ptan_ongdo.jpgTIẾNG HÁN CỔ

với ông đồ

ĐỖ CHIÊU ĐỨC

CHS Phan Thanh Giản

Nguyên GS Trung Học Tân Hưng (Cái Răng)

Nguyên Giảng Viên Hán Văn ĐH KHXHNV (SG)

__________________________________________________________________________

 

Nên gọi

            QUAN ÂM hay QUÁN ÂM

 

DCD_QuanAm.jpg 

                  Những năm gần đây, hầu như tất cả các chùa chiền, tăng ni, cư sĩ, Phật tử ... kể cả trong nước lẫn ngoài nước, đều có thói quen gọi QUAN Thế Âm Bồ Tát thành QUÁN (có dấu SẮC) thế Âm Bồ Tát ?!


         Mới nghe một hai lần đầu, tôi cứ ngỡ là người ta đọc sai, đọc lộn âm, nhưng chẳng những tín đồ Phật tử, cư sĩ tăng ni mà ngay cả các Tỳ kheo Đại đức, Thượng tọa Cao tăng khi tụng kinh hay đăng đàn thuyết giảng, hễ có dịp nhắc đến QUAN Âm Bồ Tát thì đều đọc là QUÁN Âm Bồ Tát cả !


        Tôi vô cùng ngạc nhiên, ngạc nhiên hết sức... Không biết tại sao Phật hiệu Đại Từ Đại Bi Cứu Khổ Cứu Nạn QUAN THẾ ÂM BỒ TÁT nghe hiền hòa là thế, từ bi là thế, êm tai là thế, bỗng dưng lại bị bỏ thêm cái Dấu Sắc vô duyên nghe chói tai muốn chết ! Ấy thế, mà tại sao mọi người đều nghe theo và đọc theo cái Phật hiệu chói tai có dấu sắc kia ?!  

 

        Theo "Chữ Nho...Dễ Học" thì chữ Quan 觀 là chữ thuộc dạng Hình Thanh theo diễn tiến của chữ viết như sau :  

 

             Chung Đỉnh Văn     Đại Triện    Tiểu Triện      Lệ Thư

                             DCD_Apr19_Quan.jpg

Ta thấy :
         Từ Chung đình văn cho đến Đại triện, Tiểu triện diễn tiến cho đến Lệ Thư đều do chữ QUÁN 雚 (một loại Lát để dệt chiếu, đệm) dùng làm ÂM kết hợp với Bộ KIẾN 見 là Thấy, là Gặp để chỉ Ý đúng theo phép tạo chữ của HÀI THANH (còn gọi là HÌNH THANH). Nên chữ 觀 được đọc là :


  * QUAN thì có nghĩa là Nhìn Ngắm, Xem Xét, như Tham quan 參觀, Quan sát 觀察... là Cách nhìn, như Quan Niệm 觀念, Quan Điểm 觀點...

     Nếu đọc là :
  * QUÁN thì có nghĩa là Cái chùa của các đạo sĩ ở và tu, như Bạch Vân Quán 白雲觀, Tử Dương Quán 紫陽觀...

 

        Nhưng để truy nguyên tìm hiểu nguyên nhân của cái "dấu sắc" vô duyên kia, tôi còn tìm lật các Tự điển, Từ điển... À, thì ra chữ QUAN 觀  là Xem xét còn được đọc là QUÁN với nghĩa Xét thấu theo các tài liệu sau đây (chỉ trích những phần có liên quan) : 

 

 * Từ điển Hán Nôm :

    QUAN 觀 là...
       - xem, quan sát.
  1. (Động) Xem xét, thẩm thị, Ngắm nhìn, thưởng thức. 
  2. (Danh) Cảnh tượng, quang cảnh, Cách nhìn, quan điểm, quan niệm.
  3. Một âm là "Quán". (Động) Xét thấu, nghĩ thấu. ◇Bát-nhã ba-la mật-đa tâm kinh 般若波羅密多心經: "Quán Tự Tại Bồ Tát hành thâm Bát-nhã Ba-la-mật-đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách" 觀自在菩薩行深般若波羅蜜多時, 照見五蘊皆空度一切苦厄 Bồ Tát Quán Tự Tại, khi tiến sâu vào Tuệ Giác Siêu Việt, nhận chân ra năm hợp thể đều là (tự tánh) Không, liền độ thoát mọi khổ ách.

 

* Từ điển Thiều Chửu :
       Giải thích âm QUÁN như sau :
       QUÁN : là Xét thấu, nghĩ kĩ thấu tới đạo chính gọi là quán. Như Chỉ Quán 止觀 yên định rồi xét thấu chân tâm, như Kinh Dịch 易經 nói Quán ngã sinh vô cữu 觀我生無咎 xét thấu cái nghĩa vụ của đời ta mới không mắc vào tội lỗi. Đạo Phật có phép tu dùng tai mà xem xét cõi lòng, trừ tiệt cái mầm ác trở nên bậc Vô thượng, nên gọi là phép quán 觀. Như Quan âm bồ tát 觀音菩薩, vì ngài tu bằng phép này, sáu căn dùng lẫn với nhau được, mắt có thể nghe được, nên gọi là Quán thế âm 觀世音.  

   

         À, thì ra QUAN 觀 là Xem Xét, là Nhìn Ngắm... Nếu đọc là QUÁN thì có nghĩa là Xét Thấu, Nghĩ Thấu... Nhưng suy cho cùng thì Xét Thấu Nghĩ Thấu đều là nghĩa phát sinh của Xem Xét Nhìn Ngắm ra mà thôi ! Và QUÁN còn là một phép tu tập về lục căn như có thể dùng tai để nhìn và dùng mắt để nghe được... Như trong "Bát-nhã ba-la mật-đa tâm kinh 般若波羅密多心經 "..vv.. và..vv...  Nhưng,
        Ở đây tôi không nói về phép tu tập (Vì tôi có biết gì đâu mà nói ), tôi chỉ thắc mắc, ray rức không hiểu vì sao một Phật hiệu của một Bồ Tát khả kính đọc lên nghe êm ái nhẹ nhàng là QUAN THẾ ÂM Bồ Tát lại bị ai đó hô hào rồi thô bạo thêm dấu sắc vào thành QUÁN THẾ ÂM nghe thật trúc trắc chói tai. Nếu bảo là gọi cho đúng cái con đường tu tập của Bồ Tát thì càng sai hơn, vì Phật hiệu là cái tên gọi, còn con đường tu tập là cái việc làm. Hơn nữa cái Phật hiệu đại từ đại bi Cứu khổ Cứu nạn QUAN THẾ ÂM Bồ Tát mà mọi người còn gọi một cách thân mật gần gũi với cuộc sống hơn là Mẹ Hiền Quan Âm đã có từ hơn một ngàn năm trăm năm nay, từ thời Bắc Chu của Nam Bắc Triều ( 420-589 ) đời vua Diệu Trang Vương với Quan Âm Diệu Thiện và trên hai trăm năm với truyện nôm Quan Âm Thị Kính của ta dưới triều nhà Nguyễn (1802---). Phật hiệu QUAN ÂM BỒ TÁT đã đi sâu vào lòng quần chúng nhân dân, đã ăn sâu vào tâm khảm của muôn vạn tín đồ Phật tử, thì tại sao lại phải vì một lý do nào đó mà thêm vào "Dấu Sắc" cho trúc trắc khó đọc và nghe không êm ái chút nào cả !

 

         Xin được lạm bàn về Phật hiệu QUAN THẾ ÂM BỒ TÁT. Như các Từ điển nêu trên...


       QUAN 觀 là Quan sát, là Xem xét. THẾ 世 là Thế giới, là Cuộc đời nầy. ÂM 音 là Âm tín, Âm hao. Vậy thì...
       QUAN THẾ ÂM BỒ TÁT 觀世音菩薩 là vị Bồ Tát quan sát xem xét hết những âm tín âm hao của cuộc đời nầy, của cả thế giới nầy, để cứu khổ cứu nạn với tấm lòng đại từ đại bi của mình cho tất cả chúng sinh. Vì thế mà ta thường nghe mọi người niệm câu " Nam mô Đại từ Đại bi Cứu khổ Cứu nạn Quan Thế Âm Bồ Tát " với một tấm lòng thuần thành và lắng lòng với Mẹ Hiền QUAN ÂM nhẹ nhàng êm ái. Nhưng nếu đọc là QUÁN ÂM thì vừa khó nghe, vừa chói tai lại vừa có vẻ Bá Đạo nữa, vì ...

 

      Âm QUÁN dễ làm cho người ta liên tưởng và hiểu lầm thành...


    * QUÁN 冠 : là Bao trùm, Phủ trùm, như từ Quán Quân 冠軍 là Bao trùm cả Tam quân, là Hạng Nhất. Ngày xưa chỉ có những cuộc thi đua so tài trong quân đội, nên từ Quán Quân là Hạng Nhất được sử dụng thông dụng cho đến hiện nay. Nếu hiểu nhầm QUÁN THẾ ÂM là chữ QUÁN 冠 nầy, thì QUÁN THẾ 冠世 có nghĩa là Bao trùm cả thế giới, là Hạng Nhất ở trên đời nầy ! Nên tôi nói có vẻ Bá Đạo là thế, không thích hợp với Mẹ Hiền Quan Âm chút nào cả ! Còn như hiểu nghĩa... 

 

    * QUÁN 貫 là Quán Triệt 貫徹, Quán Xuyến 貫穿, là Xuyên suốt, thì QUÁN THẾ 貫世 là Xuyên suốt lo toan cho cả thế giới, nên có vẻ ôm đồm hết mọi việc của người đời. Mẹ Hiền Quan Âm chỉ Cứu khổ cứu nạn để giúp cho con người thoát khỏi bể khổ bến mê, chớ không phải ôm đồm làm hết mọi việc cho người đời. Còn nếu phát âm theo dân Nam Kỳ Lục Tỉnh chúng tôi không phân bịêt có "g" hay không "g" mà đọc là QUÁNG thành QUÁNG ÂM thì lại càng tội lỗi hơn ! Cho nên...

