai cả, không buông tha cho vật chất nào cả, mà thiêu rụi sạch sành sanh. Bão tố giật xập nhà cửa, nước lụt cuốn trôi nhà cửa, nhấn chìm ghe xuồng... nhưng cũng còn vớt vát lại được chút đồ đạc còn trôi nổi trên sông, chớ sau một cơn hỏa hoạn thì tất cả còn lại chỉ là đống tro tàn của dĩ vãng mà thôi !

           Lửa còn đi liền với chiến tranh với các từ Binh Lửa, Khói Lửa, Tên lửa, Đạn lửa hay Lửa Đạn là vùng lửa cháy đạn bay, là nơi tuyến đầu, nơi mà người ta bắn giết lẫn nhau, là các vùng Hỏa Tuyến 火線, nơi mà ban đêm luôn có " Những đóm mắt Hỏa Châu 火珠 " soi sáng chiến trường .  Tội nghiệp cho tuổi trẻ Miền Nam, tội nghiệp cho các anh lính trẻ Việt Nam Cộng Hòa như tôi  " xếp bút nghiên theo việc binh đao " để đêm đêm phải tâm sự cùng " Những ánh mắt Hỏa Châu " như trong bài hát của Nhạc sĩ Hàn Châu :

                     Có những đêm dài ... anh ngồi ...nhìn hỏa châu rơi ...
                     Nghe vùng tâm tư ... cháy đỏ ...xoay ngang lưng trời ...
                     Những đóm mắt hỏa châu, bừng lên trong màn tối ,
                     Như mắt em sáng ngời, theo anh đi ngàn lối ...
                     Những đêm không ngủ... anh ngồi tâm sự ...cùng hỏa ...châu rơi.....
 

          

         Qủa là tội nghiệp cho tuổi trẻ của Miền Nam khoảng thập niên 60-70 thế kỷ trước , tuổi trẻ của Việt Nam nói chung đã bị cuốn vào vòng chiến tranh ý thức hệ một cách oan uổng...


         Ngày xưa, gọi chiến tranh là Phong Hỏa 烽火, là những lửa khói bốc lên do chiến loạn, mà cũng là những lửa khói được đốt lên để báo hiệu chiến tranh đang diễn tiến đến nơi nào, là những Phong Hỏa Đài 烽火台 dùng để cảnh báo cho dân chúng hậu phương biết trước mà tránh xa và nhất là để cho quan binh hậu phương biết đường mà ứng phó. Nên Phong Hỏa là chiến tranh như Đỗ Phủ đã viết về chiến loạn do An Lộc Sơn gây ra :


                  Phong Hỏa liên tam nguyệt    烽火連三月


là Chiến tranh kéo dài suốt ba tháng liền... đã gây ra rất nhiều chết chóc khổ đau tang thương khắp chốn, huống chi cuộc chiến Nam Bắc Việt Nam kéo dài những ba mươi năm, nhân dân cả nước phải hứng chịu biết bao nhiêu là đau thương đồ thán do bom đạn gây ra !  

 

           Hỏa là Lửa, là Đèn đuốc là Đăng Hỏa 燈火. Hỏa là Tinh Hỏa 星火 là những vì sao lắp lánh trên trời, là Hỏa Tinh 火星 một trong 4 hành tinh của Thái Dương Hệ, có tên la-tinh là Mars. Theo khoa học giả tưởng trên Hỏa tinh có Người Hỏa Tinh và có sự sống như trên Trái đất. Hoả Tiển 火箭 là Tên Lửa, vừa là vũ khí sát thương, vừa là phương tiện chuyên chở trong và ngoài không gian. Hỏa Thạch 火石 là Đá lửa, đá dùng để đánh lửa. Hỏa Sơn 火山 là núi lửa, là Hỏa Diệm Sơn 火焰山. Hỏa Khanh 火坑 là Cái Hầm Lửa, từ dùng để chỉ các cô gái điếm sống cuộc sống đày đọa đồi trụy ngột ngạt như bị nhốt trong hầm lửa vậy, nên cụ Nguyễn Du đã gọi là "Lửa Nồng" khi cho cô Kiều phân tách để Thúc Sinh hiểu được là sống cảnh lẻ mọn bị vợ lớn ghen tuông hành hạ (giấm chua) còn tội nghiệp hơn là sống đời kỹ nữ nữa :

 

                          Cúi đầu luồn xuống mái nhà
                     Giấm Chua lại tội bằng ba Lửa Nồng !

 
          Hỏa còn dùng để chỉ vũ khí của quân đội như từ Hỏa Thương 火槍 là Súng Ống, Hỏa Dược 火藥 là Thuốc súng, Hỏa Lực 火力 là sức mạnh của vũ khí quân đội, Hỏa Tốc 火速 là Nhanh Chóng, Hỏa Công 火攻 là Tấn công bằng lửa, dùng lửa để Hỏa Thiêu 火燒 đốt cháy quân địch, như trận Hỏa Thiêu Xích Bích 火燒赤壁 của Khổng Minh Gia Cát Lượng đã đốt tiêu 81 vạn quân của Tào Tháo trên dòng sông Xích Bích vậy. Cuối cùng để nuôi sống quân đội hàng ngày còn có anh Hỏa Đầu Quân 火頭軍 mà sau nầy trong Quân lực Việt Nam Cộng Hòa gọi là Lính Nhà Bàn, còn Bộ đội Bắc Việt thì gọi là Anh Nuôi. 

           Ngoài trận hỏa công để đời nổi tiếng trong lịch sử thời Tam Quốc ra , còn một trận hỏa công rất đặc sắc nữa ở thời Xuân Thu Chiến Quốc, đó chính là Hỏa Ngưu Trận 火牛陣. Theo Sử Ký Điền Đan Liệt Truyện...


          Đời Yên Chiêu Vương, tướng Yên là Nhạc Nghị đem binh đánh Tề. Tướng Tề là Điền Đan cố giữ thành Tức Mặc. Năm 279 trước Công Nguyên, Yên Huệ Vương nối ngôi, Điền Đan dung kế ly gián để Yên vương dùng tướng Kỵ Kiếp thay cho Nhạc Nghị, đoạn lại dùng kế trá hàng để Kỵ Kiếp không phòng bị, rồi đang đêm gom hết cả ngàn trâu bò trong thành, buộc gươm đao nhọn vào sừng trâu, đuôi trâu buộc cỏ rơm có tẩm dầu, rồi đốt lửa lên, trâu bị nóng cắm đầu cắm cổ phóng về phiá quân Yên, lại cho 5000 lính cảm tử xung phong giết tới. Quân Yên đại bại, Kỵ Kiếp chết trận, Điền Đan thừa thế xua quân đánh chiếm lại hơn 70 thành đã bị mất.

 

         Vì tích Hỏa Ngưu Trận ở trên mà trong văn học Việt Nam có một bài thơ vịnh Con Trâu Già rất hay như sau :


                         Một nắm xương khô, một nắm da
                         Bao nhiêu cái ách đã từng qua
                         Đuôi cùn biếng vẫy Điền Đan hỏa
                         Tai nặng buồn nghe Nịnh Thích ca
                         Sớm thả đồng đào ăn đủng đỉnh
                         Tối về chuồng quế thở nghi nga
                         Có người toan giết tô chuông mới
                         Ơn đức vua Tề, lại được tha.

        Bài thơ trên có người cho là của cụ Huỳnh Mẫn Đạt, có người cho là của Tam Nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến. Nhưng dù của ai thì đây vẫn là một bài thơ hay.

                                       DCD_Hoa_8.jpg 

                   Hỏa Thiêu Xích Bích           Hỏa  Ngưu  Trận

                 

         Hỏa là Lửa, nhưng Hỏa Kê 火雞 không phải là Con Gà Lửa mà là con Gà Tây, bình dân gọi là con Gà Lôi, ở Mỹ gọi là Turkey. Lễ Gà Lôi là Lễ Tạ Ơn của Mỹ (ngày Thứ Năm của tuần thứ 3 trong tháng 11), hằng năm dân Mỹ phải "hỏa thiêu" đến mấy triệu con Hỏa Kê nầy để ăn mừng. Hỏa Trùng còn gọi là Huỳnh Hỏa Trùng 螢火蟲, không phải là con sâu lửa mà là con Đom Đóm với ánh đèn lân tinh chớp sáng phía sau đuôi trên các ngọn cây bần ở quê tôi. Cũng như Hỏa Hầu 火候 không phải là con Khỉ Lửa, mà là chỉ cái tiêu chuẩn mức độ đạt đến cở nào. Như hấp bánh còn thiếu hỏa hầu nên bánh chưa thật chín thật ngon, Công phu luyện chưa tới hỏa hầu nên chặt cục gạch còn chưa bể hai... Hỏa Hầu cũng không phải là Tề Thiên Đại Thánh 齊天大聖, vì Tôn Ngộ Không 孫悟空 là con Thạch Hầu 石猴, con khỉ từ trong đá nứt ra, chứ không phải là con khỉ lửa; chỉ sau khi bị Thái Thượng Lão Quân đốt trong lò Bát quái bảy bảy bốn mươi chín ngày ra, thì Tôn Ngộ Không mới có được Hỏa nhãn Kim tinh 火眼金睛, có nghĩa : Con mắt rực như lửa và tròng mắt sáng như vàng có thể nhìn thấu mọi sự vật do yêu quái biến hình. Nhưng Hỏa Xa là Xe Lửa, Hỏa Long 火龍 thì lại là con rồng lửa chính hiệu có màu đỏ rực như lửa. Gần đây, người Hoa lại dùng từ Hỏa Oa 火鍋 là Cái Nồi Lửa để chỉ Cái Lẩu (cái Cù Lao) mà ta thường ăn khi có tiệc. 

   

      Theo phép tạo chữ Nho ngày xưa, một chữ Hỏa 火 là Lửa; 2 chữ Hỏa chồng lên nhau là Viêm 炎 là Nóng, ta có từ kép Viêm Nhiệt 炎熱 là Nóng nực; 3 chữ Hỏa ghép lại thành chữ Diễm 焱 là Lửa cháy rực rỡ, đọc là Diệm thì đồng âm với từ Hỏa Diệm Sơn 火焰山 là Núi Lửa, HỎA DIỆM SƠN còn là từ dùng để chỉ các bà các cô có thân hình với 3 vòng thật "nóng", thật gợi cảm, thật bốc lửa !  

 

                      Những thành ngữ có chữ Hỏa 火 mà Hoa Việt đều thông dụng là :


 * Hỏa thượng gia dầu 火上加油 : Ta nói là "Lửa cháy thêm dầu" hay là "Đổ thêm dầu vào lửa", ý nói đã không chửa cháy mà còn làm cho nó cháy lớn thêm hơn ! 


 * Hỏa hải đao sơn 火海刀山 : Ta nói là "Núi đao biển lửa" để chỉ những nơi vô cùng nguy hiểm, những chỗ mất mạng như chơi !


 * Can sài liệt hỏa 乾柴烈火 : là Củi khô lửa mạnh, ta nói là "Lửa gần rơm" lâu ngày cũng bén.


 * Sấn hỏa đả kiếp 趁火打劫 : Thừa lúc lửa cháy để cướp đồ của người khác, ta nói là " Thừa nước đục thả câu".


 * Phong hỏa liên niên 烽火連年 : Chiến tranh năm nầy liền năm khác, ta nói là " Chiến tranh dai dẳng" như cuộc nội chiến của Việt Nam ta ngày xưa làm cho quân dân đều chán ngán.

 

         Trong Tăng Quảng Hiền Văn cũng có những câu ngạn ngữ rất thực tế như :


                   Viễn thủy nan cứu cận hỏa,     遠水難救近火,
                   Viễn thân bất như cận lân.      遠親不如近鄰。
Có nghĩa :
                 Nước xa không thể cứu được lửa gần ,
                 Bà con xa không bằng láng giềng gần.

 Hay như câu :

                    Thành môn thất hỏa,      城門失火,
                    Ương cập trì ngư.           殃及池魚。 
Có nghĩa :
               Cửa thành bị lửa cháy, bị hỏa hoạn, thì làm cho lũ cá ở trong ao cũng bị tai ương, bị vạ lây, vì... người ta sẽ vét hết nước ở trong ao để chửa lửa, nên cá sẽ không còn nước để sống nữa ! Giới bình dân gọi là : "bị văng miểng", bị họa lan can !

 

         Hỏa là Lửa cũng như Mộc là Cây là 2 nhân tố không thể thiếu trong đời sống con người. Hỏa là Đăng Hỏa 燈火 là Đèn đóm để thắp sáng; là Hỏa Lô 火爐 là cái Lò lửa để nấu ăn. Trong thời đại văn minh hiện nay ta còn có Điện Lô 電爐 là Lò điện, Mai Lô 煤爐 là Lò Gas... Lửa còn dùng để sưởi ấm, nấu nướng chiên xào, chế biến thức ăn, xúc tác phản ứng hóa học trong phòng thí nghiệm, để luyện kim... kể cả những hoạt động vui chơi như Bắn pháo bông, Đốt lửa trại... đều không thể xa rời được lửa. Thử nghĩ nếu một ngày không có lửa thì cuộc sống sẽ ra sao và thế giới nầy sẽ ra sao ?!

 

        Những đêm nguyện cầu, những đêm thắp nến, đều nhờ vào ngọn lửa của ánh nến để thắt chặc thêm tình đoàn kết, để ung đúc thêm ý chí đấu tranh, để càng hạ quyết tâm phấn đấu hơn để đạt mục đích cuối cùng. Ta hãy nghe lại lời của bài hát Nhạc Rừng Khuya mà nhạc sĩ Lam Phương đã sáng tác khi ông còn chưa đầy 20 tuổi :


             ... Bập bùng bấp bung ...đêm khuya thêm não nùng... 
                 Lửa càng bừng cháy, siết tay nhau... chúng ta cùng múa 
                 quanh lửa hồng... cháy trong rừng khuya
 
và...
             ... Lửa cháy, hăng lửa giục lòng dân ...đoàn kết 
                 Lửa reo, vang lửa gào lòng ta ...nguồn sống 
                 Lửa Tự Do ...muôn năm vẫn reo ...rừng ơi !

 

                Trở lại với đề tài lúc ban đầu, theo quan niệm của Phật Giáo, cơ thể con người là do TỨ ĐẠI : Đất Nước Gió Lửa khi đã đủ cơ duyên thì kết hợp lại mà thành, nên khi chết đi thì thân Tứ Đại sẽ trả về cho Tứ Đại. Nhớ năm 1963 khi Hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu xong thì còn lại ... trái tim vẫn không chịu cháy trong  lò thiêu lên đến 4000 độ C tại Đài hỏa táng An dưỡng địa ở Phú Lâm (Sài Gòn). Thì ra, vẫn có những cái mà lửa không thể thiêu rụi được, đó là Trái Tim của đấu tranh, tức là Ý Chí Đấu Tranh thì không có ngọn lửa nào thiêu rụi được cả ! Xin được mượn 2 câu thơ sau đây trong bài thơ ca ngợi Hoà thượng Thích Quảng Đức để kết thúc cho bài phiếm luận nầy :


                          Thân Tứ Đại trả về Tứ Đại,
                          Tim của ngài tồn tại thế gian !