      Thiết nghĩ, QUAN THẾ ÂM BỒ TÁT là tên gọi của Phật Bà Quan Âm đã hơn ngàn năm nay, đã thành TẬP QUÁN NGÔN NGỮ là thói quen của tiếng nói, đã ăn sâu vào tâm thức của mọi người kể cả những người không phải là tín đồ Phật Giáo thuần túy như tôi, nhưng trong đời sống ở làng quê thôn xóm với ngôi chùa ở đầu thôn hay cuối làng, mọi người đã quen rồi với từ Quan Âm Bồ Tát, nay bỗng dưng lại đổi thành Quán Âm Bồ Tát; Mẹ Hiền Quan Âm thành Mẹ Hiền Quán Âm, nghe chua xót và ngỡ ngàng làm sao ấy ! Đã là thói quen của TẬP QUÁN NGÔN NGỮ, sao ta không duy trì giữ nguyên mà lại thay đổi một cách không cần thiết như thế ? Vì mọi người, mọi tín đồ bình dân đâu cần biết đến cái phép tu tập, cái lối tu tập hay cái con đường tu tập của các bậc cao tăng chính giác mà chi, họ chỉ biết Quan Âm Bồ Tát là Mẹ Hiền Quan Âm cứu khổ cứu nạn mà thôi !    

   Nhớ...
        Khoảng giữa năm 1994, dân Sài Gòn đọc được một bài đăng trên báo Sài Gòn Giải Phóng của Giáo Sư Lương Duy Thứ, Trưởng Khoa Trung của Đại Học Tổng Hợp vừa chuyển sang thành Đại Học Khoa Học Xã Hội & Nhân Văn (Vốn là Đại Học Văn Khoa Sài Gòn cũ), nội dung bài báo đề cập đến việc nên dùng từ "CHÚNG CƯ 眾居" thay thế cho từ " CHUNG CƯ " với lý do CHUNG CƯ là từ kép được thành lập theo văn phạm Hán Việt, vì Tính Từ đứng trước Danh Từ cho nên cả 2 từ phải đều là Hán Việt. Thế mà từ CHUNG 終 Hán việt không có nghĩa là Chung chạ mà có nghĩa là Cuối cùng. Nên CHUNG CƯ 終居 không phải là nơi nhiều người ở chung mà là nơi ở Cuối Cùng, tức là mồ chôn hay nghĩa địa. Vậy phải đổi từ CHUNG CƯ 終居 thành CHÚNG CƯ 衆居 thì mới ổn.Vì CHÚNG 衆 là Quần Chúng 群眾, nên CHÚNG CƯ 衆居 mới là nơi Nhiều người cùng ở chung. Sau đó, các báo, đài đều hưởng ứng dùng từ CHÚNG CƯ thay thế cho CHUNG CƯ, nhưng , chỉ một thời gian sau và mãi cho đến hiện nay, đã hơn 20 năm qua , thì... đâu vẫn hoàn đấy ! Tập thể Quần Chúng nói tiếng Việt vẫn thích dùng từ CHUNG CƯ hơn là CHÚNG CƯ ! Tại sao ? Vì CHUNG CƯ là từ viết tắt của nhóm từ 4 chữ "CÙNG CHUNG CƯ NGỤ", hơn nữa từ CHÚNG CƯ nghe nó chỏi cái lổ tai làm sao ấy !. Nên, trước mắt tất cả báo đài đều quảng cáo cho các CHUNG CƯ CAO CẤP, chớ không phải CHÚNG CƯ nữa, như CHUNG CƯ CAO CẤP Phú Mỹ Hưng chẳng hạn !  

 

       Trở lại với Phật hiệu QUAN THẾ ÂM BỒ TÁT, thiết nghĩ giới Phật tử quần chúng bình dân đã quen miệng với các cách gọi thân thương là :
    - Quan Âm Bồt Tát,
    - Phật Bà Quan Âm,
    - Mẹ Hiền Quan Âm....
đã thành một Tập Quán Ngôn Ngữ rồi, nếu bây giờ phải gọi Bà Quan Âm là Bà QUÁN Âm thì nghe rất chướng tai và... không giống ai cả ! Nên, theo thiển ý thì...
     Khi tu tập hay khi nghiên cứu về giáo lý cao siêu của Phật Giáo thông qua các phép, các cách hay các con đường tu tập thì qúy Tỳ Kheo Đại Đức Thượng Tọa hay Hòa Thượng ... muốn gọi sao thì gọi, nhưng khi thuyết giảng giáo pháp trước quần chúng nhân dân thì nên giữ theo lối gọi truyền thống trước đây là QUAN THẾ ÂM BỒ TÁT, chứ đừng cho máy phóng thanh cứ oang oang là " QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT" như chọc vào tai của muôn vạn người nghe một cách bá đạo và khó chịu vô cùng !

       Trên đây chỉ là những suy nghĩ cá nhân của người viết thông qua những phản ánh của bạn bè thân hữu chung quanh, xin chân thành gởi đến các vị chức sắc trong Giáo Hội Phật Giáo và quảng đại thiện nam tín nữ trong và ngoài nước để cùng nhau trao đổi và góp ý về tên gọi của một vị Bồ Tát rất gần gũi thân thương với tất cả chúng sinh còn chìm đắm trong biển khổ !

         Nam Mô Đại Từ Đại Bi Cứu Khổ Cứu Nạn QUAN THẾ ÂM Bồ Tát Ma Ha Tát !

 

                                                                                        
                                                                                           Đỗ Chiêu Đức

 

 

 Tùng Thiện Vương và các thi nhân đời Đường  

 

                   

                 DCD_VuongDuyTungThienVuongLybach.jpg

              VƯƠNG DUY     TÙNG THIỆN VƯƠNG        LÝ BẠCH

 


           Tùng Thiện vương là con trai thứ 10 của Minh Mạng, sinh ngày 24 tháng 10 năm Kỷ Mão (tức 11 tháng 12 năm 1819) tại cung Thanh Hòa trong cấm thành Huế. Mẹ ông là Thục tần Nguyễn Thị Bửu (阮氏寶), người Bình Chương, Gia Định, con gái của Tư không Nguyễn Khắc Thiệu (阮克紹), rất giỏi chữ nghĩa.

           Thuở lọt lòng, ông được ông nội đặt tên là Hiện (晛). Đến năm 1832, khi đã có Đế hệ thi, ông được cải tên là Nguyễn Phúc Miên Thẩm (阮福绵审).

           Ông nội ông là Gia Long rất vui mừng, thưởng liền 10 lạng vàng. Khi còn nhỏ, tính hay khóc, Thục tần rất lo mà không biết thế nào. Bỗng có đạo sĩ nói rằng: "Đây là sao Thái Bạch Kim Tinh giáng sinh, làm lễ tiễn thì khỏi.". Sau làm lễ, quả nhiên khỏi hẳn.

          Năm 1839, ông được phong làm Tùng Quốc công (從國公), mở phủ ở phường Liêm Năng, bên bờ sông An Cựu, Huế.

         Năm 1854, ông được gia phong Tùng Thiện công (從善公). Năm 1858, ông mua 12 mẫu ruộng ở xã Dương Xuân, làm nhà ở gọi là Phương Thốn thảo đường.

         Năm 1865, ông giữ chức Tả Tôn Nhân phủ, trong thời gian này xảy ra sự biến giặc Chày vôi. Trước đó, ông đã gả con gái là Thể Cúc cho Đoàn Hữu Trưng, một thanh niên ở làng An Truyền (tức làng Chuồn). Năm 1866, Hữu Trưng ngầm làm cuộc nổi dậy nhằm lật đổ Tự Đức. Việc thất bại, Hữu Trưng và nhiều người bị hành hình. Mặc dù trước đó, Hữu Trưng đã lấy cớ vợ cư xử trái lễ với mẹ chồng mà trả về để tránh liên lụy cho nhà vợ, Miên Thẩm cũng trói cả con gái và cháu ngoại, quỳ dâng sớ xin chịu tội.

         Tự Đức không kết tội chỉ nói ông: "Chọn rể không cẩn thận để mất thanh danh, nay trừ bổng trong tám năm". Suốt những năm bị trừ bổng ấy, ông lên ngôi chùa cổ Từ Lâm hoang tàn ở xã Dương Xuân làm nơi cư ngụ, vợ con phải canh tác trồng cây quả đem ra chợ bán để có cái ăn hàng ngày.

         Ông mất ngày 30 tháng 3 năm Canh Ngọ (tức 30 tháng 4 năm 1870), lúc 51 tuổi. Thụy là Văn Nhã (文雅). Năm 1878, ông được Tự Đức gia tặng là Tùng Thiện Quận vương (從善郡王).

        Năm 1936, Bảo Đại mới truy phong ông là Tùng Thiện vương (從善王), tước vị mà ngày nay người ta quen gọi.

        Tùng Thiện Vương là bạn thơ chí tình của Cao Bá Quát

                                                                         ( Nguồn gốc :  Wikipedia VN )

 

       Vua Tự Đức, ông vua rất có văn tài đã từng khen :


                  "Văn như Siêu, Quát vô tiền Hán           文如超适無前漢,
                   Thi đáo Tùng, Tuy thất thịnh Đường"     詩到從绥失盛唐。


      Sau đây ta hãy thử so sánh thơ của Tùng Thiện Vương với các nhà thơ lớn của các đời Đường, để thấy được cái hay của mỗi bên và để thấm thía hơn với lời bình phẩm nhận xét của ông vua tài hoa văn nghệ : " Thi đáo Tùng,Tuy thất thịnh Đường !".

 

                          
DCD_Lieu.jpg1. 

        柳                         LIỄU
去歲春殘黃鳥歸,      Khứ tuế xuân tàn hoàng điểu quy,
秋容憔悴月明知.      Thu dung tiều tụy nguyệt minh tri.
東風昨夜吹何處,      Đông phong tạc dạ xuy hà xứ ?
更惹新愁上曉眉.      Cánh nhạ tân sầu thướng hiểu my.

                                                          Tùng Thiện Vương

CHÚ THÍCH :
  * Khứ Tuế : là Năm Ngoái, năm trước, giống như chữ Khứ Niên vậy.
  * Hoàng Điểu : là Con chim vàng, chỉ chim Hoàng Oanh.
  * Nhạ : là Vây đến, Đụng đến, Ghẹo đến... cũng có nghĩa là Nhuốm lấy, Rước lấy...
  * Hiểu My : là Chân mày buổi sáng( chưa kịp vẽ )


Diễn Nôm :
                          LIỄU
         Năm ngoái xuân tàn oanh vội bay,
         Dáng thu tiều tụy mảnh trăng soi.
         Đêm qua gió cuốn về đâu nhỉ ?
         Lại rước thêm sầu liễu sáng nay !