       Lửa là Hỏa và Hỏa là Lửa. Lửa thiêu rụi tất cả, nhưng không thể thiêu rụi được Tinh thần đoàn kết và ý chí đấu tranh !


Đỗ Chiêu Đức

 

 

Nên gọi

            QUAN ÂM hay QUÁN ÂM

 

DCD_QuanAm.jpg 

                  Những năm gần đây, hầu như tất cả các chùa chiền, tăng ni, cư sĩ, Phật tử ... kể cả trong nước lẫn ngoài nước, đều có thói quen gọi QUAN Thế Âm Bồ Tát thành QUÁN (có dấu SẮC) thế Âm Bồ Tát ?!


         Mới nghe một hai lần đầu, tôi cứ ngỡ là người ta đọc sai, đọc lộn âm, nhưng chẳng những tín đồ Phật tử, cư sĩ tăng ni mà ngay cả các Tỳ kheo Đại đức, Thượng tọa Cao tăng khi tụng kinh hay đăng đàn thuyết giảng, hễ có dịp nhắc đến QUAN Âm Bồ Tát thì đều đọc là QUÁN Âm Bồ Tát cả !


        Tôi vô cùng ngạc nhiên, ngạc nhiên hết sức... Không biết tại sao Phật hiệu Đại Từ Đại Bi Cứu Khổ Cứu Nạn QUAN THẾ ÂM BỒ TÁT nghe hiền hòa là thế, từ bi là thế, êm tai là thế, bỗng dưng lại bị bỏ thêm cái Dấu Sắc vô duyên nghe chói tai muốn chết ! Ấy thế, mà tại sao mọi người đều nghe theo và đọc theo cái Phật hiệu chói tai có dấu sắc kia ?!  

 

        Theo "Chữ Nho...Dễ Học" thì chữ Quan 觀 là chữ thuộc dạng Hình Thanh theo diễn tiến của chữ viết như sau :  

 

             Chung Đỉnh Văn     Đại Triện    Tiểu Triện      Lệ Thư

                             DCD_Apr19_Quan.jpg

Ta thấy :
         Từ Chung đình văn cho đến Đại triện, Tiểu triện diễn tiến cho đến Lệ Thư đều do chữ QUÁN 雚 (một loại Lát để dệt chiếu, đệm) dùng làm ÂM kết hợp với Bộ KIẾN 見 là Thấy, là Gặp để chỉ Ý đúng theo phép tạo chữ của HÀI THANH (còn gọi là HÌNH THANH). Nên chữ 觀 được đọc là :


  * QUAN thì có nghĩa là Nhìn Ngắm, Xem Xét, như Tham quan 參觀, Quan sát 觀察... là Cách nhìn, như Quan Niệm 觀念, Quan Điểm 觀點...

     Nếu đọc là :
  * QUÁN thì có nghĩa là Cái chùa của các đạo sĩ ở và tu, như Bạch Vân Quán 白雲觀, Tử Dương Quán 紫陽觀...

 

        Nhưng để truy nguyên tìm hiểu nguyên nhân của cái "dấu sắc" vô duyên kia, tôi còn tìm lật các Tự điển, Từ điển... À, thì ra chữ QUAN 觀  là Xem xét còn được đọc là QUÁN với nghĩa Xét thấu theo các tài liệu sau đây (chỉ trích những phần có liên quan) : 

 

 * Từ điển Hán Nôm :

    QUAN 觀 là...
       - xem, quan sát.
  1. (Động) Xem xét, thẩm thị, Ngắm nhìn, thưởng thức. 
  2. (Danh) Cảnh tượng, quang cảnh, Cách nhìn, quan điểm, quan niệm.
  3. Một âm là "Quán". (Động) Xét thấu, nghĩ thấu. ◇Bát-nhã ba-la mật-đa tâm kinh 般若波羅密多心經: "Quán Tự Tại Bồ Tát hành thâm Bát-nhã Ba-la-mật-đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách" 觀自在菩薩行深般若波羅蜜多時, 照見五蘊皆空度一切苦厄 Bồ Tát Quán Tự Tại, khi tiến sâu vào Tuệ Giác Siêu Việt, nhận chân ra năm hợp thể đều là (tự tánh) Không, liền độ thoát mọi khổ ách.

 

* Từ điển Thiều Chửu :
       Giải thích âm QUÁN như sau :
       QUÁN : là Xét thấu, nghĩ kĩ thấu tới đạo chính gọi là quán. Như Chỉ Quán 止觀 yên định rồi xét thấu chân tâm, như Kinh Dịch 易經 nói Quán ngã sinh vô cữu 觀我生無咎 xét thấu cái nghĩa vụ của đời ta mới không mắc vào tội lỗi. Đạo Phật có phép tu dùng tai mà xem xét cõi lòng, trừ tiệt cái mầm ác trở nên bậc Vô thượng, nên gọi là phép quán 觀. Như Quan âm bồ tát 觀音菩薩, vì ngài tu bằng phép này, sáu căn dùng lẫn với nhau được, mắt có thể nghe được, nên gọi là Quán thế âm 觀世音.  

   

         À, thì ra QUAN 觀 là Xem Xét, là Nhìn Ngắm... Nếu đọc là QUÁN thì có nghĩa là Xét Thấu, Nghĩ Thấu... Nhưng suy cho cùng thì Xét Thấu Nghĩ Thấu đều là nghĩa phát sinh của Xem Xét Nhìn Ngắm ra mà thôi ! Và QUÁN còn là một phép tu tập về lục căn như có thể dùng tai để nhìn và dùng mắt để nghe được... Như trong "Bát-nhã ba-la mật-đa tâm kinh 般若波羅密多心經 "..vv.. và..vv...  Nhưng,
        Ở đây tôi không nói về phép tu tập (Vì tôi có biết gì đâu mà nói ), tôi chỉ thắc mắc, ray rức không hiểu vì sao một Phật hiệu của một Bồ Tát khả kính đọc lên nghe êm ái nhẹ nhàng là QUAN THẾ ÂM Bồ Tát lại bị ai đó hô hào rồi thô bạo thêm dấu sắc vào thành QUÁN THẾ ÂM nghe thật trúc trắc chói tai. Nếu bảo là gọi cho đúng cái con đường tu tập của Bồ Tát thì càng sai hơn, vì Phật hiệu là cái tên gọi, còn con đường tu tập là cái việc làm. Hơn nữa cái Phật hiệu đại từ đại bi Cứu khổ Cứu nạn QUAN THẾ ÂM Bồ Tát mà mọi người còn gọi một cách thân mật gần gũi với cuộc sống hơn là Mẹ Hiền Quan Âm đã có từ hơn một ngàn năm trăm năm nay, từ thời Bắc Chu của Nam Bắc Triều ( 420-589 ) đời vua Diệu Trang Vương với Quan Âm Diệu Thiện và trên hai trăm năm với truyện nôm Quan Âm Thị Kính của ta dưới triều nhà Nguyễn (1802---). Phật hiệu QUAN ÂM BỒ TÁT đã đi sâu vào lòng quần chúng nhân dân, đã ăn sâu vào tâm khảm của muôn vạn tín đồ Phật tử, thì tại sao lại phải vì một lý do nào đó mà thêm vào "Dấu Sắc" cho trúc trắc khó đọc và nghe không êm ái chút nào cả !

 

         Xin được lạm bàn về Phật hiệu QUAN THẾ ÂM BỒ TÁT. Như các Từ điển nêu trên...


       QUAN 觀 là Quan sát, là Xem xét. THẾ 世 là Thế giới, là Cuộc đời nầy. ÂM 音 là Âm tín, Âm hao. Vậy thì...
       QUAN THẾ ÂM BỒ TÁT 觀世音菩薩 là vị Bồ Tát quan sát xem xét hết những âm tín âm hao của cuộc đời nầy, của cả thế giới nầy, để cứu khổ cứu nạn với tấm lòng đại từ đại bi của mình cho tất cả chúng sinh. Vì thế mà ta thường nghe mọi người niệm câu " Nam mô Đại từ Đại bi Cứu khổ Cứu nạn Quan Thế Âm Bồ Tát " với một tấm lòng thuần thành và lắng lòng với Mẹ Hiền QUAN ÂM nhẹ nhàng êm ái. Nhưng nếu đọc là QUÁN ÂM thì vừa khó nghe, vừa chói tai lại vừa có vẻ Bá Đạo nữa, vì ...

 

      Âm QUÁN dễ làm cho người ta liên tưởng và hiểu lầm thành...


    * QUÁN 冠 : là Bao trùm, Phủ trùm, như từ Quán Quân 冠軍 là Bao trùm cả Tam quân, là Hạng Nhất. Ngày xưa chỉ có những cuộc thi đua so tài trong quân đội, nên từ Quán Quân là Hạng Nhất được sử dụng thông dụng cho đến hiện nay. Nếu hiểu nhầm QUÁN THẾ ÂM là chữ QUÁN 冠 nầy, thì QUÁN THẾ 冠世 có nghĩa là Bao trùm cả thế giới, là Hạng Nhất ở trên đời nầy ! Nên tôi nói có vẻ Bá Đạo là thế, không thích hợp với Mẹ Hiền Quan Âm chút nào cả ! Còn như hiểu nghĩa... 

 

    * QUÁN 貫 là Quán Triệt 貫徹, Quán Xuyến 貫穿, là Xuyên suốt, thì QUÁN THẾ 貫世 là Xuyên suốt lo toan cho cả thế giới, nên có vẻ ôm đồm hết mọi việc của người đời. Mẹ Hiền Quan Âm chỉ Cứu khổ cứu nạn để giúp cho con người thoát khỏi bể khổ bến mê, chớ không phải ôm đồm làm hết mọi việc cho người đời. Còn nếu phát âm theo dân Nam Kỳ Lục Tỉnh chúng tôi không phân bịêt có "g" hay không "g" mà đọc là QUÁNG thành QUÁNG ÂM thì lại càng tội lỗi hơn ! Cho nên...

      Thiết nghĩ, QUAN THẾ ÂM BỒ TÁT là tên gọi của Phật Bà Quan Âm đã hơn ngàn năm nay, đã thành TẬP QUÁN NGÔN NGỮ là thói quen của tiếng nói, đã ăn sâu vào tâm thức của mọi người kể cả những người không phải là tín đồ Phật Giáo thuần túy như tôi, nhưng trong đời sống ở làng quê thôn xóm với ngôi chùa ở đầu thôn hay cuối làng, mọi người đã quen rồi với từ Quan Âm Bồ Tát, nay bỗng dưng lại đổi thành Quán Âm Bồ Tát; Mẹ Hiền Quan Âm thành Mẹ Hiền Quán Âm, nghe chua xót và ngỡ ngàng làm sao ấy ! Đã là thói quen của TẬP QUÁN NGÔN NGỮ, sao ta không duy trì giữ nguyên mà lại thay đổi một cách không cần thiết như thế ? Vì mọi người, mọi tín đồ bình dân đâu cần biết đến cái phép tu tập, cái lối tu tập hay cái con đường tu tập của các bậc cao tăng chính giác mà chi, họ chỉ biết Quan Âm Bồ Tát là Mẹ Hiền Quan Âm cứu khổ cứu nạn mà thôi !    

   Nhớ...
        Khoảng giữa năm 1994, dân Sài Gòn đọc được một bài đăng trên báo Sài Gòn Giải Phóng của Giáo Sư Lương Duy Thứ, Trưởng Khoa Trung của Đại Học Tổng Hợp vừa chuyển sang thành Đại Học Khoa Học Xã Hội & Nhân Văn (Vốn là Đại Học Văn Khoa Sài Gòn cũ), nội dung bài báo đề cập đến việc nên dùng từ "CHÚNG CƯ 眾居" thay thế cho từ " CHUNG CƯ " với lý do CHUNG CƯ là từ kép được thành lập theo văn phạm Hán Việt, vì Tính Từ đứng trước Danh Từ cho nên cả 2 từ phải đều là Hán Việt. Thế mà từ CHUNG 終 Hán việt không có nghĩa là Chung chạ mà có nghĩa là Cuối cùng. Nên CHUNG CƯ 終居 không phải là nơi nhiều người ở chung mà là nơi ở Cuối Cùng, tức là mồ chôn hay nghĩa địa. Vậy phải đổi từ CHUNG CƯ 終居 thành CHÚNG CƯ 衆居 thì mới ổn.Vì CHÚNG 衆 là Quần Chúng 群眾, nên CHÚNG CƯ 衆居 mới là nơi Nhiều người cùng ở chung. Sau đó, các báo, đài đều hưởng ứng dùng từ CHÚNG CƯ thay thế cho CHUNG CƯ, nhưng , chỉ một thời gian sau và mãi cho đến hiện nay, đã hơn 20 năm qua , thì... đâu vẫn hoàn đấy ! Tập thể Quần Chúng nói tiếng Việt vẫn thích dùng từ CHUNG CƯ hơn là CHÚNG CƯ ! Tại sao ? Vì CHUNG CƯ là từ viết tắt của nhóm từ 4 chữ "CÙNG CHUNG CƯ NGỤ", hơn nữa từ CHÚNG CƯ nghe nó chỏi cái lổ tai làm sao ấy !. Nên, trước mắt tất cả báo đài đều quảng cáo cho các CHUNG CƯ CAO CẤP, chớ không phải CHÚNG CƯ nữa, như CHUNG CƯ CAO CẤP Phú Mỹ Hưng chẳng hạn !  

 

       Trở lại với Phật hiệu QUAN THẾ ÂM BỒ TÁT, thiết nghĩ giới Phật tử quần chúng bình dân đã quen miệng với các cách gọi thân thương là :
    - Quan Âm Bồt Tát,
    - Phật Bà Quan Âm,
    - Mẹ Hiền Quan Âm....
đã thành một Tập Quán Ngôn Ngữ rồi, nếu bây giờ phải gọi Bà Quan Âm là Bà QUÁN Âm thì nghe rất chướng tai và... không giống ai cả ! Nên, theo thiển ý thì...
     Khi tu tập hay khi nghiên cứu về giáo lý cao siêu của Phật Giáo thông qua các phép, các cách hay các con đường tu tập thì qúy Tỳ Kheo Đại Đức Thượng Tọa hay Hòa Thượng ... muốn gọi sao thì gọi, nhưng khi thuyết giảng giáo pháp trước quần chúng nhân dân thì nên giữ theo lối gọi truyền thống trước đây là QUAN THẾ ÂM BỒ TÁT, chứ đừng cho máy phóng thanh cứ oang oang là " QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT" như chọc vào tai của muôn vạn người nghe một cách bá đạo và khó chịu vô cùng !

       Trên đây chỉ là những suy nghĩ cá nhân của người viết thông qua những phản ánh của bạn bè thân hữu chung quanh, xin chân thành gởi đến các vị chức sắc trong Giáo Hội Phật Giáo và quảng đại thiện nam tín nữ trong và ngoài nước để cùng nhau trao đổi và góp ý về tên gọi của một vị Bồ Tát rất gần gũi thân thương với tất cả chúng sinh còn chìm đắm trong biển khổ !

         Nam Mô Đại Từ Đại Bi Cứu Khổ Cứu Nạn QUAN THẾ ÂM Bồ Tát Ma Ha Tát !