Lục bát :
         Xuân tàn oanh vội bay về,
         Nét thu tiều tụy não nề trăng soi.
         Đêm qua gió thổi nhà ai,
         Sáng nay sầu đượm nét ngài ủ ê !

                                       Đỗ Chiêu Đức

 

 

    * Sau đây là bài " Mộ xuân quy cố sơn thảo đường 暮春歸故山草堂 của Tiền Khởi 錢起 đời Đường :


           谷口春殘黃鳥稀,     Cốc khẩu xuân tàn hoàng điểu hi,
           辛夷花盡杏花飛。     Tân di hoa tận hạnh hoa phi.
           始憐幽竹山窗下,     Thủy lân u trúc sơn song hạ,
           不改清陰待我歸。     Bất cải thanh âm đãi ngã quy.


CHÚ THÍCH :
  * Cốc : là Sơn Cốc, là Thung lủng núi. Nên Cốc Khẩu là Đường đi vào thung lủng núi.
  * Hoàng Điểu : chỉ Chim Hoàng oanh.
  * Tân Di Hoa : là Hoa của cây Mộc lan, còn gọi là Vọng Xuân Hoa 望春花, nở trước hoa Hạnh.
  * Lân : ở đây không có nghĩa là Tội nghiệp, mà là Thương, là Thích.
  * Thanh Âm : là Hình dung từ, chỉ Cây cối xanh tươi mát mẻ.

 

DIỄN NÔM :
         Cửa núi xuân tàn oanh biếng ca,
         Tân Di hoa rụng hạnh la đà.
         Thương thay song cửa rừng tre trúc,
         Mát mẻ như xưa đợi đón ta.
Lục Bát :
         Xuân tàn núi vắng oanh ca,
         Mộc lan rụng hết hạnh hoa bay đầy.
         Trước song rừng trúc phủ dày,
         Thanh u mát mẻ đợi ngày đón ta !

                                            Đỗ Chiêu Đức

          Cũng là chim hoàng oanh, nhưng khi xuân tàn chim hoàng oanh của Tùng Thiện Vương bay về tổ chỉ còn lại nét thu tiều tụy dưới bóng trăng soi, lại không biết gió xuân tối đêm qua thổi về đâu, nên sáng nay lại rước thêm nổi sầu bâng quơ lên mi mắt ! Còn Tiền Khởi đời Đường thì khi xuân tàn đã vắng tiếng chim hoàng oanh thì ông quay về bên song cửa sổ giữa rừng tre trúc mát mẻ luôn luôn sẵn sàng chào đón ông về khi ngoài trời hoa Mộc Lan đã tàn và hoa hạnh đang la đà bay theo gió !
          Mỗi người mỗi vẻ đều nên thơ và có nét thi vị riêng của mình.

DCD_Sen.jpg               

 2. 

     淥水                 LỤC THỦY

淥水青山常在,     Lục thủy thanh sơn thường tại,
孤雲野鶴同飛。     Cô vân dã hạc đồng phi.
短艇柳邊客釣,     Đoản đĩnh liễu biên khách điếu,
小橋月下僧歸。     Tiểu kiều nguyệt hạ tăng quy.

                                                     Tùng Thiện Vương


CHÚ THÍCH :


 * Lục Thủy : là Dòng nước trong. Chữ LỤC 淥 có 3 chấm thủy 氵, có nghĩa là Trong trẻo. Chữ LỤC 綠 có bộ Mịch 糸 là sợi tơ mới có nghĩa là Màu Xanh. 
 * Đoản Đĩnh : là chiếc xuồng con.


DIỄN NÔM :

                 Nước biếc núi xanh còn đó,
                 Mây đơn hạc lẻ cùng bay.
                 Xuồng con thả câu bờ liễu,
                 Sư về cầu nhỏ trăng lay !
Lục Bát :
             Núi xanh nước biếc còn đây,
             Hạc đơn mây lẻ cùng bay ven trời.
             Xuồng con bờ liễu câu hời,
             Dưới trăng cầu nhỏ sư hồi thiền môn.

                                                      Đỗ Chiêu Đức


           

          Thi Tiên Lý Bạch đời Đường cũng có một bài LỤC THỦY KHÚC, nhưng mượt mà ướt át hơn của Tùng Thiện Vương nhiều. Mời xem bên dưới :   

      

*  Sau đây là bài LỤC THỦY KHÚC của Lý Bạch đời Đường : 


              淥水曲                Lục Thủy Khúc


           淥水明秋月,     Lục Thủy minh thu nguyệt
           南湖採白蘋。     Nam hồ thái bạch tần.
           荷花嬌欲語,     Hà hoa kiều dục ngữ,
           愁殺盪舟人。     Sầu sát đãng chu nhân.
                        李白                          Lý Bạch


CHÚ THÍCH :
 * Lục Thủy Khúc :Là Tên của một khúc hát xưa, có nghĩa là Khúc hát về Dòng Nước Trong.
 * Nam Hồ : là Phía nam của Động Đình Hồ.
 * Bạch Tần : Một loại rau nổi trên mặt nước có hoa màu trắng như rau muống, rau ngổ vậy.
 * Hà Hoa : là Hoa Sen, tức là Liên Hoa 蓮花 đó.
 * Sầu Sát : chữ SÁT 殺 đứng sau Động từ là Trạng từ chỉ Mức độ, có nghĩa như Rất, Rất là. Nên Sầu Sát có nghĩa là Rất buồn, là Buồn muốn chết !

 * Đãng Chu Nhân : là Người chèo thuyền, người bơi xuồng.

NGHĨA BÀI THƠ :
          Dòng nước trong trẻo làm cho trăng thu như sáng hơn lên, ta thả thuyền ở phía nam Hồ Động Đình để hái rau bạch tần. Nhìn thấy bông sen nở trên hồ thật đẹp thật sống động như muốn nói chuyện cùng ta, làm cho ta cảm thấy buồn muốn chết đi được vì ta không thể nào đối thoại được với hoa.

DIỄN NÔM :

                     LỤC THỦY KHÚC


                Nước trong sáng trăng thu,
                Bạch tần hồ nam hái,
                Sen đẹp như muốn nói,
                Sầu chết người đãng chu !
Lục bát :
               Nước trong làm sáng trăng thu,
               Rau tần tìm hái bên hồ phía nam.
               Lá xanh bông trắng nhị vàng,
              Tựa như muốn nói sầu sang người chèo !

                                                          Đỗ Chiêu Đức

 

           Nhưng bài thơ của Tùng Thiện Vương là bài thơ 6 chữ, lại làm cho ta nhớ đến bài "Quy Sơn Tác 歸山作" của Cố Huống 顧況 đời Đường :


               心事數莖白髮,    Tâm sự sổ kinh bạch phát,
               生涯一片青山。    Sanh nhai nhất phiến thanh sơn 
               空林有雪相待,    Không lâm hữu tuyết tương đãi,
               古道無人獨還。    Cổ đạo vô nhân độc hoàn.


CHÚ THÍCH :
  * Quy Sơn : là Về núi, ý nói đi ở ẩn.
  * Kinh : là Sợi. Sổ Kinh : là Mấy sợi.
  * Sanh Nhai : là Mưu sinh để sinh sống.  

 

DIỄN NÔM :
                  Tâm sự, lơ thơ tóc bạc,
                  Sinh nhai, một dãy núi xanh.
                  Bầu bạn, núi không tuyết trắng,
                  Đường về, một bóng vắng tanh.


         Âm điệu của thơ 6 chữ vừa dứt khoát vừa khẳng định một cách mạnh mẽ, chính xác, cứng rắn nhưng cũng không kém phần thi vị. 

 3.

   金井怨          KIM TỈNH OÁN


美人照金井,   Mỹ nhân chiếu kim tỉnh,
井底華顏冷。   Tỉnh để hoa nhan lãnh..
空房夜不歸,   Không phòng dạ bất quy,
月轉梧桐影。   Nguyệt chuyển ngô đồng ảnh.

                                               Tùng Thiện Vương


CHÚ THÍCH :
 * Kim Tỉnh : Giếng vàng, là giếng của các nhà quyền qúy, trên mặt miệng giếng có dát vàng. Trong Kiều khi chuyển mùa Nguyễn Du cũng đã viết :
                     Thú quê thuần hức bén mùi,
                 Giếng vàng đã rụng một vài lá ngô.

 * Hoa Nhan : là dung nhan của tuổi hoa niên, chỉ nét mặt son trẻ.


DIỄN NÔM :
                    Người đẹp soi giếng vàng,
                    Dưới giếng dung nhan lạnh.
                    Phòng không cũng chẳng màng,
                    Trăng soi ngô đồng ảnh.
 Lục Bát :
                Săm soi người đẹp giếng vàng,
                Lạnh lùng nhan cắc ngỡ ngàng tái tê.
                Phòng không đêm chẳng buồn về,
                Ánh trăng lay động đã xê ngô đồng !
 

                                                          Đỗ Chiêu Đức    

 

   * Sau đây là bài KIM TỈNH OÁN 金井怨 của Tào Nghiệp 曹鄴 đời Đường :


               西風吹急景,    Tây phong xuy cấp cảnh,
               美人照金井。    Mỹ nhân chiếu kim tỉnh.
               不見面上花,    Bất kiến diện thượng hoa,
               卻恨井中影。    Khước hận tỉnh trung ảnh !


DIỄN NÔM :
                  Gió tây thổi bàng hoàng,
                  Người đẹp soi giếng vàng.
                  Chẳng thấy hoa trên mặt,
                  Chỉ hận ảnh ngỡ ngàng !

Lục Bát :
                  Gió tây vi vút lạnh tràn,
                  Bâng khuâng người đẹp giếng vàng săm soi.
                  Nét hoa đâu chẳng thấy cười,
                  Âu sầu lại hận ảnh người giếng kia !