 

                                                                                        
                                                                                           Đỗ Chiêu Đức

 

 

 Tùng Thiện Vương và các thi nhân đời Đường  

 

                   

                 DCD_VuongDuyTungThienVuongLybach.jpg

              VƯƠNG DUY     TÙNG THIỆN VƯƠNG        LÝ BẠCH

 


           Tùng Thiện vương là con trai thứ 10 của Minh Mạng, sinh ngày 24 tháng 10 năm Kỷ Mão (tức 11 tháng 12 năm 1819) tại cung Thanh Hòa trong cấm thành Huế. Mẹ ông là Thục tần Nguyễn Thị Bửu (阮氏寶), người Bình Chương, Gia Định, con gái của Tư không Nguyễn Khắc Thiệu (阮克紹), rất giỏi chữ nghĩa.

           Thuở lọt lòng, ông được ông nội đặt tên là Hiện (晛). Đến năm 1832, khi đã có Đế hệ thi, ông được cải tên là Nguyễn Phúc Miên Thẩm (阮福绵审).

           Ông nội ông là Gia Long rất vui mừng, thưởng liền 10 lạng vàng. Khi còn nhỏ, tính hay khóc, Thục tần rất lo mà không biết thế nào. Bỗng có đạo sĩ nói rằng: "Đây là sao Thái Bạch Kim Tinh giáng sinh, làm lễ tiễn thì khỏi.". Sau làm lễ, quả nhiên khỏi hẳn.

          Năm 1839, ông được phong làm Tùng Quốc công (從國公), mở phủ ở phường Liêm Năng, bên bờ sông An Cựu, Huế.

         Năm 1854, ông được gia phong Tùng Thiện công (從善公). Năm 1858, ông mua 12 mẫu ruộng ở xã Dương Xuân, làm nhà ở gọi là Phương Thốn thảo đường.

         Năm 1865, ông giữ chức Tả Tôn Nhân phủ, trong thời gian này xảy ra sự biến giặc Chày vôi. Trước đó, ông đã gả con gái là Thể Cúc cho Đoàn Hữu Trưng, một thanh niên ở làng An Truyền (tức làng Chuồn). Năm 1866, Hữu Trưng ngầm làm cuộc nổi dậy nhằm lật đổ Tự Đức. Việc thất bại, Hữu Trưng và nhiều người bị hành hình. Mặc dù trước đó, Hữu Trưng đã lấy cớ vợ cư xử trái lễ với mẹ chồng mà trả về để tránh liên lụy cho nhà vợ, Miên Thẩm cũng trói cả con gái và cháu ngoại, quỳ dâng sớ xin chịu tội.

         Tự Đức không kết tội chỉ nói ông: "Chọn rể không cẩn thận để mất thanh danh, nay trừ bổng trong tám năm". Suốt những năm bị trừ bổng ấy, ông lên ngôi chùa cổ Từ Lâm hoang tàn ở xã Dương Xuân làm nơi cư ngụ, vợ con phải canh tác trồng cây quả đem ra chợ bán để có cái ăn hàng ngày.

         Ông mất ngày 30 tháng 3 năm Canh Ngọ (tức 30 tháng 4 năm 1870), lúc 51 tuổi. Thụy là Văn Nhã (文雅). Năm 1878, ông được Tự Đức gia tặng là Tùng Thiện Quận vương (從善郡王).

        Năm 1936, Bảo Đại mới truy phong ông là Tùng Thiện vương (從善王), tước vị mà ngày nay người ta quen gọi.

        Tùng Thiện Vương là bạn thơ chí tình của Cao Bá Quát

                                                                         ( Nguồn gốc :  Wikipedia VN )

 

       Vua Tự Đức, ông vua rất có văn tài đã từng khen :


                  "Văn như Siêu, Quát vô tiền Hán           文如超适無前漢,
                   Thi đáo Tùng, Tuy thất thịnh Đường"     詩到從绥失盛唐。


      Sau đây ta hãy thử so sánh thơ của Tùng Thiện Vương với các nhà thơ lớn của các đời Đường, để thấy được cái hay của mỗi bên và để thấm thía hơn với lời bình phẩm nhận xét của ông vua tài hoa văn nghệ : " Thi đáo Tùng,Tuy thất thịnh Đường !".

 

                          
DCD_Lieu.jpg1. 

        柳                         LIỄU
去歲春殘黃鳥歸,      Khứ tuế xuân tàn hoàng điểu quy,
秋容憔悴月明知.      Thu dung tiều tụy nguyệt minh tri.
東風昨夜吹何處,      Đông phong tạc dạ xuy hà xứ ?
更惹新愁上曉眉.      Cánh nhạ tân sầu thướng hiểu my.

                                                          Tùng Thiện Vương

CHÚ THÍCH :
  * Khứ Tuế : là Năm Ngoái, năm trước, giống như chữ Khứ Niên vậy.
  * Hoàng Điểu : là Con chim vàng, chỉ chim Hoàng Oanh.
  * Nhạ : là Vây đến, Đụng đến, Ghẹo đến... cũng có nghĩa là Nhuốm lấy, Rước lấy...
  * Hiểu My : là Chân mày buổi sáng( chưa kịp vẽ )


Diễn Nôm :
                          LIỄU
         Năm ngoái xuân tàn oanh vội bay,
         Dáng thu tiều tụy mảnh trăng soi.
         Đêm qua gió cuốn về đâu nhỉ ?
         Lại rước thêm sầu liễu sáng nay !

Lục bát :
         Xuân tàn oanh vội bay về,
         Nét thu tiều tụy não nề trăng soi.
         Đêm qua gió thổi nhà ai,
         Sáng nay sầu đượm nét ngài ủ ê !

                                       Đỗ Chiêu Đức

 

 

    * Sau đây là bài " Mộ xuân quy cố sơn thảo đường 暮春歸故山草堂 của Tiền Khởi 錢起 đời Đường :


           谷口春殘黃鳥稀,     Cốc khẩu xuân tàn hoàng điểu hi,
           辛夷花盡杏花飛。     Tân di hoa tận hạnh hoa phi.
           始憐幽竹山窗下,     Thủy lân u trúc sơn song hạ,
           不改清陰待我歸。     Bất cải thanh âm đãi ngã quy.


CHÚ THÍCH :
  * Cốc : là Sơn Cốc, là Thung lủng núi. Nên Cốc Khẩu là Đường đi vào thung lủng núi.
  * Hoàng Điểu : chỉ Chim Hoàng oanh.
  * Tân Di Hoa : là Hoa của cây Mộc lan, còn gọi là Vọng Xuân Hoa 望春花, nở trước hoa Hạnh.
  * Lân : ở đây không có nghĩa là Tội nghiệp, mà là Thương, là Thích.
  * Thanh Âm : là Hình dung từ, chỉ Cây cối xanh tươi mát mẻ.

 

DIỄN NÔM :
         Cửa núi xuân tàn oanh biếng ca,
         Tân Di hoa rụng hạnh la đà.
         Thương thay song cửa rừng tre trúc,
         Mát mẻ như xưa đợi đón ta.
Lục Bát :
         Xuân tàn núi vắng oanh ca,
         Mộc lan rụng hết hạnh hoa bay đầy.
         Trước song rừng trúc phủ dày,
         Thanh u mát mẻ đợi ngày đón ta !

                                            Đỗ Chiêu Đức

          Cũng là chim hoàng oanh, nhưng khi xuân tàn chim hoàng oanh của Tùng Thiện Vương bay về tổ chỉ còn lại nét thu tiều tụy dưới bóng trăng soi, lại không biết gió xuân tối đêm qua thổi về đâu, nên sáng nay lại rước thêm nổi sầu bâng quơ lên mi mắt ! Còn Tiền Khởi đời Đường thì khi xuân tàn đã vắng tiếng chim hoàng oanh thì ông quay về bên song cửa sổ giữa rừng tre trúc mát mẻ luôn luôn sẵn sàng chào đón ông về khi ngoài trời hoa Mộc Lan đã tàn và hoa hạnh đang la đà bay theo gió !
          Mỗi người mỗi vẻ đều nên thơ và có nét thi vị riêng của mình.

DCD_Sen.jpg               

 2. 

     淥水                 LỤC THỦY

淥水青山常在,     Lục thủy thanh sơn thường tại,
孤雲野鶴同飛。     Cô vân dã hạc đồng phi.
短艇柳邊客釣,     Đoản đĩnh liễu biên khách điếu,
小橋月下僧歸。     Tiểu kiều nguyệt hạ tăng quy.

                                                     Tùng Thiện Vương


CHÚ THÍCH :


 * Lục Thủy : là Dòng nước trong. Chữ LỤC 淥 có 3 chấm thủy 氵, có nghĩa là Trong trẻo. Chữ LỤC 綠 có bộ Mịch 糸 là sợi tơ mới có nghĩa là Màu Xanh. 
 * Đoản Đĩnh : là chiếc xuồng con.


DIỄN NÔM :

                 Nước biếc núi xanh còn đó,
                 Mây đơn hạc lẻ cùng bay.
                 Xuồng con thả câu bờ liễu,
                 Sư về cầu nhỏ trăng lay !
Lục Bát :
             Núi xanh nước biếc còn đây,
             Hạc đơn mây lẻ cùng bay ven trời.
             Xuồng con bờ liễu câu hời,
             Dưới trăng cầu nhỏ sư hồi thiền môn.

                                                      Đỗ Chiêu Đức


           

          Thi Tiên Lý Bạch đời Đường cũng có một bài LỤC THỦY KHÚC, nhưng mượt mà ướt át hơn của Tùng Thiện Vương nhiều. Mời xem bên dưới :   

      

*  Sau đây là bài LỤC THỦY KHÚC của Lý Bạch đời Đường : 


              淥水曲                Lục Thủy Khúc


           淥水明秋月,     Lục Thủy minh thu nguyệt
           南湖採白蘋。     Nam hồ thái bạch tần.
           荷花嬌欲語,     Hà hoa kiều dục ngữ,
           愁殺盪舟人。     Sầu sát đãng chu nhân.
                        李白                          Lý Bạch


CHÚ THÍCH :
 * Lục Thủy Khúc :Là Tên của một khúc hát xưa, có nghĩa là Khúc hát về Dòng Nước Trong.
 * Nam Hồ : là Phía nam của Động Đình Hồ.
 * Bạch Tần : Một loại rau nổi trên mặt nước có hoa màu trắng như rau muống, rau ngổ vậy.
 * Hà Hoa : là Hoa Sen, tức là Liên Hoa 蓮花 đó.
 * Sầu Sát : chữ SÁT 殺 đứng sau Động từ là Trạng từ chỉ Mức độ, có nghĩa như Rất, Rất là. Nên Sầu Sát có nghĩa là Rất buồn, là Buồn muốn chết !

 * Đãng Chu Nhân : là Người chèo thuyền, người bơi xuồng.

NGHĨA BÀI THƠ :
          Dòng nước trong trẻo làm cho trăng thu như sáng hơn lên, ta thả thuyền ở phía nam Hồ Động Đình để hái rau bạch tần. Nhìn thấy bông sen nở trên hồ thật đẹp thật sống động như muốn nói chuyện cùng ta, làm cho ta cảm thấy buồn muốn chết đi được vì ta không thể nào đối thoại được với hoa.

DIỄN NÔM :

                     LỤC THỦY KHÚC


                Nước trong sáng trăng thu,
                Bạch tần hồ nam hái,
                Sen đẹp như muốn nói,
                Sầu chết người đãng chu !
Lục bát :
               Nước trong làm sáng trăng thu,
               Rau tần tìm hái bên hồ phía nam.
               Lá xanh bông trắng nhị vàng,
              Tựa như muốn nói sầu sang người chèo !

                                                          Đỗ Chiêu Đức

 

           Nhưng bài thơ của Tùng Thiện Vương là bài thơ 6 chữ, lại làm cho ta nhớ đến bài "Quy Sơn Tác 歸山作" của Cố Huống 顧況 đời Đường :


               心事數莖白髮,    Tâm sự sổ kinh bạch phát,
               生涯一片青山。    Sanh nhai nhất phiến thanh sơn 
               空林有雪相待,    Không lâm hữu tuyết tương đãi,
               古道無人獨還。    Cổ đạo vô nhân độc hoàn.


CHÚ THÍCH :
  * Quy Sơn : là Về núi, ý nói đi ở ẩn.
  * Kinh : là Sợi. Sổ Kinh : là Mấy sợi.
  * Sanh Nhai : là Mưu sinh để sinh sống.  

 

DIỄN NÔM :
                  Tâm sự, lơ thơ tóc bạc,
                  Sinh nhai, một dãy núi xanh.
                  Bầu bạn, núi không tuyết trắng,
                  Đường về, một bóng vắng tanh.


         Âm điệu của thơ 6 chữ vừa dứt khoát vừa khẳng định một cách mạnh mẽ, chính xác, cứng rắn nhưng cũng không kém phần thi vị. 

 3.

   金井怨          KIM TỈNH OÁN


美人照金井,   Mỹ nhân chiếu kim tỉnh,
井底華顏冷。   Tỉnh để hoa nhan lãnh..
空房夜不歸,   Không phòng dạ bất quy,
月轉梧桐影。   Nguyệt chuyển ngô đồng ảnh.

                                               Tùng Thiện Vương


CHÚ THÍCH :
 * Kim Tỉnh : Giếng vàng, là giếng của các nhà quyền qúy, trên mặt miệng giếng có dát vàng. Trong Kiều khi chuyển mùa Nguyễn Du cũng đã viết :
                     Thú quê thuần hức bén mùi,
                 Giếng vàng đã rụng một vài lá ngô.

 * Hoa Nhan : là dung nhan của tuổi hoa niên, chỉ nét mặt son trẻ.


DIỄN NÔM :
                    Người đẹp soi giếng vàng,
                    Dưới giếng dung nhan lạnh.
                    Phòng không cũng chẳng màng,
                    Trăng soi ngô đồng ảnh.
 Lục Bát :
                Săm soi người đẹp giếng vàng,
                Lạnh lùng nhan cắc ngỡ ngàng tái tê.
                Phòng không đêm chẳng buồn về,
                Ánh trăng lay động đã xê ngô đồng !
 

                                                          Đỗ Chiêu Đức    

 

   * Sau đây là bài KIM TỈNH OÁN 金井怨 của Tào Nghiệp 曹鄴 đời Đường :


               西風吹急景,    Tây phong xuy cấp cảnh,
               美人照金井。    Mỹ nhân chiếu kim tỉnh.
               不見面上花,    Bất kiến diện thượng hoa,
               卻恨井中影。    Khước hận tỉnh trung ảnh !


DIỄN NÔM :
                  Gió tây thổi bàng hoàng,
                  Người đẹp soi giếng vàng.
                  Chẳng thấy hoa trên mặt,
                  Chỉ hận ảnh ngỡ ngàng !

Lục Bát :
                  Gió tây vi vút lạnh tràn,
                  Bâng khuâng người đẹp giếng vàng săm soi.
                  Nét hoa đâu chẳng thấy cười,
                  Âu sầu lại hận ảnh người giếng kia !

                                                      Đỗ Chiêu Đức

 

           

DCD_Girl.jpg

Một người đẹp soi bóng xuống giếng nước xong, thấy dung nhan mình lạnh lẽo buồn bã nên không muốn về phòng, thơ thẩn để nhìn bóng ngô đồng đang lay chuyển như tâm sự của mình đang lay chuyển vậy; còn một người đẹp soi xuống giếng xong lại hận cho dung nhan của mình đã tàn phai đã già nua theo năm tháng trong lúc gió tây đang giục vù thổi mạnh.
          Mỗi bài đều nêu lên một trạng thái tâm lý độc đáo và rất nhân bản thực tế của phái đẹp.

 

                 Âu sầu lại hận ảnh người giếng kia          

 4.

       南溪  V                    NAM KHÊ


亂山深處一溪橫,     Loạn sơn thâm xứ nhất khê hoành, 
十二年前駐馬情。     Thập nhị niên tiền trú mã tình 
流水自知人事異,     Lưu thủy tự tri nhân sự dị, 
潺湲不作昔來聲。     Sàn viên bất tác tích lai thinh

                                                    Tùng Thiện Vương


CHÚ THÍCH :


 * Khê : Ta nói là Khe, là dòng nước từ trong núi chảy ra, là con sông nhỏ được hình thành bởi các dòng suối, mà ta quen gọi là SƠN KHÊ 山溪.
 * TRÚ : là Trú đóng, là dừng lại để nghỉ ngơi, ăn uống, cắm trại... khác với Đình Mã 停馬 là chỉ dừng chân một chút rồi đi.  

 * Sàn Viên : từ Tượng Thanh, chỉ tiếng Róc ra róc rách của nước chảy.

 

 DIỄN NÔM :
                          Khe Suối Nam


                 Ngổn ngang ngàn núi dòng khe cũ,
                 Dừng ngựa mười năm tình ấp ủ.
                 Nước chảy như tình người đổi thay,
                 Róc ra róc rách không như cũ !
Lục Bát :
               Vắt ngang trong suối dòng khe,
               Mười hai năm trước ấp e hàm tình.
               Nước trôi nhân sự điêu linh,
               Chẳng còn róc rách hàm tình như xưa !

                                                     Đỗ Chiêu Đức

 

* Sau đây là bài Di Gia Biệt Hồ Thượng Đình 移家别湖上亭 của Nhung Dục 戎昱 đời Đường :


          好是春風湖上亭,     Hảo thị xuân phong hồ thượng đình,
          柳條藤蔓系離情。     Liễu điều đằng mạn hệ ly tình.
          黃鶯久住渾相識,     Hoang oanh trú cửu hồn tương thức,
          欲別頻啼四五聲。     Dục biệt tần đề tứ ngũ thinh.
 
CHÚ THÍCH :
     DI GIA : là Dời nhà, dọn nhà, đổi chỗ ở.
     BIỆT HỒ THƯỢNG ĐÌNH : Chia tay với cái đình ở trên hồ.
     ĐẰNG MẠN : là dây leo, dây chùm gởi.
     HỆ : là Trói, buộc, ràng buộc.
     HỒN 浑 : HỒN có 3 chấm Thủy, nghĩa gốc là NƯỚC ĐỤC. Nghĩa bóng là ĐẦN ĐỘN. Ở đây HỒN là TRẠNG TỪ nên có nghĩa là : Rất, cả thảy. 
     HỒN TƯƠNG THỨC : Rất là quen biết nhau.
     TẦN 频 : là Thường, là Liên Tục.
     TẦN ĐỀ : Hót liên tục.
 

DCD_ho.jpg


DIỄN NÔM :
              Gió xuân hây hẩy trước hồ đình,
              Cành liễu dây leo buộc lấy tình.
              Oanh vàng quen biết nên ly biệt,
              Hót liền mấy tiếng đoạn làm thinh !
   Lục bát :          
              Gió Xuân mát mẻ hồ đình,
              Dây leo nhành liễu buộc tình biệt ly !
              Oanh vàng quen biết từ khi...
              Chia tay hót tặng người đi mấy hồi !

                                                       Đỗ Chiêu Đức

 

             Cả hai bài thơ, cuối câu 2 và cuối câu 4 đều cùng gieo vần TÌNH 情 và THINH 聲 giống nhau, cùng sử dụng thủ pháp Nhân Cách Hoá sự vật giống nhau, cùng tả tình như nhau, nhưng mỗi bài lại nêu lên một tình huống trái ngược lẫn nhau; Tùng Thiện Vương cho là nước biết được nhân sự thay đổi cho nên cũng thay đổi tiếng róc rách khi chảy, còn Nhung Dục thì bảo là con chim oanh vì ở lâu nên như là rất thân thiết, cho nên khi sắp chia tay lại hót liên hồi như để tiễn biệt.

                      

5.
   聞蟬             Văn thiền


送君曾此地,    Tống quân tằng thử địa, 
一別忽經年。   Nhất biệt hốt kinh niên. 
愁殺長亭柳,   Sầu sát trường đình liễu, 
秋風起暮蟬。   Thu phong khởi mộ thiền.

                                    Tùng Thiện Vương - Miên Thẩm


CHÚ THÍCH :
 * Văn Thiền : Nghe tiếng Ve kêu.
 * Tằng : Từng, đã từng.
 * Sầu Sát : là Buồn thúi ruột, buồn muốn chết.
 * Mộ Thiền : Tiếng ve kêu trong buổi chiều tà.


 DIỄN NÔM :
                     Nghe Tiếng Ve Kêu


                   Nơi nầy từng đưa bạn,
                   Bỗng chốc đã tròn năm.
                   Buồn sao bờ dương liễu,
                   Ve sầu gió thu căm !
Lục Bát :
                   Tiễn người đi ở nơi đây,
            Biệt ly thoáng chốc đã đầy một năm.
                   Gió thu nổi lạnh căm căm,
            Trường đình vẳng tiếng ve ngâm chiều tà !

                                                            Đỗ Chiêu Đức

 

               Bài " Văn Thiền " của Tùng Thiện Vương lại là cho ta nhớ đến bài " Ỷ Hồ " của Thi Phật Vương Duy...

 

  * Sau đây là bài "Ỷ Hồ 欹湖" của Thi Phật Vương Duy 王維 đời Đường :


              吹簫凌極浦,    Xuy tiêu lăng cực phố,
              日暮送夫君。    Nhựt mộ tống phu quân. 
              湖上一回首,    Hồ thượng nhất hồi thủ,
              山青卷白雲。    Thanh sơn quyển bạch vân.


CHÚ THÍCH :
 * Lăng : là Lướt, là Vượt lên trên.
 * Cực Phố : Ở cuối bờ, cuối bãi.


DIỄN NÔM :
                     Thổi tiêu cuối tận bờ,
                     Tiễn chàng chiều ngẩn ngơ.
                     Bên hồ quay nhìn lại,
                     Núi xanh mây trắng mờ !
Lục Bát :
                Thổi tiêu vẳng tận bến bờ,

                Trời chiều lòng thiếp ngẩn ngơ tiễn chồng.
                Quay đầu lòng những bâng khuâng,
                Núi xanh quyện lấy bạch vân ngỡ ngàng !

                                                           Đỗ Chiêu Đức 

                     

 

DCD_Ho_2.jpg

 " Ôi, cảnh biệt ly sao mà buồn vậy !" Cả 2 bài thơ đều tả cảnh ly biệt của người vợ tiễn chồng. Một nàng đến nơi tiễn chồng hồi năm trước để chỉ còn thấy những cành liễu buồn nơi trường đình năm cũ và tiếng ve cuối mùa đang rít tàn hơi trong gió thu hiu hắt; còn một nàng thì thổi tiêu ra tận bờ hồ để tiễn chàng đi, nhưng khi người đà khuất bóng vẫn còn lưu luyến nhìn theo để chỉ còn thấy " Núi xanh quyện lấy bạch vân ngỡ ngàng " mà thôi !

        

6.
         夜泊月瓢                   Dạ bạc Nguyệt Biều

     竹陰涼處夜停船,   Trúc âm lương xứ dạ đình thuyền, 
     水月江風未忍眠。   Thuỷ nguyệt, giang phong, vị nhẫn miên, 
     隔岸鐘樓天姥寺,   Cách ngạn chung lâu Thiên Mụ tự, 
     聲聲捎破遠汀煙。   Thanh thanh sao phá viễn đinh yên.
                                                      Tùng Thiện Vương 
CHÚ THÍCH :
 * Nguyệt Biều : là một làng cổ thuộc phường Thuỷ Biều, nằm ở cửa ngõ phía Tây Nam của thành phố Huế, cách trung tâm thành phố Huế 7km. Phường Thuỷ Biều có ba mặt giáp sông Hương. Làng Nguyệt Biều xưa nổi tiếng về thi ca khoa bảng.

NGHĨA BÀI THƠ :

                              Đêm Đậu Thuyền ở Bến NGUYỆT BIỀU

          Dưới bóng tre yên lặng, ở nơi mát mẻ, chiếc thuyền đậu lúc ban đêm, Trăng dưới nước, gió trên sông, chưa đành ngủ, Bờ bên kia, có lầu chuông Thiên Mụ, Dội vang từng tiếng, phá tan làn khói ngoài xa, trên mặt sông.

DIỄN NÔM :
                    Dưới bóng mát tre đêm đu thuyn,
                     Gió trăng sông n
ước ng nào yên.
                     Cách b
Thiên M lu chuông vng,
                     Văng v
ng xua tan khói sóng thuyn !
L
c Bát :
                    D
ưới bóng tre, đêm đu thuyn,  
                    Trăng soi sông n
ước ng yên được nào.
                    Cách b
Thiên M chuông cao,
                    Ngân nga khói sóng tan vào h
ư không.
                                                                       Đỗ Chiêu Đức

                   DCD_ThienMu.jpg

                                      Cách b Thiên M chuông cao,         

* Bài thơ nầy của Tùng Thiện Vương lại làm ta nhớ đến bài "Phong Kiều Dạ Bạc" 楓橋夜泊 của Trương Kế 張繼 đời Đường :

DCD_nguyetlac.jpg

 


                 月落烏啼霜滿天,   Nguyệt lạc Ô đề sương mãn thiên
                 江楓漁火對愁眠。   Giang phong ngư hỏa đối sầu miên.
                 姑蘇城外寒山寺,   Cô Tô thành ngoại Hàn San Tự,
                 夜半鐘聲到客船。   Dạ bán chung thinh đáo khách thuyền.

 

DIỄN NÔM :
                     Trăng tà lạnh, tiếng quạ kêu sương xuống
                     Giấc sầu miên, sông vắng, đối lửa chài
                     Chùa Hàn San ngoại thành Cô Tô ấy
                     Nửa đêm buồn, chuông vẳng đến thuyền ai !

                                                                     Đỗ Chiêu Đức
Lục Bát :                      
                           Trăng tà, tiếng quạ kêu sương,
                     Lửa chài, cây bến, sầu vương giấc hồ.
                           Thuyền ai đậu bến Cô Tô,
                     Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San.

                                                                            Tản Đà

            Một người vì thuyền đậu dưới bóng tre, có trăng thanh gió mát mà không đành lòng ngủ đi trước cảnh trí hữu tình. Thức để ngắm nhìn và để đắm mình vào cảnh đẹp khi thêm vào đó là tiếng chuông của chùa Thiên Mụ bên kia sông ngân nga vang động làm lung linh và tan biến những làn khói sóng trên sông Hương thơ mộng... Còn một người vì ưu thời mẫn thế, nằm nhìn cây bến lửa chài mà sầu không chợp mắt để rồi lại chìm đắm vào tiếng chuông văng vẳng vọng từ chùa Hàn San ở ngoại thành Cô Tô mà viết nên một bài thơ tuyệt tác...
           Cả 2 bài thơ đều đề cập đến tiếng chuông một cách mầu nhiệm nên thơ, đã điểm xuyết chấm phá cho một bức tranh đêm  êm ả tuyệt đẹp trên bến sông với những làn khói sóng tan biến theo tiếng chuông chùa Thiên Mụ. Còn tiếng chuông kia vẳng đến lúc nửa đêm như vuốt ve như khuyên lơn an ủi giữa cảnh lửa chài hiu hắt, lúc trăng lặn qụa kêu sương xuống đầy trời dưới hàng phong lặng lẽ, xoa dịu thêm lòng người lữ thứ trong một đêm dài không sao chợp mắt....

 Lời Kết :

          Qua các so sánh nêu trên, ta thấy thi tài của Tùng Thiện Vương Miên Thẩm qủa không thua sút với các thi nhân nổi tiếng như Lý Bạch, Vương Duy, Trương Kế...dưới đời nhà Đường, chả trách vua Tự Đức đã dám cả quyết mà phê rằng :


                   "Văn như Siêu, Quát vô tiền Hán           文如超适無前漢,
                   Thi đáo Tùng, Tuy thất thịnh Đường"     詩到從绥失盛唐。

 

          Xin được nghiêng mình trước các bậc tiền nhân lỗi lạc trong đất nước có bốn ngàn năm văn hiến. Thiết nghĩ, nếu biết phát huy hết cái sức mạnh tiềm ẩn của dân tộc thì Việt Nam sẽ không thua một đất nước nào trên thế giới nầy cả !


                                                                                        Đỗ Chiêu Đức

                                                                                         Xuân 2018

__________________________________________________________________________________________________________________________________________________ 

       

MỘC là CÂY


       Theo âm dương ngũ hành thì Đông phương Giáp Ất Mộc. Nên hành Mộc thuộc hướng đông. Mộc 木 là tên gọi chung của tất cả cây cỏ lá hoa, nên ta lại có từ Thảo Mộc 草木 để chỉ chung cho các loài thực vật. Cỏ cây hoa lá sinh sôi nẩy nở được là nhờ ánh nắng của ba tháng mùa xuân, nên ông bà ta lại có câu :


                  Hướng dương hoa mộc tảo phùng xuân       向陽花木早逢春
Có nghĩa :
             Hoa cỏ nào hướng về ánh nắng mặt trời thì sẽ đón nhận mùa xuân sớm ngay từ ánh nắng ban đầu của mùa xuân !


     Mộc là Cây cỏ thực vật có hình dáng hẵn hoi, nên chữ Mộc cũng thuộc dạng chữ Tượng Hình theo diễn tiến của chữ viết như sau :

 

  Giáp Cốt Văn        Kim Văn           Đại Triện             Tiểu Triện          Lệ Thư

 

             dcd_mar24_5words.jpg 

Ta thấy :

    Từ Giáp Cốt Văn cho đến Kim Văn và Đại Triện đều là hình vẽ của một cây con có hai lá mầm đưa lên trên và hai nhánh rể ăn xuống dưới; cho đến Tiểu Triện thì các nét vẽ được nối lại cho liền lạc và khi đến chữ Lệ thì các nét đã được kéo thẳng ra thành các biểu tượng của chữ viết như ngày hôm nay : MỘC 木 là Cây Cối.


     MỘC 木 còn là Kiều Mộc 喬木 là loại cây có thân cao to thẳng đứng. Chương Chu Nam trong Kinh Thi có bài :
                        南有乔木,     Nam hữu kiều mộc,
                        不可休思.       Bất khả hưu tư.
Có nghĩa :
              Phía nam có cây kiều mộc, mà...
              Ta không thể nghỉ ngơi dưới cây nầy được !