                                                      Đỗ Chiêu Đức

 

           

DCD_Girl.jpg

Một người đẹp soi bóng xuống giếng nước xong, thấy dung nhan mình lạnh lẽo buồn bã nên không muốn về phòng, thơ thẩn để nhìn bóng ngô đồng đang lay chuyển như tâm sự của mình đang lay chuyển vậy; còn một người đẹp soi xuống giếng xong lại hận cho dung nhan của mình đã tàn phai đã già nua theo năm tháng trong lúc gió tây đang giục vù thổi mạnh.
          Mỗi bài đều nêu lên một trạng thái tâm lý độc đáo và rất nhân bản thực tế của phái đẹp.

 

                 Âu sầu lại hận ảnh người giếng kia          

 4.

       南溪  V                    NAM KHÊ


亂山深處一溪橫,     Loạn sơn thâm xứ nhất khê hoành, 
十二年前駐馬情。     Thập nhị niên tiền trú mã tình 
流水自知人事異,     Lưu thủy tự tri nhân sự dị, 
潺湲不作昔來聲。     Sàn viên bất tác tích lai thinh

                                                    Tùng Thiện Vương


CHÚ THÍCH :


 * Khê : Ta nói là Khe, là dòng nước từ trong núi chảy ra, là con sông nhỏ được hình thành bởi các dòng suối, mà ta quen gọi là SƠN KHÊ 山溪.
 * TRÚ : là Trú đóng, là dừng lại để nghỉ ngơi, ăn uống, cắm trại... khác với Đình Mã 停馬 là chỉ dừng chân một chút rồi đi.  

 * Sàn Viên : từ Tượng Thanh, chỉ tiếng Róc ra róc rách của nước chảy.

 

 DIỄN NÔM :
                          Khe Suối Nam


                 Ngổn ngang ngàn núi dòng khe cũ,
                 Dừng ngựa mười năm tình ấp ủ.
                 Nước chảy như tình người đổi thay,
                 Róc ra róc rách không như cũ !
Lục Bát :
               Vắt ngang trong suối dòng khe,
               Mười hai năm trước ấp e hàm tình.
               Nước trôi nhân sự điêu linh,
               Chẳng còn róc rách hàm tình như xưa !

                                                     Đỗ Chiêu Đức

 

* Sau đây là bài Di Gia Biệt Hồ Thượng Đình 移家别湖上亭 của Nhung Dục 戎昱 đời Đường :


          好是春風湖上亭,     Hảo thị xuân phong hồ thượng đình,
          柳條藤蔓系離情。     Liễu điều đằng mạn hệ ly tình.
          黃鶯久住渾相識,     Hoang oanh trú cửu hồn tương thức,
          欲別頻啼四五聲。     Dục biệt tần đề tứ ngũ thinh.
 
CHÚ THÍCH :
     DI GIA : là Dời nhà, dọn nhà, đổi chỗ ở.
     BIỆT HỒ THƯỢNG ĐÌNH : Chia tay với cái đình ở trên hồ.
     ĐẰNG MẠN : là dây leo, dây chùm gởi.
     HỆ : là Trói, buộc, ràng buộc.
     HỒN 浑 : HỒN có 3 chấm Thủy, nghĩa gốc là NƯỚC ĐỤC. Nghĩa bóng là ĐẦN ĐỘN. Ở đây HỒN là TRẠNG TỪ nên có nghĩa là : Rất, cả thảy. 
     HỒN TƯƠNG THỨC : Rất là quen biết nhau.
     TẦN 频 : là Thường, là Liên Tục.
     TẦN ĐỀ : Hót liên tục.
 

DCD_ho.jpg


DIỄN NÔM :
              Gió xuân hây hẩy trước hồ đình,
              Cành liễu dây leo buộc lấy tình.
              Oanh vàng quen biết nên ly biệt,
              Hót liền mấy tiếng đoạn làm thinh !
   Lục bát :          
              Gió Xuân mát mẻ hồ đình,
              Dây leo nhành liễu buộc tình biệt ly !
              Oanh vàng quen biết từ khi...
              Chia tay hót tặng người đi mấy hồi !

                                                       Đỗ Chiêu Đức

 

             Cả hai bài thơ, cuối câu 2 và cuối câu 4 đều cùng gieo vần TÌNH 情 và THINH 聲 giống nhau, cùng sử dụng thủ pháp Nhân Cách Hoá sự vật giống nhau, cùng tả tình như nhau, nhưng mỗi bài lại nêu lên một tình huống trái ngược lẫn nhau; Tùng Thiện Vương cho là nước biết được nhân sự thay đổi cho nên cũng thay đổi tiếng róc rách khi chảy, còn Nhung Dục thì bảo là con chim oanh vì ở lâu nên như là rất thân thiết, cho nên khi sắp chia tay lại hót liên hồi như để tiễn biệt.

                      

5.
   聞蟬             Văn thiền


送君曾此地,    Tống quân tằng thử địa, 
一別忽經年。   Nhất biệt hốt kinh niên. 
愁殺長亭柳,   Sầu sát trường đình liễu, 
秋風起暮蟬。   Thu phong khởi mộ thiền.

                                    Tùng Thiện Vương - Miên Thẩm


CHÚ THÍCH :
 * Văn Thiền : Nghe tiếng Ve kêu.
 * Tằng : Từng, đã từng.
 * Sầu Sát : là Buồn thúi ruột, buồn muốn chết.
 * Mộ Thiền : Tiếng ve kêu trong buổi chiều tà.


 DIỄN NÔM :
                     Nghe Tiếng Ve Kêu


                   Nơi nầy từng đưa bạn,
                   Bỗng chốc đã tròn năm.
                   Buồn sao bờ dương liễu,
                   Ve sầu gió thu căm !
Lục Bát :
                   Tiễn người đi ở nơi đây,
            Biệt ly thoáng chốc đã đầy một năm.
                   Gió thu nổi lạnh căm căm,
            Trường đình vẳng tiếng ve ngâm chiều tà !

                                                            Đỗ Chiêu Đức

 

               Bài " Văn Thiền " của Tùng Thiện Vương lại là cho ta nhớ đến bài " Ỷ Hồ " của Thi Phật Vương Duy...

 

  * Sau đây là bài "Ỷ Hồ 欹湖" của Thi Phật Vương Duy 王維 đời Đường :


              吹簫凌極浦,    Xuy tiêu lăng cực phố,
              日暮送夫君。    Nhựt mộ tống phu quân. 
              湖上一回首,    Hồ thượng nhất hồi thủ,
              山青卷白雲。    Thanh sơn quyển bạch vân.


CHÚ THÍCH :
 * Lăng : là Lướt, là Vượt lên trên.
 * Cực Phố : Ở cuối bờ, cuối bãi.


DIỄN NÔM :
                     Thổi tiêu cuối tận bờ,
                     Tiễn chàng chiều ngẩn ngơ.
                     Bên hồ quay nhìn lại,
                     Núi xanh mây trắng mờ !
Lục Bát :
                Thổi tiêu vẳng tận bến bờ,

                Trời chiều lòng thiếp ngẩn ngơ tiễn chồng.
                Quay đầu lòng những bâng khuâng,
                Núi xanh quyện lấy bạch vân ngỡ ngàng !

                                                           Đỗ Chiêu Đức 

                     

 

DCD_Ho_2.jpg

 " Ôi, cảnh biệt ly sao mà buồn vậy !" Cả 2 bài thơ đều tả cảnh ly biệt của người vợ tiễn chồng. Một nàng đến nơi tiễn chồng hồi năm trước để chỉ còn thấy những cành liễu buồn nơi trường đình năm cũ và tiếng ve cuối mùa đang rít tàn hơi trong gió thu hiu hắt; còn một nàng thì thổi tiêu ra tận bờ hồ để tiễn chàng đi, nhưng khi người đà khuất bóng vẫn còn lưu luyến nhìn theo để chỉ còn thấy " Núi xanh quyện lấy bạch vân ngỡ ngàng " mà thôi !

        

6.
         夜泊月瓢                   Dạ bạc Nguyệt Biều

     竹陰涼處夜停船,   Trúc âm lương xứ dạ đình thuyền, 
     水月江風未忍眠。   Thuỷ nguyệt, giang phong, vị nhẫn miên, 
     隔岸鐘樓天姥寺,   Cách ngạn chung lâu Thiên Mụ tự, 
     聲聲捎破遠汀煙。   Thanh thanh sao phá viễn đinh yên.
                                                      Tùng Thiện Vương 
CHÚ THÍCH :
 * Nguyệt Biều : là một làng cổ thuộc phường Thuỷ Biều, nằm ở cửa ngõ phía Tây Nam của thành phố Huế, cách trung tâm thành phố Huế 7km. Phường Thuỷ Biều có ba mặt giáp sông Hương. Làng Nguyệt Biều xưa nổi tiếng về thi ca khoa bảng.

NGHĨA BÀI THƠ :

                              Đêm Đậu Thuyền ở Bến NGUYỆT BIỀU

          Dưới bóng tre yên lặng, ở nơi mát mẻ, chiếc thuyền đậu lúc ban đêm, Trăng dưới nước, gió trên sông, chưa đành ngủ, Bờ bên kia, có lầu chuông Thiên Mụ, Dội vang từng tiếng, phá tan làn khói ngoài xa, trên mặt sông.

DIỄN NÔM :
                    Dưới bóng mát tre đêm đu thuyn,
                     Gió trăng sông n
ước ng nào yên.
                     Cách b
Thiên M lu chuông vng,
                     Văng v
ng xua tan khói sóng thuyn !
L
c Bát :
                    D
ưới bóng tre, đêm đu thuyn,  
                    Trăng soi sông n
ước ng yên được nào.
                    Cách b
Thiên M chuông cao,
                    Ngân nga khói sóng tan vào h
ư không.
                                                                       Đỗ Chiêu Đức

                   DCD_ThienMu.jpg

                                      Cách b Thiên M chuông cao,         

* Bài thơ nầy của Tùng Thiện Vương lại làm ta nhớ đến bài "Phong Kiều Dạ Bạc" 楓橋夜泊 của Trương Kế 張繼 đời Đường :

DCD_nguyetlac.jpg

 


                 月落烏啼霜滿天,   Nguyệt lạc Ô đề sương mãn thiên
                 江楓漁火對愁眠。   Giang phong ngư hỏa đối sầu miên.
                 姑蘇城外寒山寺,   Cô Tô thành ngoại Hàn San Tự,
                 夜半鐘聲到客船。   Dạ bán chung thinh đáo khách thuyền.