 

      Kiều Mộc là cây cao bóng cả, tại sao lại không thể hóng mát dưới cây được ? À thì ra còn hai câu sau nữa :
                       漢有游女,     Hán hữu du nữ,
                       不可求思。     Bất khả cầu tư.
Có nghĩa :
           Bên dòng sông Hán có cô gái đang bơi lội trên đó, mà ta không thể cầu xin nhớ nhung được ( Ý nói : Không thể tỏ tình để yêu nàng được ).


     Xin được diễn Nôm bài Kinh Thi đó theo Ca dao của ta như sau :


                        Phía nam cao ngất có cây,
                 Ta không thể hóng mát ngay dưới tàn.
                        Bên sông Hán thủy có nàng,
                 Thầm thương trộm nhớ ai màng đến ta !

                          dcd_mar24_girl.jpg dcd_mar24_text2.jpg 

Người mà chàng yêu dấu, có thể gặp mà không thể cầu. Đối tượng mà chàng trai theo đuổi chẳng ở đâu xa, chỉ ở bên kia sông thôi, có thể nhìn thấy nàng nhưng không thể tiếp cận với nàng được, chỉ mãi mãi tương tư tưởng nhớ về nàng và biết sẽ mãi mãi không bao giờ có được nàng. Vì sao ? thì người đọc tự suy diễn và tự hiểu lấy !


       Ngoài Kiều Mộc 喬木 ra, ta còn có từ Cù Mộc 樛木, cũng là một loại cây to nhưng thân uốn lượn bên dưới thẳng bên trên, cành lá xum xuê như cây sồi, cây da... Chương Chu Nam Quốc Phong trong Kinh Thi cũng có bài :


                     南有樛木,    Nam hữu cù mộc, 
                     葛藟累之。    Cát lũy luy chi.
                     乐只君子,    Lạc chỉ quân tử,
                     福履绥之。    Phúc lý tuy chi.

 

Có nghĩa :
                     Phương nam cù mộc một cây,
                Kóc kèn bìm bịp mọc đầy leo quanh.
                     Vui thay quân tử chí thành,
                Trên hòa dưới thuận yên lành tề gia.


      Cù Mộc cũng là cây cao bóng cả, chỉ người chồng và vợ lớn, còn Cát Lũy 葛藟 là Dây sắn, dây bìm bịp, kóc kèn leo quanh cây Cù Mộc, được ví như vợ bé vợ mọn. Cô Kiều đã mượn ý nầy để ví với thân phận lẻ mọn của mình khi về với Thúc Sinh là :


                          Sắn Bìm chút phận con con,
                Khuôn duyên biết có vuông tròn cho chăng?

và...
       Khi khuyên Thúc Sinh về thăm Hoạn Thư là vợ cả, cô Kiều cũng đã biết thân biết phận của mình mà nói với Thúc đừng có :


                    Mặn tình Cát Lũy, nhạt tình tào khang.

 

      Trong đoạn kết của Truyện Kiều, cụ Nguyễn Du lại mượn hình tượng của cây Cù Mộc để ví với cái gia đình vinh hiển của Kim Trọng là :


                       Thừa gia chẳng hết nàng Vân
                    Một cây Cù-Mộc, một sân quế hòe, 


  
   Một sân Quế Hòe chỉ Thúy Vân sanh nhiều con trai và đều thành đạt.


     Trong Cung Oán Ngâm Khúc, Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều cũng cho nàng cung nữ ngao ngán cho cái thân phận phải chờ đợi của mình là :

 

                        Ngán thay cái én ba nghìn,
                  Một cây Cù-Mộc biết chen cành nào ?   
 

                                     dcd_mar24_tree_man.jpg dcd_mar24_text.jpg 

 Mộc 木 là Cây, nhưng song mộc liền nhau thì không phải là Cây nữa mà là LÂM 林 là Rừng, theo như câu nói của các ông Đồ Nho ngày xưa :


                  Song mộc thành lâm        雙木成林 
   và...
                  Tam mộc thành sâm        三木成森 
Có nghĩa :
             Ba cây chồng lên nhau là Rừng Rậm.


   Nên...
                 Độc mộc bất thành lâm      獨木不成林
Có nghĩa :
               Một cây thì không thành rừng được.


như ông bà ta đã nói :
                       Một cây làm chẳng nên non,
                  Ba cây chụm lại nên... hòn núi cao.

 

      Nhưng trong chữ Nho thì có tới.. 5 cây lận, 5 chữ Mộc ghép lại thành một Từ. Đó là từ :
SÂM LÂM 森林 : có nghĩa là Rừng Rậm âm u che khuất cả ánh sáng mặt trời, như câu hát mở đầu bài " Chiều Trong Rừng Thẳm " của tác giả Anh Việt :


                Trong rừng xa vắng âm u nhuộm ánh sương mờ...

                Tiếng gió rít lên . . . ngàn cây xác xơ...


làm cho tôi nhớ lại hồi nhỏ hay nghe các cô chú lớn tuổi hơn sửa lời hát lại thành :


                Cô mười cô chín hai cô anh muốn cô nào?
                Lén lén dắt đi... đừng cho má nó hay !...

 

      Mộc 木 là Cây, Nhưng nếu ghép với bộ Nhân 亻 là Người ở bên trái thì đọc là HƯU 休 theo phép Hội Ý là Người đứng hay ngồi dựa vào cây, nên có nghĩa là Nghỉ Ngơi. Từ đó ta có các nghĩa phát sinh là Hưu Trí, về Hưu, nghỉ Hưu ...

                           dcd_Mar24_moc.jpg 

 Mộc 木 là Cây, Nhưng nếu thêm một nét ngang ngắn phía trên để chỉ phần ngọn, thì đọc là VỊ 未, có nghĩa là CHƯA, chỉ phần cây còn chưa lớn. Vị Ngộ 未遇 là Chưa gặp, ý chỉ Chưa gặp thời, như một câu trong bài Kẻ Sĩ của Nguyễn Công Trứ là :


                               Lúc Vị Ngộ hối tàng nơi bồng tất
có nghĩa là :
        Khi chưa gặp thời còn ở ẩn trong gian nhà cỏ. Và ta lại nhớ đến câu thơ của La Ẩn là :


                 Ngã Vị công thành khanh Vị giá         我未功成卿未嫁
là....
                 Ta Chưa đậu đạt nàng Chưa gả !


       Nhưng nếu nét ngang ngắn nằm ở phía dưới nét ngang dài, thì ta có chữ MẠT 末, có nghĩa là Cuối, là Tận Cùng. Như Mạt Lộ 末路 là Cuối đường, là cùng đường. Anh Hùng Mạt Lộ 英雄末路 là Anh hùng đã đến bước đường cùng. Từ đó ta có các từ như Lê Mạt là Cuối đời Lê; Mạt Vận là Vận cùng, là Hết Thời rồi....

Và...
       Nếu trên đầu chữ MỘC 木 có thêm một nét phẩy về phía bên trái như một bông lúa trổ nặng oằn đầu xuống 禾, thì đọc là HÒA, có nghĩa là Cây Lúa, như ông bà xưa đã dạy :


                   Học giả như HÒA như đạo,         學者如禾如稻,
                   Bất học giả như cảo như thảo.   不學者如稿如草,
có nghĩa :
     Người có học thì như Cây Lúa, hạt lúa, còn...
     Người không có học thì như cọng rơm cọng cỏ.


    Cây lúa hạt lúa nuôi sống con người thì giá trị cao hơn là cọng cỏ cọng rơm chỉ nuôi sống có trâu bò mà thôi !

                    dcd_Mar24_6words.jpg


                                VỊ là Chưa           MẠT là Cuối                  HÒA là Cây Lúa

 

       Ngoài ra, nếu phía dưới phần rể của  Mộc 木 là Cây có thêm một nét ngang ngắn nữa, thì đọc là BỔN 本, có nghĩa là Cái Gốc cây, cái Cội Cây, như ông cha ta đã dạy :


                       MỘC BỔN Thủy Nguyên        木本水源
là...
                       Cây có cội, nước có nguồn.


       Nên BỔN hiểu rộng ra là cái nguồn gốc, cái Vốn Liếng lúc ban đầu. BỔN là Tiền vốn, nên khi khai trương buôn bán hay khi Tết nhứt, giới thương buôn hay chúc nhau câu :


                      Nhứt BỔN vạn lợi               一本萬利
có nghĩa :
      Một đồng vốn, một muôn ( mười ngàn ) đồng lời ! Quả là tham lam quá độ, trong khi người Việt Nam ta chỉ chúc nhau có :


                      Một đồng Vốn Bốn đồng lời ...  mà thôi !

 

     BỔN 本 là Vốn, cả đến khi dùng làm Phó Từ Bổn Lai 本來 cũng có nghĩa Vốn Dĩ, Vốn Là, như trong thành ngữ Bổn Lai Diện Mục 本來面目 : là Mặt Mũi Vốn Có, là Mặt mũi gốc, là Bộ mặt thật. Hai câu chót trong bài kệ : Bồ Đề bổn vô thọ, Minh kính diệc phi đài 菩提本無樹,明鏡亦非臺 của Lục Tổ Huệ Năng là:


                   BỔN LAI vô nhất vật,       本來無一物,
                   Hà xứ nhạ trần ai ?          何處惹塵埃 ?
Có nghĩa :

               Vốn dĩ không có vật gì cả, thì chỗ nào để mà nhuốm bụi trần đây ?


       Mộc là cây, nhưng Mộc Nhĩ 木耳 không phải là Lổ Tai Cây, mà là Nấm Mèo, một loại nấm có hình dạng giống như là Lổ Tai của con mèo. Cũng như Mộc Ngư 木魚 không phải là Con cá bằng cây, mà là cái Mỏ của các nhà sư dùng để gỏ lốc cốc khi tụng kinh niệm Phật. Và Mộc Kê 木雞 không phải là Con gà gỗ, mà là Hình Dung Từ chỉ sự Ngẩn Ngơ như con gà bằng gỗ, đứng Đực ra một chỗ. MỘC NGẪU 木偶 : là Hình Cây, là con rối, có nghĩa như là Bù Nhìn, thường dùng để chỉ người không linh động, phải giựt dây mới nhúc nhích ! Còn đối với dân bợm nhậu thì ta có từ Mộc Tồn. Mộc Tồn 木存 không phải chỉ Cây Còn mà là chỉ... Con Cầy, một loại chó nhỏ như con chồn thịt rất ngon, nhậu rất bắt.

Mộc là Cây, nhưng cây cũng dùng để xẻ thành ván, nên Mộc cũng có nghĩa là Ván, như trong thành ngữ Mộc Dĩ Thành Chu 木已成舟. Ta nói là Ván Đã Đóng Thuyền, như trong lời nói của Vương Viên Ngoại an ủi Kim Trọng khi chàng trở lại Vườn Thúy tìm Kiều :


                          Bây giờ Ván Đã Đóng Thuyền,
                   Đã đành phận bạc khôn đền tình chung.


      Nhưng cũng có những chiếc thuyền không cần phải đóng, chỉ khoét bọng thân cây lớn là ta đã có ngay một chiếc Thuyền Độc Mộc. Còn Cầu Độc Mộc thì chỉ cần một thân cây bắt ngang qua mương rạch là ta đã có ngay một Độc Mộc Kiều 獨木橋, với câu tục ngữ : " Anh đi đường cái quan của anh, còn tôi qua cầu độc mộc của tôi ".Ý chỉ việc ai nấy làm, không nên chen vào việc làm của người khác . Người Hoa nói là : Nễ tẩu nễ đích dương quan đạo, ngã qúa ngã đích độc mộc kiều 你走你的陽關道,我過我的獨木橋 ! Và như câu thơ đầu tiên của Thế Lữ trong bài Giây Phút Chạnh Lòng :

 

                        Anh đi đường anh, tôi đường tôi,

                        Tình nghĩa đôi ta có thế thôi !...

 

     Mộc còn là tên gọi chung cho Hoa Thảo Thọ Mộc 花草樹木, ta nói là Cỏ Cây Hoa Lá, là những thực vật khô héo úa tàn trong mùa đông lạnh lẽo, chỉ hồi sinh và sống lại trong ánh nắng ấm áp của mùa xuân mà thôi. Nên ông bà ta cũng thường nhắc nhở con cháu bằng câu :


                 Khô mộc phùng xuân do tái phát,      枯木逢春猶再發,
                 Nhân vô lưỡng độ tái thiếu niên.        人無兩度再少年。
Có nghĩa :
          Cây khô khi gặp mùa xuân còn tái phát để xanh tươi trở lại, chớ...
          Con người thì không có hai lần được trẻ lại bao giờ. Cho nên phải cố gắng mà trân trọng lấy tuổi xuân của mình để phát huy hết những ưu thế của tuổi hoa niên như bài thơ Vãn Xuân 晚春 của Hàn Dũ 韓愈 sau đây :


             草木知春不久歸,     Thảo mộc tri xuân bất cửu quy,
             百般紅紫鬥芳菲。     Bách ban hồng phấn đấu phương phi.
             楊花榆莢無才思,     Dương hoa du giáp vô tài tứ,
             惟解漫天作雪飛。     Duy giải mạn thiên tác tuyết phi.


Có nghĩa :

                   Cây cỏ biết xuân sắp " bái bai "(bye-bye).
                   Muôn hồng ngàn tía trổ khoe hay.
                   Vô tài nở trắng hoa dương liễu,
                   Chỉ biết đầy trời giả tuyết bay !


        Vãn Xuân 晚春 là xuân sắp tàn, nàng xuân sắp từ biệt để ra đi, nên tất cả các loài hoa đều cố gắng nở bung ra để khoe hết cái đẹp của mình trong mùa xuân; chỉ có du giáp ( như hoa lau của ta ) và dương liễu không có hương sắc gì đặc biệt, chỉ biết nở hoa trắng xóa để giả làm tuyết bay mỗi khi có cơn gió xuân thổi đến mà thôi ! Mùa xuân mà giả làm tuyết bay thật không hợp thời chút nào cả, nhưng khả năng chỉ có thế, và chỉ biết làm hết sức của mình mà thôi. Hàn Dũ muốn khuyên ta hãy cố gắng thi thố hết khả năng của mình để đừng uổng phí tuổi xuân, mặc dù cái năng lực của mình không bằng được người, không đáp ứng được thực tế trước mắt, nhưng ít ra cũng tạo được một cảm giác đẹp như hoa dương liễu giả tuyết bay trắng cả trời xuân. Còn hơn không có gì cả !

                   dcd_Mar24_duonglieu_tuyet.jpg 

                             Vô tài nở trắng hoa dương liễu,

                             Chỉ biết đầy trời giả tuyết bay !

 

          Mộc là Thảo Mộc 草木, là cây cỏ, tuy vô tri vô giác, mềm mại hiền lành, nhưng nếu ta biết khéo lợi dụng thì Cây Cỏ sẽ có sức mạnh còn hơn là thiên binh vạn mã nữa ! Xin mời đọc về tích của thành ngữ Thảo Mộc Giai Binh 草木皆兵 sau đây sẽ rõ :


          Công Nguyên năm 383, Tiền Tần Vương Phù Kiên sau khi thống nhất một dãy ven sông Hoàng Hà, định tập trung đủ 90 vạn quân sẽ đem quân đánh ụp tiêu diệt nước Đông Tấn, bèn phái em là Phù Dung làm tiên phong chiếm lấy thành Thọ Dương. Phù Dung đánh lấy thành một cách dễ dàng, biết Đông Tấn binh yếu lại thiếu lương thực, mới đề nghị với Phù Kiên nhanh chóng  đánh chiếm  Đông Tấn. Phù kiên không đợi binh lực tập trung đầy đủ, lập tức đem quân tấn công Đông Tấn ngay.
       Tướng Đông Tấn là Tạ Thạch biết được binh lực của Tần chưa tập trung đầy đủ, bèn dùng kế khích tướng  thách Phù Kiên nếu muốn phân cao thấp thì hãy lui binh một dặm, mình sẽ đem binh qua sông Phì Thủy quyết một trận hơn thua, bằng nếu sợ thua thì hãy đầu hàng ngay đi. Phù Kiên cả giận, định giả vờ lui binh, đợi cho binh Tấn qua sông nửa chừng sẽ quay lại đón đánh một trận cho tan tác binh nhung. Nào ngờ, lòng binh Tần đã chán nản vì chinh chiến lâu ngày, nay thấy sứ giả quân địch vừa rời trại thì chủ tướng bèn ra lịnh lui binh, nên lòng càng hoảng sợ mạnh ai nấy chạy người ngựa ngổn ngang dẫm đạp lên nhau hổn loạn thành một khối. Phù Kiên ra lệnh dừng lại thì đã không còn kịp nữa. Bên kia sông Tạ Thạch thấy thế bèn thừa cơ hạ lịnh quân sĩ cấp tốc sang sông truy sát. Quân Tần thấy quân Tấn qua sông ráo riết càng hoảng sợ hơn dẫm đạp lên nhau mà chạy trốn, đến nỗi nghe cơn gió thổi qua cây cỏ lào xào cũng tưởng là quân Tấn đã đuổi đến nơi rồi.  Sự kiện nầy đưa đến câu thành ngữ THẢO MỘC GIAI BINH
草木皆兵, có nghĩa : C cây cũng đều là binh lính cả ! Điều nầy làm ta nhớ lại đầu tháng 4 năm 1975 với DI TẢN CHIẾN THUẬT của Miền Nam, dân quân của Vùng 1 và Vùng 2 Chiến Thuật chỉ biết cắm đầu cắm cổ chạy trối chết, làm hỗn loạn cả Miền Trung, Cộng Sản Bắc Việt bất chiến tự nhiên thành, chiếm trọn Miền Trung một cách dễ dàng và uy hiếp Sài Gòn trong chớp mắt... 
        Còn trận đánh trên quân Tần cũng đại bại. Phù Dung chết trong đám loạn quân, còn Phù Kiên trúng tên bị thương may mà chạy thoát được. Sử gọi trận đánh nầy là PHÌ THỦY CHI CHIẾN
淝水之戰. 
         Tạ Thạch cũng như Cộng Sản Bắc Việt đã biết lợi dụng cái nhược điểm của kẻ địch để làm cái thuận lợi cho sự chiến thắng của mình, cũng như biết lợi dụng thời cơ biến cỏ cây hoa lá của núi rừng Tây Nguyên có sức mạnh như là thiên binh vạn mã vậy ! Âu cũng là cái khí số của quân dân Miền Nam đã đến hồi mạt vận, nên mới dẫn đến cái chiến thuật sai lầm làm cho Miền Nam chết một cách tức tưởi, và ngay cả cấp chỉ huy của Bắc Việt cũng không ngờ được là chiến thắng đến một cách nhanh chóng như thế.

                                    dcd_mar24_word_grp.jpg 

 Sang qua sử VN, chữ Mộc 木 còn làm cho ta nghĩ đến chữ LÊ 梨 là Cây Lê là Trái Lê, là chữ đồng âm với chữ Lê là họ LÊ 黎 trong bài Sấm trên cây Gạo làng Diên Uẩn như sau :


         Tương truyền, năm 1009, sau 73 năm tồn tại, cây gạo làng Diên Uẩn bị sét đánh nhưng không chết. Theo ghi chép của sử sách ( Việt Sử lược, Đại Việt Sử Ký toàn thư, Việt Sử tiêu án, Khâm định Việt Sử Thông Giám cương mục ), tại chỗ sét đánh trên thân cây có bài thơ sấm mà có ý kiến cho rằng tác giả chính là sư Vạn Hạnh. Bài sấm như sau :               

                    樹根杳杳      Thụ căn diểu diểu

                    木表青青      Mộc biểu thanh thanh

                    禾刀木落      Hòa đao mộc lạc

                    十八子成      Thập bát tử thành

                    東阿入地      Đông a nhập địa

                    木異再生      Mộc dị tái sinh

                    震宮見日      Chấn cung kiến nhật

                    兑宮隠星      Đoài cung ẩn tinh

                    六七年間      Lục thất niên gian

                    天下太平      Thiên hạ thái bình

Có nghĩa :

        "Thụ căn diểu diểu", chữ căn nghĩa là gc, gc tc là vua, ch diu đồng âm vi yu là Non nt, nên hiu là yếu. "Mc biu thanh thanh", ch biu là b ngoài, nghĩa là ngn, ngn tức là bề tôi, chữ thanh là Màu xanh, âm gn ging vi ch thnh nghĩa là thnh; Hòa, đao, mc, ghép li là ch Lê ; Thp, bát, t là ch Lý ; Đông A là ch Trn ; nhp địa là phương Bc vào cướp: "Mc d tái sinh" là h Lê khác li sinh ra. "Chn cung kiến nhật", chấn là phương Đông, kiến là mọc ra; nhật là thiên tử. "Đoài cung ẩn tinh", "đoài" là phương tây, "ẩn" cũng như lặn, "tinh" là sao, nghĩa là thứ dân. Mấy câu này ý nói là vua thì non yếu, bề tôi thì cường thịnh, họ Lê mất, họ Lý nổi lên, thiên tử ở phương đông mọc ra thì thứ nhân ở phương tây lặn mất, trải qua 6, 7 năm thì thiên hạ thái bình.

 Cách CHIẾT TỰ chơi chữ của bài thơ :

      Câu 3: chữ Hòa (禾) + bộ Đao (刂 ) + chữ Mộc (木) bên dưới, ghép lại thành chữ Lê (梨) là Trái Lê, đồng âm với chữ (黎) là họ LÊ. Câu 3 tiên đoán : Lưỡi đao mỏng như lá lúa đốn ngã cây, có nghĩa nhà Tiền Lê ( Lê Đại Hành ) sẽ mất.

      Câu 4: chữ Thập (十) + chữ Bát (八) thành chữ Mộc 木, + chữ Tử (子) bên dưới thành chữ Lý (李). Câu 4 tiên đoán nhà Lý sẽ lên thay nhà Lê.

      Câu 5: chữ Đông (東) ghép với chữ A (阿) thành chữ Trần (陳). Câu 5 tiên đoán họ Trần vào nước Việt làm vua.

      Câu 6: cây khác lại sinh. Sấm ra đời thời Lê. Cây lê khác lại sinh, tiên đoán nhà Hậu Lê ( Lê Lợi ) kế tục nhà Trần.

      Câu 7: phương Đông có mặt trời, ứng vào nhà Mạc khởi xuất từ phía Đông (Hải Dương) thay nhà Hậu Lê.

      Câu 8: sao ẩn mình phía tây. Có các ý kiến khác nhau về câu này. Có ý kiến cho rằng câu này chỉ chúa Trịnh đóng phủ ở phía Tây kinh thành Thăng Long, " ẩn mình " là không ra mặt xưng vua nhưng lại nắm thực quyền hơn vua. Có ý kiến cho rằng " phía Tây " trong câu 8 là ám chỉ nhà Tây Sơn.

     Câu 9 và câu 10: Có ý kiến cho rằng " lục thất " chỉ nhà Nguyễn, triều đại cuối cùng của Việt Nam. Nhưng cũng có ý kiến cho rằng chưa có lời giải đáp cụ thể cho 2 câu này.

         Tổng quát, bài thơ được giải mã mang nội dung tiên đoán việc nhà Lý nối nghiệp nhà Tiền Lê, cũng như tên các triều đại kế tục tiếp theo trong lịch sử Việt Nam suốt từ thế kỷ 11 đến thế kỷ 20, từ khi nhà nước Phong kiến trung ương tập quyền ở Việt Nam hình thành ổn định tới khi kết thúc thời phong kiến.

         Điều đáng lưu ý là Việt sử lược ra đời thời Trần nhưng không chép 2 câu: "Đông a nhập địa, Mộc dị tái sinh" liên quan tới chính nhà Trần và nhà Hậu Lê. Các nhà nghiên cứu căn cứ vào đây mà cho rằng :
         Bài sấm này được Vạn Hạnh Thiền Sư làm ra để tạo dư luận cho Lý Công Uẩn lên ngôi một cách thuận lợi theo ý trời.

         Hai câu này do người đời sau (Trần, Hậu Lê) sáng tác xen thêm vào cho đủ các đời vua từ Ngô, Đinh, rồi đến LÊ ( tiền ), LÝ, TRẦN, LÊ ( hậu ), còn Tây Sơn và Nguyễn thì hãy còn mơ hồ.

          dcd_mar24_TSVanHanh.jpg         

 

         Mộc 木 là một trong Ngũ hành 五行 : Kim, MỘC, Thủy, Hỏa, Thổ, theo Kinh Dịch là 5 tố chất tạo nên tất cả mọi sự vật trong vũ trụ nầy. Như Mộc Vương 木王 là Vua Cây, ý chỉ trong mùa Xuân thì lấy cây cỏ làm chủ tể tượng trưng cho sức sống đang hồi sinh một cách mãnh liệt. Mộc Hành 木行, ta nói là Hành Mộc, chỉ Mộc Đức là cái đức của mùa xuân, của trời đất cho cây cối đâm chồi nẩy lộc. Mộc Khí 木气 là cái hơi hám, mùi hương của cỏ cây hoa lá, là cái Can Khí 肝气 điều hòa trong lá gan của con người. Mộc Tinh 木星 là Sao Mộc, theo chiêm tinh học thì đây là vì sao may mắn cho ai có lưu tinh là Mộc Tinh trong năm. Bài vị cúng sao trong ngày vía Ngọc Hoàng của mồng 9 Tết hằng năm ghi : Đông phương Giáp Ất Mộc Đức Tinh quân chi vị 東方甲乙木德星君之位. Khác với... 

        Mộc Tinh trong Thái Dương Hệ hiện nay là Jupiter, đứng ngôi thứ 5 và là một hành tinh lớn nhất trong Thái Dương Hệ, lớn hơn cả Địa Cầu có màu xanh của cây cỏ.

                  DCD_MAR24_MOCtINHtHAIdUONGhE.jpg 

               Mộc Tinh 木星 trong Thái Dương Hệ là Jupiter

 

         Ngoài nghĩa là cây, Mộc 木 còn có nghĩa là LÁ, như trong thành ngữ Mộc Lạc Quy Bổn 木落歸本. Có nghĩa như là Diệp Lạc Quy Căn 葉落歸根, ta nói là Lá Rụng Về Cội. Hay như 2 câu trong bài thơ Đăng Cao của Đỗ Phủ là :


                 無邊落木蕭蕭下,       Vô biên lạc mộc tiêu tiêu hạ,
                不盡長江滾滾來。      Bất tận Trường Giang cổn cổn lai.
Có nghĩa :
                      Rạt rào lá đổ bên trời thẳm,
                     Cuồn cuộn Trường Giang nước chảy dài !

 

     Hay như 2 câu đầu trong bài Tảo Hàn Giang Thượng Hữu Hoài của Mạnh Hạo Nhiên :

 

                  木落雁南渡,      Mộc lạc nhạn nam độ,

                  北風江上寒.      Bắc phong giang thượng hàn.

Có nghĩa :

                  Lá rụng nhạn xuôi nam,

                  Trên sông gió bấc tràn.

 Mộc là Cây, mà cây hiện diện trong tất cả các mặt của đời sống, từ cây ngô, cây khoai, cây lúa cho gạo thóc để nuôi sống con người , cho đến nhà cửa vật dụng chung quanh đời sống nhất nhất đều bằng... Mộc, như muổng, đủa, bàn, ghế, tủ, giường, phòng ôc ... kể cả cỏ cây hoa lá để điểm tô làm đẹp thêm cho đời sống con người đngều có gốc... Mộc cả ! Ngạn ngữ Trung Hoa xưa có câu :


                 Nhất niên thọ đạo,       一年樹稻,
                 Thập niên thọ mộc,      十年樹木,
                 Bách niên thọ nhơn.     百年樹人!
Có nghĩa :
              - Vì lợi ích trong một năm thì trồng lúa,
              - Vì lợi ích của mười năm thì trồng cây,
              - Vì lợi ích của trăm năm thì phải đào tạo con người !

                                  DCD_MAR24_lastpic.jpg 

                 Đời sống của con người không thể rời xa chữ Mộc được, kể cả khi chết đi rồi vẫn còn phải nằm trong Quan Mộc 棺木, mà ta quen gọi là Quan Tài 棺材, là cái hòm đựng thây người chết ! Nhớ khi xưa, các danh hài Tùng Lâm và Phi Thoàng đã từng đố nhau : Trên Mộc dưới Thổ là ...  Cái Quan tài chưa chôn, trên Thổ dưới Mộc là ... Cái quan tài đã chôn rồi và câu đố hóc búa là : Trên Thổ giữa Mộc dưới Thổ là... " Thằng Thổ mang guốc " !

 

        Người xưa để lại 4 chữ " Cái Quan Luận Định 蓋棺論定 " ý nói : Khi nắp quan tài đã đóng lại rồi thì mới biết chắc chắn con người đó là như thế nào, mới luận định một cách chính xác thị, phi, thành, bại, hơn thua, anh hùng hay tiểu nhân, có công hay có tội... Nắp quan tài chưa đóng thì còn chưa biết ai như thế nào và ai đã hơn ai !?

 

       Xin được khép lại bài phiếm " Mộc là Cây " ở đây khi... nắp quan tài còn chưa khép lại và mùa xuân chỉ mới bắt đầu mang sức sống mới đến với tất cả hoa lá cỏ cây !

 

Đỗ Chiêu Đức____________________________

Phiếm về...

               TUẤT CHÓ CẨU KHUYỂN 

                      dcd_2018dog.jpg
     

 

       Tuất là ngôi thứ mười một của Địa Chi, cầm tinh con Chó, mà chó thì chữ Nho gọi là Cẩu, mà chữ cẩu lại nằm trong bộ Khuyển, và năm khuyển lại là năm Tuất. Cứ thế, vòng vòng trở lại cắn đuôi con ... khuyển. Năm Tuất nói chuyên con CHÓ, con CẨU, con KHUYỂN là nói chuyện bao đồng về con vật bốn chân nầy để nghe chơi đỡ buồn khi trà dư tửu hậu.