 

DIỄN NÔM :
                     Trăng tà lạnh, tiếng quạ kêu sương xuống
                     Giấc sầu miên, sông vắng, đối lửa chài
                     Chùa Hàn San ngoại thành Cô Tô ấy
                     Nửa đêm buồn, chuông vẳng đến thuyền ai !

                                                                     Đỗ Chiêu Đức
Lục Bát :                      
                           Trăng tà, tiếng quạ kêu sương,
                     Lửa chài, cây bến, sầu vương giấc hồ.
                           Thuyền ai đậu bến Cô Tô,
                     Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San.

                                                                            Tản Đà

            Một người vì thuyền đậu dưới bóng tre, có trăng thanh gió mát mà không đành lòng ngủ đi trước cảnh trí hữu tình. Thức để ngắm nhìn và để đắm mình vào cảnh đẹp khi thêm vào đó là tiếng chuông của chùa Thiên Mụ bên kia sông ngân nga vang động làm lung linh và tan biến những làn khói sóng trên sông Hương thơ mộng... Còn một người vì ưu thời mẫn thế, nằm nhìn cây bến lửa chài mà sầu không chợp mắt để rồi lại chìm đắm vào tiếng chuông văng vẳng vọng từ chùa Hàn San ở ngoại thành Cô Tô mà viết nên một bài thơ tuyệt tác...
           Cả 2 bài thơ đều đề cập đến tiếng chuông một cách mầu nhiệm nên thơ, đã điểm xuyết chấm phá cho một bức tranh đêm  êm ả tuyệt đẹp trên bến sông với những làn khói sóng tan biến theo tiếng chuông chùa Thiên Mụ. Còn tiếng chuông kia vẳng đến lúc nửa đêm như vuốt ve như khuyên lơn an ủi giữa cảnh lửa chài hiu hắt, lúc trăng lặn qụa kêu sương xuống đầy trời dưới hàng phong lặng lẽ, xoa dịu thêm lòng người lữ thứ trong một đêm dài không sao chợp mắt....

 Lời Kết :

          Qua các so sánh nêu trên, ta thấy thi tài của Tùng Thiện Vương Miên Thẩm qủa không thua sút với các thi nhân nổi tiếng như Lý Bạch, Vương Duy, Trương Kế...dưới đời nhà Đường, chả trách vua Tự Đức đã dám cả quyết mà phê rằng :


                   "Văn như Siêu, Quát vô tiền Hán           文如超适無前漢,
                   Thi đáo Tùng, Tuy thất thịnh Đường"     詩到從绥失盛唐。

 

          Xin được nghiêng mình trước các bậc tiền nhân lỗi lạc trong đất nước có bốn ngàn năm văn hiến. Thiết nghĩ, nếu biết phát huy hết cái sức mạnh tiềm ẩn của dân tộc thì Việt Nam sẽ không thua một đất nước nào trên thế giới nầy cả !


                                                                                        Đỗ Chiêu Đức

                                                                                         Xuân 2018

__________________________________________________________________________________________________________________________________________________ 

       

MỘC là CÂY


       Theo âm dương ngũ hành thì Đông phương Giáp Ất Mộc. Nên hành Mộc thuộc hướng đông. Mộc 木 là tên gọi chung của tất cả cây cỏ lá hoa, nên ta lại có từ Thảo Mộc 草木 để chỉ chung cho các loài thực vật. Cỏ cây hoa lá sinh sôi nẩy nở được là nhờ ánh nắng của ba tháng mùa xuân, nên ông bà ta lại có câu :


                  Hướng dương hoa mộc tảo phùng xuân       向陽花木早逢春
Có nghĩa :
             Hoa cỏ nào hướng về ánh nắng mặt trời thì sẽ đón nhận mùa xuân sớm ngay từ ánh nắng ban đầu của mùa xuân !


     Mộc là Cây cỏ thực vật có hình dáng hẵn hoi, nên chữ Mộc cũng thuộc dạng chữ Tượng Hình theo diễn tiến của chữ viết như sau :

 

  Giáp Cốt Văn        Kim Văn           Đại Triện             Tiểu Triện          Lệ Thư

 

             dcd_mar24_5words.jpg 

Ta thấy :

    Từ Giáp Cốt Văn cho đến Kim Văn và Đại Triện đều là hình vẽ của một cây con có hai lá mầm đưa lên trên và hai nhánh rể ăn xuống dưới; cho đến Tiểu Triện thì các nét vẽ được nối lại cho liền lạc và khi đến chữ Lệ thì các nét đã được kéo thẳng ra thành các biểu tượng của chữ viết như ngày hôm nay : MỘC 木 là Cây Cối.


     MỘC 木 còn là Kiều Mộc 喬木 là loại cây có thân cao to thẳng đứng. Chương Chu Nam trong Kinh Thi có bài :
                        南有乔木,     Nam hữu kiều mộc,
                        不可休思.       Bất khả hưu tư.
Có nghĩa :
              Phía nam có cây kiều mộc, mà...
              Ta không thể nghỉ ngơi dưới cây nầy được !

 

      Kiều Mộc là cây cao bóng cả, tại sao lại không thể hóng mát dưới cây được ? À thì ra còn hai câu sau nữa :
                       漢有游女,     Hán hữu du nữ,
                       不可求思。     Bất khả cầu tư.
Có nghĩa :
           Bên dòng sông Hán có cô gái đang bơi lội trên đó, mà ta không thể cầu xin nhớ nhung được ( Ý nói : Không thể tỏ tình để yêu nàng được ).


     Xin được diễn Nôm bài Kinh Thi đó theo Ca dao của ta như sau :


                        Phía nam cao ngất có cây,
                 Ta không thể hóng mát ngay dưới tàn.
                        Bên sông Hán thủy có nàng,
                 Thầm thương trộm nhớ ai màng đến ta !

                          dcd_mar24_girl.jpg dcd_mar24_text2.jpg 

Người mà chàng yêu dấu, có thể gặp mà không thể cầu. Đối tượng mà chàng trai theo đuổi chẳng ở đâu xa, chỉ ở bên kia sông thôi, có thể nhìn thấy nàng nhưng không thể tiếp cận với nàng được, chỉ mãi mãi tương tư tưởng nhớ về nàng và biết sẽ mãi mãi không bao giờ có được nàng. Vì sao ? thì người đọc tự suy diễn và tự hiểu lấy !


       Ngoài Kiều Mộc 喬木 ra, ta còn có từ Cù Mộc 樛木, cũng là một loại cây to nhưng thân uốn lượn bên dưới thẳng bên trên, cành lá xum xuê như cây sồi, cây da... Chương Chu Nam Quốc Phong trong Kinh Thi cũng có bài :


                     南有樛木,    Nam hữu cù mộc, 
                     葛藟累之。    Cát lũy luy chi.
                     乐只君子,    Lạc chỉ quân tử,
                     福履绥之。    Phúc lý tuy chi.

 

Có nghĩa :
                     Phương nam cù mộc một cây,
                Kóc kèn bìm bịp mọc đầy leo quanh.
                     Vui thay quân tử chí thành,
                Trên hòa dưới thuận yên lành tề gia.


      Cù Mộc cũng là cây cao bóng cả, chỉ người chồng và vợ lớn, còn Cát Lũy 葛藟 là Dây sắn, dây bìm bịp, kóc kèn leo quanh cây Cù Mộc, được ví như vợ bé vợ mọn. Cô Kiều đã mượn ý nầy để ví với thân phận lẻ mọn của mình khi về với Thúc Sinh là :


                          Sắn Bìm chút phận con con,
                Khuôn duyên biết có vuông tròn cho chăng?

và...
       Khi khuyên Thúc Sinh về thăm Hoạn Thư là vợ cả, cô Kiều cũng đã biết thân biết phận của mình mà nói với Thúc đừng có :


                    Mặn tình Cát Lũy, nhạt tình tào khang.

 

      Trong đoạn kết của Truyện Kiều, cụ Nguyễn Du lại mượn hình tượng của cây Cù Mộc để ví với cái gia đình vinh hiển của Kim Trọng là :


                       Thừa gia chẳng hết nàng Vân
                    Một cây Cù-Mộc, một sân quế hòe, 


  
   Một sân Quế Hòe chỉ Thúy Vân sanh nhiều con trai và đều thành đạt.


     Trong Cung Oán Ngâm Khúc, Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều cũng cho nàng cung nữ ngao ngán cho cái thân phận phải chờ đợi của mình là :

 

                        Ngán thay cái én ba nghìn,
                  Một cây Cù-Mộc biết chen cành nào ?   
 

                                     dcd_mar24_tree_man.jpg dcd_mar24_text.jpg 

 Mộc 木 là Cây, nhưng song mộc liền nhau thì không phải là Cây nữa mà là LÂM 林 là Rừng, theo như câu nói của các ông Đồ Nho ngày xưa :


                  Song mộc thành lâm        雙木成林 
   và...
                  Tam mộc thành sâm        三木成森 
Có nghĩa :
             Ba cây chồng lên nhau là Rừng Rậm.


   Nên...
                 Độc mộc bất thành lâm      獨木不成林
Có nghĩa :
               Một cây thì không thành rừng được.


như ông bà ta đã nói :
                       Một cây làm chẳng nên non,
                  Ba cây chụm lại nên... hòn núi cao.

 

      Nhưng trong chữ Nho thì có tới.. 5 cây lận, 5 chữ Mộc ghép lại thành một Từ. Đó là từ :
SÂM LÂM 森林 : có nghĩa là Rừng Rậm âm u che khuất cả ánh sáng mặt trời, như câu hát mở đầu bài " Chiều Trong Rừng Thẳm " của tác giả Anh Việt :


                Trong rừng xa vắng âm u nhuộm ánh sương mờ...

                Tiếng gió rít lên . . . ngàn cây xác xơ...


làm cho tôi nhớ lại hồi nhỏ hay nghe các cô chú lớn tuổi hơn sửa lời hát lại thành :


                Cô mười cô chín hai cô anh muốn cô nào?
                Lén lén dắt đi... đừng cho má nó hay !...