        KHUYỂN là một trong 214 bộ của CHỮ NHO ... DỄ HỌC theo diễn tiến của chữ viết như sau :

    Giáp Cốt Văn  Kim Văn     Đại Triện     Tiểu Triện    Lệ Thư    

       

dcd_cauwords.jpg

 Ta thấy :

       Giáp Cốt Văn là hình tượng của con chó được nhìn từ góc độ sau ra trước, đuôi chó cong lên đang cất cao đầu vểnh hai tai như đang sủa trăng, đến Kim Văn ( Chung Đỉnh Văn ) thì mình chó được đơn giản hóa bằng một nét vẽ hót vào như ... bụng chó, đến Đại Triện thì các nét  được viết bằng nhau. Tiểu Triện thì nét chữ đã thành hình bằng các nét biểu tượng và đến chữ Lệ ở cuối đời Tần thì các nét chữ đã được kéo thẳng ra như chữ viết hiện tại 犬.

      KHUYỂN 犬 là Chó nói chung, con vật bốn chân được thuần hóa rất sớm, cùng với con ngựa thành một cặp Khuyển Mã 犬馬, cùng sống chung và cùng tiến hóa với con người.

      Bộ Khuyển 犬 khi ghép với các bộ khác để tạo chữ mới (18 chữ), thường  được đặt nằm bên tay phải, như chữ  THÚ 獸 là từ chỉ chung các con vật bốn chân. Ta có thành ngữ Phi Cầm Tẩu Thú 飛禽走獸 có nghĩa : Loài chim thì bay loài thú thì chạy. Nhưng ...

      Thường thì bộ Khuyển 犬 được đặt nằm bên phía trái của chữ ( khoảng 198 chữ ) và được viết cách điệu 犬 thành 犭để viết cho nhanh và chữ được ghép sẽ đẹp hơn, tiêu biểu là chữ CẨU 狗.

      CẨU 狗 nguyên nghĩa là Con Chó Nhỏ, thường dùng trong văn nói, sau thông dụng với KHUYỂN, rồi tùy theo tập quán của từng vùng quen sử dụng CẨU hay KHUYỂN mà ta có các từ như : Liệp Cẩu 獵狗 là Chó Săn, Tẩu Cẩu 走狗 là Làm Tay Sai cho ai đó, Cảnh Khuyển警犬 là Chó Cảnh Sát, Quân Khuyển 軍犬 là Chó Quân Đội ...

                        Năm nay 2018, Thiên Can nhằm ngôi thứ 5 là chữ Mậu, hợp với Địa Chi ngôi thứ 11 là Tuất, nên ta có năm MẬU TUẤT 戊戌. Mậu Kỷ thuộc Thổ, biểu tượng là màu Vàng. Con chó mà màu vàng dân Nam Kỳ Lục Tỉnh chúng tôi gọi nó là con Phèn, có thể là do những vùng đất mới khai phá khi nước rút đi còn để lại một lớp bùn màu vàng đậm, bà con ta gọi là đất phèn. Phải qua vài mùa nước chắc cho sạch phèn thì đất mới trồng tỉa được. Đời sống của dân miệt vườn miệt ruộng luôn gắn liền với các con Phèn, con Mực, con Vện, con Vá ... mà người nước ngoài học nói tiếng Việt luôn đau đầu vì các tên gọi nầy ...

      Con chó màu vàng thì gọi là con Phèn, màu đen thì gọi là con Mực, có sọc vằn vện đen trắng lẫn lộn thì gọi là con Vện, có đốm đen đốm trắng thì gọi là con Vá, và nếu toàn một màu trắng thì gọi là con Chó Cò như các câu vè về 12 con giáp :

 

                       Tuổi Tuất là con Chó Cò,

                 Nằm khoanh trong lò lổ mũi lọ lem.

 

      Theo Tử vi Đẩu số thì con chó hợp với con ngựa con cọp thành một bộ Dần Ngọ Tuất tam hạp. Chó và Ngựa hợp nhau vì cùng tiến hóa với con người, chớ Cọp thì làm sao mà hợp cho được. Chúa sơn lâm chỉ cần gầm lên một tiếng là chó và ngựa qụy xuống không còn chạy nổi nữa ! Trừ phi nó là con cọp ... lạc đường đi xuống đồng bằng như câu ông bà ta thường nói :

            Hổ lạc bình dương bị khuyển khi   虎落平陽被犬欺

Có nghĩa :

       Cọp mà đi lạc xuống đồng bằng thì cũng bị chó khinh khi, dễ ngươi, như anh hùng thất thế bị kẻ tiểu nhân khi dễ vậy. 

                 Tứ Hành Xung thì có Thìn Tuất Sửu Mùi, bốn cung nầy đều thuộc thổ và đều ở trung ương. Mậu Kỷ cũng thuộc thổ ở trung ương, nên Năm Mậu Tuất 2018 nầy là con chó hoàn toàn bằng đất, đất cả Thiên can lẫn Địa chi. Bản thân con chó đất đã khó bảo toàn còn mong gì phù hộ giúp đỡ cho ai được nữa ! Tháng Tuất là Tháng 9 âm lịch trong năm, người Quảng Đông phát âm Cửu và Cẩu giống nhau, nên họ gọi tháng 9 là tháng Chó, là tháng bắt đầu ăn thịt chó cho ấm vì trời đã cuối thu sắp sang đông.  Nhớ khi xưa trên đường Nhân Vị ( sau 1963 đổi thành Trần Hoàng Quân, sau 1975 đổi thành Nguyễn Chí Thanh ) đoạn bên hông nhà thương Chợ Rẩy bên kia đường Quận 11 là các quán lề đường bán thịt chó ngon nổi tiếng Sài Gòn Chợ Lớn với chiêu bày " Hương Nhục 香肉 " là Thịt Thơm. Theo giới ăn nhậu thì thịt chó dính răng của đêm trước, sáng hôm sau xiả ra miếng thịt vẫn còn thơm ! Thật vậy, hễ đèn đường nổi lên là cả khu vực nầy bát ngát mùi Hương Nhục mà không cần phải có :

 

                    Con chó khóc đứng khóc ngồi 
                    Bà ơi đi chợ mua tôi đồng riềng... gì cả !

 

       Còn giờ Tuất là từ 7 đến 9 giờ tối, giờ của cuối canh một, là giờ của anh chàng họ Sở hẹn với Thúy Kiều " Ba mươi sáu chước chước gì là hơn ? " để bỏ trốn khỏi lầu xanh bằng một bức tiên mai, với rành rành TÍCH VIỆT có hai chữ đề. Cô Kiều đã qúa thông minh nên mắc bẫy :

                        Lấy trong ý tứ mà suy.

               Ngày hai mươi mốt Tuất Thì phải chăng ?

Vì 2 chữ TÍCH VIỆT 昔越 chiết tự ra thành 廿一日走戌 trấp nhất nhựt tẩu tuất. Có nghĩa : Ngày hai mươi mốt sẽ bỏ trốn vào giờ Tuất.


       Trong " Lục Súc Tranh Công " giữa trâu, chó, ngựa, dê, gà, lợn thì con chó cũng đã kể lể rằng :

 

        .... Đêm năm canh, con mắt như chong, 
             Đứa đạo tặc nép oai khủng động. 
             Ngày sáu khắc, lỗ tai bằng trống, 
             Đứa gian tham thấy bóng cũng kinh.

             Lại đến ngày kỵ lạp tiên sinh,
             Cũng ra sức săn chồn, đuổi sóc.
             Bao quản chui gai, lước góc,
             Chi này múa mỏ, lòn hang....

      Rất thực tế, toàn là những việc tầm thường chung quanh cuộc sống với con người : Canh nhà giữ cửa, đề phòng kẻ gian trôm cắp, chui gai lướt góc, đuổi sóc săn chồn ... không có thành tích chiến công to lớn như những con vật khác, nhưng con chó rất thân mật. sát sao và gần guĩ với con người, nhất là lòng trung thành của chó với chủ nhà thì không có con vật nào dám so bì cả, kể cả con ... người, có lắm người lòng trung thành cũng không bằng được chó !  Thế nên, thành ngữ đầu tiên ca ngợi chó là bốn chữ Trung Trinh Bất Nhị 忠貞不二, Có nghĩa là Lòng trung thành của chó luôn luôn bền vững, không có hai lòng, dù cho có xa cách bao nhiêu năm trường, khi gặp lại chủ cũ, con chó vẫn còn nhớ để vẩy đuôi chào mừng như thường. Có rất nhiều truyện kể cả Đông lẫn Tây, khi chủ chết đi, chỉ có con chó là còn quanh quẩn chung quanh mộ của chủ, và lắm con còn nằm chết luôn bên mộ chủ nữa mới thật là cảm động !

  dcd_trungtrinhbatnhi.jpg                 

      Trung Trinh Bất Nhị

 

      Một lòng với chủ, theo chủ hết lòng, nên ta còn có thành ngữ : Kiệt Khuyển Phệ Nghiêu 桀犬吠堯. Có nghĩa : Con chó của vua Kiệt sủa vua Nghiêu. Kiệt là hôn quân bạo chúa của đời nhà Hạ; Nghiêu là một minh quân nhân đức của đời cổ đại. Thành ngữ nầy có xuất xứ từ Chiến Quốc Sách, chỉ nêu lên lòng trung thành của chó luôn luôn hết lòng vì chủ, không cần biết đến việc chủ tốt hay là xấu, chỉ biết một mực trung thành với chủ, cũng như những người luôn đi theo ca ngợi Tổng thống Donald Trump vậy, chỉ biết có ông Trump là số một mà thôi ! Theo Chiến Quốc Sách ...

         Vào thời vua Cảnh Đế đời Tây Hán, có danh sĩ giỏi mưu lược là Trâu Dương, theo về và làm việc dưới trướng của Ngô Vương Lưu Tị. Sau Lưu Tị định làm phản, Trâu Dương nhiều lần can gián, nhưng Tị vẫn không nghe, Dương bèn bỏ Tị theo về với Lương Hiếu Vương Lưu Võ. Mưu thần tâm phúc của Lưu Võ là Công Tôn Ngụy có lòng đố kỵ Trâu Dương, bèn đem việc trước đây Dương theo Ngô Vương định làm phản nói cho Hiếu Vương nghe. Vương giận, nên bắt Trâu Dương giam vào ngục, định sẽ xử tử hình. Trong ngục, Trâu Dương viết một bức thơ nổi tiếng để lại trong văn học, đó là " NGỤC TRUNG THƯỢNG LƯƠNG VƯƠNG THƯ 獄中上梁王書 " Có nghĩa : Thơ viết trong ngục gởi đến Lương Vương. Nôi dung bức thơ nêu ra rất nhiều nhân vật lịch sử bị nghi oan, thậm chí bị bức hại đến chết trong ngục tối, thực ra họ đều là những trung thần liệt sĩ. Cuối thơ, ông nêu lên câu " Kiệt Khuyển Phệ Nghiêu 桀犬吠堯 " với hàm ý : Ai vì chúa nấy, lúc đó tôi đang theo phò Ngô Vương, nên phải hết lòng với Ngô Vương mà bài bác ông, bây giờ tôi theo về với ông rồi thì tôi cũng sẽ hết lòng với ông mà thôi ! Trước đây tôi " sủa " ông, bây giờ  tôi sẽ " sủa " người khác. OK !

     dcd_trietkhuyenphephieu.jpg       


    Kiệt Khuyển Phệ Nghiêu

 

       Một con chó nữa rất nổi tiếng trong văn chương, đó là con chó xanh trong thành ngữ BẠCH Y THƯƠNG CẨU 白衣蒼狗. Có nghĩa là Áo Trắng Chó Xanh. Theo tích sau đây :

       Thư sinh Vương Qúy Hữu đời Đường , có vợ là Liễu Thị, gia cảnh cơ hàn, nên vợ chồng rau cháo có nhau. Sau vì qúa nghèo túng bửa đói bửa no, nên Liễu Thị mới bỏ chồng mà đi. Bà con lối xóm đều không biết nội tình, ngỡ là Vương Qúy Hữu đuổi vợ đi, nên xúm nhau trách móc chàng. Nhà thơ Đỗ Phủ thấy vậy mới làm một bài Thất ngôn trường thiên minh oan cho Vương, gọi là " Khả Thán Thi 可嘆詩, có nghĩa : Bài thơ đáng Than Thở , nói lên sự đời, tình đời hay đổi thay, biến ảo khôn lường. Mở đầu bài thơ là 4 câu :

 

            天上浮云似白衣,    Thiên thượng phù vân tự bạch y,

            斯须改变如苍狗。  Tư tu cải biến như thương cẩu.

            古往今来共一时,  Cổ vãng kim lai cộng nhất thì,

            人生万事无不有 !   Nhân sinh vạn sự vô bất hữu !

Có nghĩa :

         Đám mây nổi ở trên trời tựa như là tà áo trắng,

         Chỉ trong phút chốc đã biến thành con chó màu xanh.

         Từ xưa đến nay cũng đều giống như thế cả,

         Muôn việc trên đời không có gì là không có cả !

 

     Hai câu thơ đầu đã được Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều mượn để diễn ý trong Cung Oán Ngâm Khúc rất hay là :

                       Lò cừ nung nấu sự đời,

            Bức tranh vân cẩu vẽ người tang thương !

                Thành ngữ trên có thể nói trại đi thành BẠCH VÂN THƯƠNG CẨU hay Thương Cẩu Bạch Y gì cũng được.

            dcd_bachythiencau.jpg

        Trong văn chương ta còn thấy một cái ... đuôi chó nữa, đó là câu Cẩu Vĩ Tục Điêu 狗尾續貂. Có nghĩa là lấy đuôi của con chó nối thay cho đuôi của con điêu. Điêu 貂 là một loài chồn sóc, to như con rái cá, lông đuôi dài màu vàng có khoan đen rất đẹp. Xưa kiểu phục sức của nhà Hán, mũ của các quan Thị-trung thường-thị hầu cạnh bên vua đều cắm đuôi con điêu, đúc con ve vàng đeo vào cho đẹp, vì thế gọi các kẻ quyền quý là "nhị điêu" , hoạn quan gọi là "điêu đang" . Thành ngữ Cẩu Vĩ Tục Điêu 狗尾續貂 có tích như sau :

        Sau khi Tấn Võ Đế Tư Mã Viêm chết, con trai là Tư Mã Trung nối ngôi là Tấn Huệ Đế. Huệ Đế bất tài, lại không rành việc triều chính, nên tất cả quyền hành đều lọt vào tay của Giả Hậu. Giả Hậu lại tính tình rất hung ác nham hiễm, nên Triệu Vương Tư Mã Luân mượn cớ nầy đem quân vào cung giết Giả Hậu, rồi tự phong mình làm tướng quốc. Vì muốn mua chuộc triều thần để mở rộng thế lực của mình, cho nên Tư Mã Luân phong quan tước bừa bãi, cả những  đứa trẻ 12, 13 tuổi cũng  được phong Hầu Tước. Khi vây cánh đã vững, bèn phế Huệ Đế đi để xoán ngôi vua. Theo quy định lúc bấy giờ, các vương công đại thần đội mão đều được trang sức bằng đuôi của con điêu. Nhưng vì Tư Mã Luân phong quan tước quá nhiều, nên không đủ đuôi điêu để làm mão, phải dùng đở đuôi chó để thêm vào, nên dân gian mới có câu vè nhạo rằng :" Điêu bất túc, cẩu vĩ tục 貂不足,狗尾续 ". Có nghĩa : Đuôi điêu không đủ, nên lấy đuôi chó nối vào. Vì thế thành ngữ Cẩu Vĩ Tục Điêu 狗尾續貂 có nghĩa là lấy tạm đồ dõm,đồ hạng hai để thay cho đồ tốt, đồ hạng nhất. Dùng rộng ra là đem cái dở mà nối liền với cái hay, như cô Kiều đã rất khiêm nhường nói với Thúc Sinh, khi Thúc sinh làm thơ vịnh cô đang tắm là :

                        Hay hèn ví cũng nối ĐIÊU,

                  Nỗi quê nghĩ một hai điều ngang ngang.

và vì ...