 

      Mộc 木 là Cây, Nhưng nếu ghép với bộ Nhân 亻 là Người ở bên trái thì đọc là HƯU 休 theo phép Hội Ý là Người đứng hay ngồi dựa vào cây, nên có nghĩa là Nghỉ Ngơi. Từ đó ta có các nghĩa phát sinh là Hưu Trí, về Hưu, nghỉ Hưu ...

                           dcd_Mar24_moc.jpg 

 Mộc 木 là Cây, Nhưng nếu thêm một nét ngang ngắn phía trên để chỉ phần ngọn, thì đọc là VỊ 未, có nghĩa là CHƯA, chỉ phần cây còn chưa lớn. Vị Ngộ 未遇 là Chưa gặp, ý chỉ Chưa gặp thời, như một câu trong bài Kẻ Sĩ của Nguyễn Công Trứ là :


                               Lúc Vị Ngộ hối tàng nơi bồng tất
có nghĩa là :
        Khi chưa gặp thời còn ở ẩn trong gian nhà cỏ. Và ta lại nhớ đến câu thơ của La Ẩn là :


                 Ngã Vị công thành khanh Vị giá         我未功成卿未嫁
là....
                 Ta Chưa đậu đạt nàng Chưa gả !


       Nhưng nếu nét ngang ngắn nằm ở phía dưới nét ngang dài, thì ta có chữ MẠT 末, có nghĩa là Cuối, là Tận Cùng. Như Mạt Lộ 末路 là Cuối đường, là cùng đường. Anh Hùng Mạt Lộ 英雄末路 là Anh hùng đã đến bước đường cùng. Từ đó ta có các từ như Lê Mạt là Cuối đời Lê; Mạt Vận là Vận cùng, là Hết Thời rồi....

Và...
       Nếu trên đầu chữ MỘC 木 có thêm một nét phẩy về phía bên trái như một bông lúa trổ nặng oằn đầu xuống 禾, thì đọc là HÒA, có nghĩa là Cây Lúa, như ông bà xưa đã dạy :


                   Học giả như HÒA như đạo,         學者如禾如稻,
                   Bất học giả như cảo như thảo.   不學者如稿如草,
có nghĩa :
     Người có học thì như Cây Lúa, hạt lúa, còn...
     Người không có học thì như cọng rơm cọng cỏ.


    Cây lúa hạt lúa nuôi sống con người thì giá trị cao hơn là cọng cỏ cọng rơm chỉ nuôi sống có trâu bò mà thôi !

                    dcd_Mar24_6words.jpg


                                VỊ là Chưa           MẠT là Cuối                  HÒA là Cây Lúa

 

       Ngoài ra, nếu phía dưới phần rể của  Mộc 木 là Cây có thêm một nét ngang ngắn nữa, thì đọc là BỔN 本, có nghĩa là Cái Gốc cây, cái Cội Cây, như ông cha ta đã dạy :


                       MỘC BỔN Thủy Nguyên        木本水源
là...
                       Cây có cội, nước có nguồn.


       Nên BỔN hiểu rộng ra là cái nguồn gốc, cái Vốn Liếng lúc ban đầu. BỔN là Tiền vốn, nên khi khai trương buôn bán hay khi Tết nhứt, giới thương buôn hay chúc nhau câu :


                      Nhứt BỔN vạn lợi               一本萬利
có nghĩa :
      Một đồng vốn, một muôn ( mười ngàn ) đồng lời ! Quả là tham lam quá độ, trong khi người Việt Nam ta chỉ chúc nhau có :


                      Một đồng Vốn Bốn đồng lời ...  mà thôi !

 

     BỔN 本 là Vốn, cả đến khi dùng làm Phó Từ Bổn Lai 本來 cũng có nghĩa Vốn Dĩ, Vốn Là, như trong thành ngữ Bổn Lai Diện Mục 本來面目 : là Mặt Mũi Vốn Có, là Mặt mũi gốc, là Bộ mặt thật. Hai câu chót trong bài kệ : Bồ Đề bổn vô thọ, Minh kính diệc phi đài 菩提本無樹,明鏡亦非臺 của Lục Tổ Huệ Năng là:


                   BỔN LAI vô nhất vật,       本來無一物,
                   Hà xứ nhạ trần ai ?          何處惹塵埃 ?
Có nghĩa :

               Vốn dĩ không có vật gì cả, thì chỗ nào để mà nhuốm bụi trần đây ?


       Mộc là cây, nhưng Mộc Nhĩ 木耳 không phải là Lổ Tai Cây, mà là Nấm Mèo, một loại nấm có hình dạng giống như là Lổ Tai của con mèo. Cũng như Mộc Ngư 木魚 không phải là Con cá bằng cây, mà là cái Mỏ của các nhà sư dùng để gỏ lốc cốc khi tụng kinh niệm Phật. Và Mộc Kê 木雞 không phải là Con gà gỗ, mà là Hình Dung Từ chỉ sự Ngẩn Ngơ như con gà bằng gỗ, đứng Đực ra một chỗ. MỘC NGẪU 木偶 : là Hình Cây, là con rối, có nghĩa như là Bù Nhìn, thường dùng để chỉ người không linh động, phải giựt dây mới nhúc nhích ! Còn đối với dân bợm nhậu thì ta có từ Mộc Tồn. Mộc Tồn 木存 không phải chỉ Cây Còn mà là chỉ... Con Cầy, một loại chó nhỏ như con chồn thịt rất ngon, nhậu rất bắt.

Mộc là Cây, nhưng cây cũng dùng để xẻ thành ván, nên Mộc cũng có nghĩa là Ván, như trong thành ngữ Mộc Dĩ Thành Chu 木已成舟. Ta nói là Ván Đã Đóng Thuyền, như trong lời nói của Vương Viên Ngoại an ủi Kim Trọng khi chàng trở lại Vườn Thúy tìm Kiều :


                          Bây giờ Ván Đã Đóng Thuyền,
                   Đã đành phận bạc khôn đền tình chung.


      Nhưng cũng có những chiếc thuyền không cần phải đóng, chỉ khoét bọng thân cây lớn là ta đã có ngay một chiếc Thuyền Độc Mộc. Còn Cầu Độc Mộc thì chỉ cần một thân cây bắt ngang qua mương rạch là ta đã có ngay một Độc Mộc Kiều 獨木橋, với câu tục ngữ : " Anh đi đường cái quan của anh, còn tôi qua cầu độc mộc của tôi ".Ý chỉ việc ai nấy làm, không nên chen vào việc làm của người khác . Người Hoa nói là : Nễ tẩu nễ đích dương quan đạo, ngã qúa ngã đích độc mộc kiều 你走你的陽關道,我過我的獨木橋 ! Và như câu thơ đầu tiên của Thế Lữ trong bài Giây Phút Chạnh Lòng :

 

                        Anh đi đường anh, tôi đường tôi,

                        Tình nghĩa đôi ta có thế thôi !...

 

     Mộc còn là tên gọi chung cho Hoa Thảo Thọ Mộc 花草樹木, ta nói là Cỏ Cây Hoa Lá, là những thực vật khô héo úa tàn trong mùa đông lạnh lẽo, chỉ hồi sinh và sống lại trong ánh nắng ấm áp của mùa xuân mà thôi. Nên ông bà ta cũng thường nhắc nhở con cháu bằng câu :


                 Khô mộc phùng xuân do tái phát,      枯木逢春猶再發,
                 Nhân vô lưỡng độ tái thiếu niên.        人無兩度再少年。
Có nghĩa :
          Cây khô khi gặp mùa xuân còn tái phát để xanh tươi trở lại, chớ...
          Con người thì không có hai lần được trẻ lại bao giờ. Cho nên phải cố gắng mà trân trọng lấy tuổi xuân của mình để phát huy hết những ưu thế của tuổi hoa niên như bài thơ Vãn Xuân 晚春 của Hàn Dũ 韓愈 sau đây :


             草木知春不久歸,     Thảo mộc tri xuân bất cửu quy,
             百般紅紫鬥芳菲。     Bách ban hồng phấn đấu phương phi.
             楊花榆莢無才思,     Dương hoa du giáp vô tài tứ,
             惟解漫天作雪飛。     Duy giải mạn thiên tác tuyết phi.


Có nghĩa :

                   Cây cỏ biết xuân sắp " bái bai "(bye-bye).
                   Muôn hồng ngàn tía trổ khoe hay.
                   Vô tài nở trắng hoa dương liễu,
                   Chỉ biết đầy trời giả tuyết bay !


        Vãn Xuân 晚春 là xuân sắp tàn, nàng xuân sắp từ biệt để ra đi, nên tất cả các loài hoa đều cố gắng nở bung ra để khoe hết cái đẹp của mình trong mùa xuân; chỉ có du giáp ( như hoa lau của ta ) và dương liễu không có hương sắc gì đặc biệt, chỉ biết nở hoa trắng xóa để giả làm tuyết bay mỗi khi có cơn gió xuân thổi đến mà thôi ! Mùa xuân mà giả làm tuyết bay thật không hợp thời chút nào cả, nhưng khả năng chỉ có thế, và chỉ biết làm hết sức của mình mà thôi. Hàn Dũ muốn khuyên ta hãy cố gắng thi thố hết khả năng của mình để đừng uổng phí tuổi xuân, mặc dù cái năng lực của mình không bằng được người, không đáp ứng được thực tế trước mắt, nhưng ít ra cũng tạo được một cảm giác đẹp như hoa dương liễu giả tuyết bay trắng cả trời xuân. Còn hơn không có gì cả !

                   dcd_Mar24_duonglieu_tuyet.jpg 

                             Vô tài nở trắng hoa dương liễu,

                             Chỉ biết đầy trời giả tuyết bay !