                        Lòng còn gởi áng mây vàng,

nên ...         Họa vần xin hãy chịu chàng hôm nay !

 

       Còn một con chó nổi tiếng trong Truyện Phong Thần là con HẠO THIÊN KHUYỂN 昊天犬 của Nhị Lang Thần Dương Tiễn. Theo sách Sưu Thần Ký 搜神记 thì ...

       Hạo Thiên Khuyển là một con chó nhỏ truyền kỳ của dân gian, lang thang kiếm ăn, bửa đói bửa no, chẳng những bị người đời đánh đuổi, mà còn lo sợ bị chó sói xé thịt. May sao mỗi lần gặp nạn đều được Nhị Lang Thần Dương Tiễn lúc bấy giờ là một tiểu đạo đang tu tập cứu giúp. Nói cũng lạ qua ba lần gặp nạn, con chó nhỏ nầy đều được Dương Tiễn cứu giúp kịp thời, nên Dương nghĩ rằng chắc nó có duyên với mình, mới dạy cho nó cách tu luyện và dẫn theo bên mình. Đến khi viên mãn thì cả chó lẫn người đều tu thành chánh qủa. Chiến công hiển hách của Hạo Thiên Khuyển được nhắc đến 2 lần trong Tây Du Ký, Lần thứ nhất là Hồi thứ Sáu khi Tôn Ngộ Không đại náo Thiên cung đánh với Nhị Lang Thần, Hạo Thiên Khuyển đã nhảy đến cắn vào bắp chuối làm cho con khỉ đá phải té nhào. Lần thứ hai là Hồi thứ 36 khi đánh với Cửu Đầu Trùng. Khi Cửu Đầu Trùng bay đến, áp sát mình Nhị Lang Thần, bên hông bỗng nhiên lại mọc ra thêm một cái đầu nữa định cắn Dương Tiễn. Hạo Thiên Khuyển vội vàng nhanh nhẹn phóng lên, sủa " Gâu " một tiếng, cắn đầu của con quái thú rơi xuống đất.

 

           dcd_DuongTien.jpg         

           Tượng  Dương Tiễn và Tạo hình trong Điện Ảnh

 

       Cũng cái con Hạo Thiên Khuyển nầy không chịu yên phận ở trên trời, nên có một lần trốn xuống trần gian để tác yêu tác quái. Lúc đó Lữ Động Tân, một trong Bát Tiên ở núi Bồng Lai, chỉ mới bắt đầu tu đạo, phụng mệnh dùng pháp bảo Bố Họa hồ lô đi thu phục. Khi Hạo Thiên Khuyển đã bị nhốt trong hồ lô rồi, Lữ Động Tân lại động lòng nhân đạo, sợ con chó trong hồ lô sẽ bị đốt thành tro bụi tội nghiệp, nên mới thiện tiện mở nút hồ lô thả nó ra. Không ngờ, vừa ra khỏi hồ lô, Hạo Thiên Khuyển quay đầu cắn cho Lữ Động Tân một phát rồi chạy tuốt. Vì vậy, nên ta lại có thêm một thành ngữ còn thông dụng đến hiện nay Là : CẨU GIẢO LỮ ĐỘNG TÂN, BẤT THỨC HẢO NHÂN TÂM 狗咬呂洞賓, 不識好人心。Có nghĩa : Chó cắn Lữ Động Tân, không biết là người có lòng tốt. Câu nầy thường chỉ được sử dụng có một vế đầu là Cẩu Giảo Lữ Đông Tân, có nghĩa giống như là " Làm ơn mắc oán " của ta vậy !

        Tích trên có xuất xứ từ Hồi 83 & 84 trong quyển truyện Thần thoại Trung Hoa " Bát Tiên Đắc Đạo Truyện 八仙得道傳 " hoặc Đông Du Bát Tiên 東遊八仙 ".

   dcd_caugiaoLudongtan.jpg           


 Cẩu giảo Lữ Động Tân, bất thức hảo nhân tâm 

    

      Chó hay sủa và hay cắn người. Mặc dù người dân Lục Tỉnh có câu " Chó sủa chó cắn ai !", ý nói : Chó chỉ sủa để " hù " người ta mà thôi chớ ít khi cắn ai lắm. Nói thì nói thế, chớ khi thấy con chó sủa quấu quấu, chòm tới nhe nanh múa vút thì ai cũng ... ớn cả, lở mà nó cắn cho một phát thì phải chích ... 60 mũi thuốc ngừa chó dại vào bụng. Nên đi đường mà gặp chó thì ai cũng " ngán " cả, nhất là giới ăn xin ăn mày, chẳng những sợ chó cắn mà còn sợ chó dành cả những thức ăn mà mình xin được trong ... miểng vùa. Vì thế mà trong tất cả những truyện võ hiệp của Kim Dung, ta thấy giới Cái Bang thường có cây gậy đánh chó, gọi là Đả Cẩu Bổng và Đả Cẩu Bổng Pháp là một môn võ công thượng thừa của Bang chủ Hồng Thất Công, một trong Võ Lâm Ngũ Bá, chẳng những dùng để đánh chó mà còn dùng để đánh cả những người xấu ... hơn chó nữa, lại có cả một Đả Cẩu Trận Pháp hẵn hoi. Các chiêu thức của Đả Cẩu Bổng Pháp thường đều có kèm theo một chữ Cẩu hay chữ Khuyển, như :

   * Ác cẩu lan lộ 惡狗攔路 : là Chó dữ chặn đường.
   * Bổng đả song khuyển 棒打雙犬 : là Gậy đánh hai con chó.
   * Bổng đả cẩu thủ 棒打狗首 : là Dùng gậy đánh vào đầu chó.
   * Tà đả cẩu bối 斜打狗背 : là Đánh xéo vào vai chó.

   * Thiên hạ vô cẩu 天下無狗 : là Thiên hạ không còn chó nữa.

      v.v... và... v.v.... Tất cả gồm 36 đường, xin tham khảo thêm trên web : CLB Vovinam Nguyễn Văn Cưng. Những Tuyệt Chiêu Của Đả Cẩu Bổng Pháp.
 

 dcd_HoangDung.jpg           


  Nữ hiệp Hoàng Dung với Đả Cẩu Bổng
 

     Thành ngữ tục ngữ về chó thì thật nhiều, như năm con Gà vừa qua, ta đã biết qua thành ngữ Kê Minh Cẩu Đạo 雞鳴狗盜 là Gà gáy chó trộm để chỉ những tên " Đầu trộm đuôi cướp ". Thành ngữ liên quan tới chó mà Hoa Việt gì đều thông dụng cả là : 

   * Đả cẩu khán chủ 打狗看主 ta nói là : Đánh chó kiên chủ nhà. 

   * Cẩu trệ bất như 狗彘不如 ta nói là : Không bằng heo chó, người Miền Bắc nói là : Không bằng chó lợn. Trệ 彘 là con heo nái, người Miền Bắc gọi là con Lợn Xề.

   * Lang tâm cẩu phế 狼心狗肺 là Lòng lang phổi chó, ta nói là : " Lòng lang dạ sói ".

   * Đả kê mạ cẩu 打雞罵狗 là Đánh gà chưởi chó, ta nói là " Chưởi chó mắng mèo ".  

   * Quải dương đầu mãi cẩu nhục 掛羊頭賣狗肉 : Ta nói là " Treo đầu dê bán thịt chó ". Chỉ các con buôn làm ăn gian dối. 

   * Cẩu chủy lý trưởng bất xuất tượng nha 狗嘴裡長不出象牙 : Ta nói là : " Miệng chó không mọc ra được ngà voi ". 

   * Họa hổ bất thành phản loại khuyển 畫虎不成反類犬 : Ta nói là " Vẽ cọp không xong lại giống chó ", Chỉ sự vụng về, không khéo léo về mọi mặt. Trong Lục Vân Tiên của cụ Đồ Chiểu, dân làng đã khuyên Vân Tiên khi chàng định đi đánh tướng cướp Phong Lai :

                         E khi họa hổ bất thành,

                Khi không mình lại xô mình xuống hang.

   * Cẩu bất thực phân 狗不吃屎 là Chó không ăn cứt, ta nói là " Chó chê cứt " để chỉ sức khỏe không tốt, vì Cứt là món khoái khẩu của chó mà lại chê, chứng tỏ là khẩu vị hoặc sức khỏe có vấn đề. Nếu không thì là " làm bộ chó ". Vì ca dao của ta có câu :

                       Thân em như cục cứt trôi sông,

              Phận anh như con chó đói chạy rông trên bờ !  

còn gì đau khổ hơn là thấy đồ ăn mà mình yêu thích lại không thể " quằm " được !  Như chàng trai thấy cô gái mà mình thương hơ hớ ra đó mà không sao " thương " được, vì môn đang hộ đối, vì thân phận nghèo hèn ... Thật đau khổ và tội nghiệp vô cùng, khi :

 

                       Mây trôi nước chảy hững hờ,
               Cứt trôi chó chạy biết bao giờ gặp nhau ?

Nên đâm ra mơ ước vẩn vơ ...

                       Ước chi cứt dạt vào bờ,
                Để cho con chó đói hết chờ hết mong.

       Nhưng ...

        Qua đến đất Mỹ thì con chó... lên ngôi, về thứ tự ưu tiên trong xã hội Mỹ thì thứ nhất là Đàn bà Lady first mà, thứ nhì là Trẻ em, thứ ba là con Chó và thứ tư mới tới phiên Đàn ông !

         Nuôi chó phải có nhà ở cho chó hẵn hoi, phải nuôi bằng thực phẩm chó đàng hoàng, phải được chích ngừa, phải có bảo hiễm và phải có bác sĩ chó khám bệnh chăm sóc sức khỏe. Phải được tắm rửa làm đẹp như hớt tóc, cắt móng chân ... Khi thiến phải gắn dịch hoàn giả cho chó để khi đi ra ngoài chó khỏi mắc cở. Chưa kể mỗi buổi sáng phải dẫn chó ra đường cho đi đái đi ỉa, rồi phải dùng bao rác hốt sạch những cái mà chó thải ra, chăm sóc chó còn hơn là chăm sóc cho cha mẹ, con cái nữa !

        Thức ăn của chó là dog food, thức ăn của người là hot dog, một loại xúc xích trông giống như bộ phận sinh dục của con chó đực, người Anh gọi là saveloy, mằn mặn ăn không ngon lành gì cả, thua xa lạp xưởng của ta. Các quyển sách cũ lật tới lật lui lâu ngày, các góc sách bị cuốn kèn lại, người Mỹ gọi là tai chó : dog eared. Ghét ai ta mắng là : Đồ chó đẻ ! thì Mỹ lại nói là : Con của con chó cái " Son of a bitch " hay " son of a gun ". Chỉ tánh tham lam bo bo giữ của thì ta nói như Chó Già Giữ Xương, còn Mỹ thì nói Dog in the manger. Nhưng dù đông dù tây gì thì chó vẫn là bạn thân với người Man's best friend, nhưng con chó ở Mỹ thì lại được các cô chủ của nó nâng lên thêm một bậc nữa : Love me, love my dog, có nghĩa : Nếu có yêu tôi thì hãy yêu luôn con chó của tôi nữa ! Cái nầy thì hơi "căng" một chút, chả lẽ mỗi lần hôn em phải hôn luôn con chó của em nữa sao ?!

 

        Không nói chuyện chó tây chó Mỹ nữa, trở lại với con chó tội nghiệp của Việt Nam ta, hễ ghét ai là cứ lấy con chó ra làm đối tượng để chưởi xéo người đó. Ngoài tiếng " Đồ chó đẻ " ra, còn có " Đồ chó chết, Quân chó má, Cái thằng chó, Cái con đĩ chó ..." Có " văn hoá " một chút thì mắng người ta là " Thứ cẩu đầu, Quân Cẩu Trệ " ... Chỉ những kẻ chuyên làm tay sai cho người ác thì là " Thứ cái đồ khuyển ưng, ưng khuyển " như trong Truyện Kiều lúc Hoạn Thư cho người đi bắt Thúy Kiều, 2 câu 1623-1624 là :

                       Sửa sang buồm gió lèo mây,
               Khuyển Ưng, lại chọn một bầy côn quang.

           

          dcd_hophu.jpg   

        Để chỉ những thằng con không ra gì thì bảo là : Hổ phụ sanh khuyển tử 虎父生犬子, có nghĩa : Cha thì hùng dũng oai phong như cọp, còn con thì nhu nhược cụp đuôi như chó ! Nhưng từ " khuyển tử 犬子 " lại là từ khiêm nhường để chỉ " Con của Mình " khi giới thiệu với người khác, như : Đây là khuyển tử, có nghĩa như " Đây là thằng chó con của tôi !". Ngoài ra, ta cũng có từ Khuyển Mã 犬馬 cũng là từ khiêm nhường của các bề tôi nói với vua chúa hoặc chủ cả ngày xưa

: Nguyện làm thân Khuyển Mã để đáp đền, ý nói làm Chó làm Ngựa để báo đáp, nhưng ta lại nói là Làm thân Trâu Ngựa để báo đáp, như cô Kiều trước đêm phải đi theo Mã Giám Sinh đã trối lại với Thuý Vân rằng :

                    Tái sinh chưa dứt hương thề
              Làm thân trâu ngựa đền nghì trúc mai 

                                                       ( câu 707-708 )

      Nhân năm chó, lại nhớ đến một chuyện cười dân gian thuở xưa, chuyện kể ...

      Xưa có một nhà nho thanh liêm, rất được dân làng trong vọng,  thấy các quan lớn quan nhỏ từ Hương quản, Hương tuần, Lý trưởng đến Tri huyện, Tri Châu đều giở trò tham nhũng, hạch sách dân đen, nên ... Một hôm, ông làm một tiệc lớn, mời cả phủ huyện, hương chức hội tề đến dự. Nào tiết canh, dồi chả, thui nướng ... món ngon thơm phức dọn lên, các quan được một bửa chén no say. Có người đứng lên đáp tạ nhà chủ và hỏi các món ăn làm bằng thịt gì ? Nhà Nho thủng thỉnh đứng lên cười đáp : Chó, mâm trên mâm dưới, mâm trong mâm ngoài, tất cả đều là CHÓ cả !

       Chuyện nầy làm ta lại nhớ đến ...