 

          Mộc là Thảo Mộc 草木, là cây cỏ, tuy vô tri vô giác, mềm mại hiền lành, nhưng nếu ta biết khéo lợi dụng thì Cây Cỏ sẽ có sức mạnh còn hơn là thiên binh vạn mã nữa ! Xin mời đọc về tích của thành ngữ Thảo Mộc Giai Binh 草木皆兵 sau đây sẽ rõ :


          Công Nguyên năm 383, Tiền Tần Vương Phù Kiên sau khi thống nhất một dãy ven sông Hoàng Hà, định tập trung đủ 90 vạn quân sẽ đem quân đánh ụp tiêu diệt nước Đông Tấn, bèn phái em là Phù Dung làm tiên phong chiếm lấy thành Thọ Dương. Phù Dung đánh lấy thành một cách dễ dàng, biết Đông Tấn binh yếu lại thiếu lương thực, mới đề nghị với Phù Kiên nhanh chóng  đánh chiếm  Đông Tấn. Phù kiên không đợi binh lực tập trung đầy đủ, lập tức đem quân tấn công Đông Tấn ngay.
       Tướng Đông Tấn là Tạ Thạch biết được binh lực của Tần chưa tập trung đầy đủ, bèn dùng kế khích tướng  thách Phù Kiên nếu muốn phân cao thấp thì hãy lui binh một dặm, mình sẽ đem binh qua sông Phì Thủy quyết một trận hơn thua, bằng nếu sợ thua thì hãy đầu hàng ngay đi. Phù Kiên cả giận, định giả vờ lui binh, đợi cho binh Tấn qua sông nửa chừng sẽ quay lại đón đánh một trận cho tan tác binh nhung. Nào ngờ, lòng binh Tần đã chán nản vì chinh chiến lâu ngày, nay thấy sứ giả quân địch vừa rời trại thì chủ tướng bèn ra lịnh lui binh, nên lòng càng hoảng sợ mạnh ai nấy chạy người ngựa ngổn ngang dẫm đạp lên nhau hổn loạn thành một khối. Phù Kiên ra lệnh dừng lại thì đã không còn kịp nữa. Bên kia sông Tạ Thạch thấy thế bèn thừa cơ hạ lịnh quân sĩ cấp tốc sang sông truy sát. Quân Tần thấy quân Tấn qua sông ráo riết càng hoảng sợ hơn dẫm đạp lên nhau mà chạy trốn, đến nỗi nghe cơn gió thổi qua cây cỏ lào xào cũng tưởng là quân Tấn đã đuổi đến nơi rồi.  Sự kiện nầy đưa đến câu thành ngữ THẢO MỘC GIAI BINH
草木皆兵, có nghĩa : C cây cũng đều là binh lính cả ! Điều nầy làm ta nhớ lại đầu tháng 4 năm 1975 với DI TẢN CHIẾN THUẬT của Miền Nam, dân quân của Vùng 1 và Vùng 2 Chiến Thuật chỉ biết cắm đầu cắm cổ chạy trối chết, làm hỗn loạn cả Miền Trung, Cộng Sản Bắc Việt bất chiến tự nhiên thành, chiếm trọn Miền Trung một cách dễ dàng và uy hiếp Sài Gòn trong chớp mắt... 
        Còn trận đánh trên quân Tần cũng đại bại. Phù Dung chết trong đám loạn quân, còn Phù Kiên trúng tên bị thương may mà chạy thoát được. Sử gọi trận đánh nầy là PHÌ THỦY CHI CHIẾN
淝水之戰. 
         Tạ Thạch cũng như Cộng Sản Bắc Việt đã biết lợi dụng cái nhược điểm của kẻ địch để làm cái thuận lợi cho sự chiến thắng của mình, cũng như biết lợi dụng thời cơ biến cỏ cây hoa lá của núi rừng Tây Nguyên có sức mạnh như là thiên binh vạn mã vậy ! Âu cũng là cái khí số của quân dân Miền Nam đã đến hồi mạt vận, nên mới dẫn đến cái chiến thuật sai lầm làm cho Miền Nam chết một cách tức tưởi, và ngay cả cấp chỉ huy của Bắc Việt cũng không ngờ được là chiến thắng đến một cách nhanh chóng như thế.

                                    dcd_mar24_word_grp.jpg 

 Sang qua sử VN, chữ Mộc 木 còn làm cho ta nghĩ đến chữ LÊ 梨 là Cây Lê là Trái Lê, là chữ đồng âm với chữ Lê là họ LÊ 黎 trong bài Sấm trên cây Gạo làng Diên Uẩn như sau :


         Tương truyền, năm 1009, sau 73 năm tồn tại, cây gạo làng Diên Uẩn bị sét đánh nhưng không chết. Theo ghi chép của sử sách ( Việt Sử lược, Đại Việt Sử Ký toàn thư, Việt Sử tiêu án, Khâm định Việt Sử Thông Giám cương mục ), tại chỗ sét đánh trên thân cây có bài thơ sấm mà có ý kiến cho rằng tác giả chính là sư Vạn Hạnh. Bài sấm như sau :               

                    樹根杳杳      Thụ căn diểu diểu

                    木表青青      Mộc biểu thanh thanh

                    禾刀木落      Hòa đao mộc lạc

                    十八子成      Thập bát tử thành

                    東阿入地      Đông a nhập địa

                    木異再生      Mộc dị tái sinh

                    震宮見日      Chấn cung kiến nhật

                    兑宮隠星      Đoài cung ẩn tinh

                    六七年間      Lục thất niên gian

                    天下太平      Thiên hạ thái bình

Có nghĩa :

        "Thụ căn diểu diểu", chữ căn nghĩa là gc, gc tc là vua, ch diu đồng âm vi yu là Non nt, nên hiu là yếu. "Mc biu thanh thanh", ch biu là b ngoài, nghĩa là ngn, ngn tức là bề tôi, chữ thanh là Màu xanh, âm gn ging vi ch thnh nghĩa là thnh; Hòa, đao, mc, ghép li là ch Lê ; Thp, bát, t là ch Lý ; Đông A là ch Trn ; nhp địa là phương Bc vào cướp: "Mc d tái sinh" là h Lê khác li sinh ra. "Chn cung kiến nhật", chấn là phương Đông, kiến là mọc ra; nhật là thiên tử. "Đoài cung ẩn tinh", "đoài" là phương tây, "ẩn" cũng như lặn, "tinh" là sao, nghĩa là thứ dân. Mấy câu này ý nói là vua thì non yếu, bề tôi thì cường thịnh, họ Lê mất, họ Lý nổi lên, thiên tử ở phương đông mọc ra thì thứ nhân ở phương tây lặn mất, trải qua 6, 7 năm thì thiên hạ thái bình.

 Cách CHIẾT TỰ chơi chữ của bài thơ :

      Câu 3: chữ Hòa (禾) + bộ Đao (刂 ) + chữ Mộc (木) bên dưới, ghép lại thành chữ Lê (梨) là Trái Lê, đồng âm với chữ (黎) là họ LÊ. Câu 3 tiên đoán : Lưỡi đao mỏng như lá lúa đốn ngã cây, có nghĩa nhà Tiền Lê ( Lê Đại Hành ) sẽ mất.

      Câu 4: chữ Thập (十) + chữ Bát (八) thành chữ Mộc 木, + chữ Tử (子) bên dưới thành chữ Lý (李). Câu 4 tiên đoán nhà Lý sẽ lên thay nhà Lê.

      Câu 5: chữ Đông (東) ghép với chữ A (阿) thành chữ Trần (陳). Câu 5 tiên đoán họ Trần vào nước Việt làm vua.

      Câu 6: cây khác lại sinh. Sấm ra đời thời Lê. Cây lê khác lại sinh, tiên đoán nhà Hậu Lê ( Lê Lợi ) kế tục nhà Trần.

      Câu 7: phương Đông có mặt trời, ứng vào nhà Mạc khởi xuất từ phía Đông (Hải Dương) thay nhà Hậu Lê.

      Câu 8: sao ẩn mình phía tây. Có các ý kiến khác nhau về câu này. Có ý kiến cho rằng câu này chỉ chúa Trịnh đóng phủ ở phía Tây kinh thành Thăng Long, " ẩn mình " là không ra mặt xưng vua nhưng lại nắm thực quyền hơn vua. Có ý kiến cho rằng " phía Tây " trong câu 8 là ám chỉ nhà Tây Sơn.

     Câu 9 và câu 10: Có ý kiến cho rằng " lục thất " chỉ nhà Nguyễn, triều đại cuối cùng của Việt Nam. Nhưng cũng có ý kiến cho rằng chưa có lời giải đáp cụ thể cho 2 câu này.

         Tổng quát, bài thơ được giải mã mang nội dung tiên đoán việc nhà Lý nối nghiệp nhà Tiền Lê, cũng như tên các triều đại kế tục tiếp theo trong lịch sử Việt Nam suốt từ thế kỷ 11 đến thế kỷ 20, từ khi nhà nước Phong kiến trung ương tập quyền ở Việt Nam hình thành ổn định tới khi kết thúc thời phong kiến.

         Điều đáng lưu ý là Việt sử lược ra đời thời Trần nhưng không chép 2 câu: "Đông a nhập địa, Mộc dị tái sinh" liên quan tới chính nhà Trần và nhà Hậu Lê. Các nhà nghiên cứu căn cứ vào đây mà cho rằng :
         Bài sấm này được Vạn Hạnh Thiền Sư làm ra để tạo dư luận cho Lý Công Uẩn lên ngôi một cách thuận lợi theo ý trời.

         Hai câu này do người đời sau (Trần, Hậu Lê) sáng tác xen thêm vào cho đủ các đời vua từ Ngô, Đinh, rồi đến LÊ ( tiền ), LÝ, TRẦN, LÊ ( hậu ), còn Tây Sơn và Nguyễn thì hãy còn mơ hồ.

          dcd_mar24_TSVanHanh.jpg         

 

         Mộc 木 là một trong Ngũ hành 五行 : Kim, MỘC, Thủy, Hỏa, Thổ, theo Kinh Dịch là 5 tố chất tạo nên tất cả mọi sự vật trong vũ trụ nầy. Như Mộc Vương 木王 là Vua Cây, ý chỉ trong mùa Xuân thì lấy cây cỏ làm chủ tể tượng trưng cho sức sống đang hồi sinh một cách mãnh liệt. Mộc Hành 木行, ta nói là Hành Mộc, chỉ Mộc Đức là cái đức của mùa xuân, của trời đất cho cây cối đâm chồi nẩy lộc. Mộc Khí 木气 là cái hơi hám, mùi hương của cỏ cây hoa lá, là cái Can Khí 肝气 điều hòa trong lá gan của con người. Mộc Tinh 木星 là Sao Mộc, theo chiêm tinh học thì đây là vì sao may mắn cho ai có lưu tinh là Mộc Tinh trong năm. Bài vị cúng sao trong ngày vía Ngọc Hoàng của mồng 9 Tết hằng năm ghi : Đông phương Giáp Ất Mộc Đức Tinh quân chi vị 東方甲乙木德星君之位. Khác với... 

        Mộc Tinh trong Thái Dương Hệ hiện nay là Jupiter, đứng ngôi thứ 5 và là một hành tinh lớn nhất trong Thái Dương Hệ, lớn hơn cả Địa Cầu có màu xanh của cây cỏ.

                  DCD_MAR24_MOCtINHtHAIdUONGhE.jpg 

               Mộc Tinh 木星 trong Thái Dương Hệ là Jupiter

 

         Ngoài nghĩa là cây, Mộc 木 còn có nghĩa là LÁ, như trong thành ngữ Mộc Lạc Quy Bổn 木落歸本. Có nghĩa như là Diệp Lạc Quy Căn 葉落歸根, ta nói là Lá Rụng Về Cội. Hay như 2 câu trong bài thơ Đăng Cao của Đỗ Phủ là :


                 無邊落木蕭蕭下,       Vô biên lạc mộc tiêu tiêu hạ,
                不盡長江滾滾來。      Bất tận Trường Giang cổn cổn lai.
Có nghĩa :
                      Rạt rào lá đổ bên trời thẳm,
                     Cuồn cuộn Trường Giang nước chảy dài !

 

     Hay như 2 câu đầu trong bài Tảo Hàn Giang Thượng Hữu Hoài của Mạnh Hạo Nhiên :

 

                  木落雁南渡,      Mộc lạc nhạn nam độ,

                  北風江上寒.      Bắc phong giang thượng hàn.

Có nghĩa :

                  Lá rụng nhạn xuôi nam,

                  Trên sông gió bấc tràn.

 Mộc là Cây, mà cây hiện diện trong tất cả các mặt của đời sống, từ cây ngô, cây khoai, cây lúa cho gạo thóc để nuôi sống con người , cho đến nhà cửa vật dụng chung quanh đời sống nhất nhất đều bằng... Mộc, như muổng, đủa, bàn, ghế, tủ, giường, phòng ôc ... kể cả cỏ cây hoa lá để điểm tô làm đẹp thêm cho đời sống con người đngều có gốc... Mộc cả ! Ngạn ngữ Trung Hoa xưa có câu :


                 Nhất niên thọ đạo,       一年樹稻,
                 Thập niên thọ mộc,      十年樹木,
                 Bách niên thọ nhơn.     百年樹人!
Có nghĩa :
              - Vì lợi ích trong một năm thì trồng lúa,
              - Vì lợi ích của mười năm thì trồng cây,
              - Vì lợi ích của trăm năm thì phải đào tạo con người !

                                  DCD_MAR24_lastpic.jpg 

                 Đời sống của con người không thể rời xa chữ Mộc được, kể cả khi chết đi rồi vẫn còn phải nằm trong Quan Mộc 棺木, mà ta quen gọi là Quan Tài 棺材, là cái hòm đựng thây người chết ! Nhớ khi xưa, các danh hài Tùng Lâm và Phi Thoàng đã từng đố nhau : Trên Mộc dưới Thổ là ...  Cái Quan tài chưa chôn, trên Thổ dưới Mộc là ... Cái quan tài đã chôn rồi và câu đố hóc búa là : Trên Thổ giữa Mộc dưới Thổ là... " Thằng Thổ mang guốc " !

 

        Người xưa để lại 4 chữ " Cái Quan Luận Định 蓋棺論定 " ý nói : Khi nắp quan tài đã đóng lại rồi thì mới biết chắc chắn con người đó là như thế nào, mới luận định một cách chính xác thị, phi, thành, bại, hơn thua, anh hùng hay tiểu nhân, có công hay có tội... Nắp quan tài chưa đóng thì còn chưa biết ai như thế nào và ai đã hơn ai !?

 

       Xin được khép lại bài phiếm " Mộc là Cây " ở đây khi... nắp quan tài còn chưa khép lại và mùa xuân chỉ mới bắt đầu mang sức sống mới đến với tất cả hoa lá cỏ cây !

 

Đỗ Chiêu Đức____________________________

Phiếm về...

               TUẤT CHÓ CẨU KHUYỂN 

                      dcd_2018dog.jpg
     

 

       Tuất là ngôi thứ mười một của Địa Chi, cầm tinh con Chó, mà chó thì chữ Nho gọi là Cẩu, mà chữ cẩu lại nằm trong bộ Khuyển, và năm khuyển lại là năm Tuất. Cứ thế, vòng vòng trở lại cắn đuôi con ... khuyển. Năm Tuất nói chuyên con CHÓ, con CẨU, con KHUYỂN là nói chuyện bao đồng về con vật bốn chân nầy để nghe chơi đỡ buồn khi trà dư tửu hậu.

        KHUYỂN là một trong 214 bộ của CHỮ NHO ... DỄ HỌC theo diễn tiến của chữ viết như sau :

    Giáp Cốt Văn  Kim Văn     Đại Triện     Tiểu Triện    Lệ Thư    

       

dcd_cauwords.jpg

 Ta thấy :

       Giáp Cốt Văn là hình tượng của con chó được nhìn từ góc độ sau ra trước, đuôi chó cong lên đang cất cao đầu vểnh hai tai như đang sủa trăng, đến Kim Văn ( Chung Đỉnh Văn ) thì mình chó được đơn giản hóa bằng một nét vẽ hót vào như ... bụng chó, đến Đại Triện thì các nét  được viết bằng nhau. Tiểu Triện thì nét chữ đã thành hình bằng các nét biểu tượng và đến chữ Lệ ở cuối đời Tần thì các nét chữ đã được kéo thẳng ra như chữ viết hiện tại 犬.

      KHUYỂN 犬 là Chó nói chung, con vật bốn chân được thuần hóa rất sớm, cùng với con ngựa thành một cặp Khuyển Mã 犬馬, cùng sống chung và cùng tiến hóa với con người.

      Bộ Khuyển 犬 khi ghép với các bộ khác để tạo chữ mới (18 chữ), thường  được đặt nằm bên tay phải, như chữ  THÚ 獸 là từ chỉ chung các con vật bốn chân. Ta có thành ngữ Phi Cầm Tẩu Thú 飛禽走獸 có nghĩa : Loài chim thì bay loài thú thì chạy. Nhưng ...

      Thường thì bộ Khuyển 犬 được đặt nằm bên phía trái của chữ ( khoảng 198 chữ ) và được viết cách điệu 犬 thành 犭để viết cho nhanh và chữ được ghép sẽ đẹp hơn, tiêu biểu là chữ CẨU 狗.

      CẨU 狗 nguyên nghĩa là Con Chó Nhỏ, thường dùng trong văn nói, sau thông dụng với KHUYỂN, rồi tùy theo tập quán của từng vùng quen sử dụng CẨU hay KHUYỂN mà ta có các từ như : Liệp Cẩu 獵狗 là Chó Săn, Tẩu Cẩu 走狗 là Làm Tay Sai cho ai đó, Cảnh Khuyển警犬 là Chó Cảnh Sát, Quân Khuyển 軍犬 là Chó Quân Đội ...

                        Năm nay 2018, Thiên Can nhằm ngôi thứ 5 là chữ Mậu, hợp với Địa Chi ngôi thứ 11 là Tuất, nên ta có năm MẬU TUẤT 戊戌. Mậu Kỷ thuộc Thổ, biểu tượng là màu Vàng. Con chó mà màu vàng dân Nam Kỳ Lục Tỉnh chúng tôi gọi nó là con Phèn, có thể là do những vùng đất mới khai phá khi nước rút đi còn để lại một lớp bùn màu vàng đậm, bà con ta gọi là đất phèn. Phải qua vài mùa nước chắc cho sạch phèn thì đất mới trồng tỉa được. Đời sống của dân miệt vườn miệt ruộng luôn gắn liền với các con Phèn, con Mực, con Vện, con Vá ... mà người nước ngoài học nói tiếng Việt luôn đau đầu vì các tên gọi nầy ...

      Con chó màu vàng thì gọi là con Phèn, màu đen thì gọi là con Mực, có sọc vằn vện đen trắng lẫn lộn thì gọi là con Vện, có đốm đen đốm trắng thì gọi là con Vá, và nếu toàn một màu trắng thì gọi là con Chó Cò như các câu vè về 12 con giáp :

 

                       Tuổi Tuất là con Chó Cò,

                 Nằm khoanh trong lò lổ mũi lọ lem.

 

      Theo Tử vi Đẩu số thì con chó hợp với con ngựa con cọp thành một bộ Dần Ngọ Tuất tam hạp. Chó và Ngựa hợp nhau vì cùng tiến hóa với con người, chớ Cọp thì làm sao mà hợp cho được. Chúa sơn lâm chỉ cần gầm lên một tiếng là chó và ngựa qụy xuống không còn chạy nổi nữa ! Trừ phi nó là con cọp ... lạc đường đi xuống đồng bằng như câu ông bà ta thường nói :

            Hổ lạc bình dương bị khuyển khi   虎落平陽被犬欺

Có nghĩa :

       Cọp mà đi lạc xuống đồng bằng thì cũng bị chó khinh khi, dễ ngươi, như anh hùng thất thế bị kẻ tiểu nhân khi dễ vậy. 

                 Tứ Hành Xung thì có Thìn Tuất Sửu Mùi, bốn cung nầy đều thuộc thổ và đều ở trung ương. Mậu Kỷ cũng thuộc thổ ở trung ương, nên Năm Mậu Tuất 2018 nầy là con chó hoàn toàn bằng đất, đất cả Thiên can lẫn Địa chi. Bản thân con chó đất đã khó bảo toàn còn mong gì phù hộ giúp đỡ cho ai được nữa ! Tháng Tuất là Tháng 9 âm lịch trong năm, người Quảng Đông phát âm Cửu và Cẩu giống nhau, nên họ gọi tháng 9 là tháng Chó, là tháng bắt đầu ăn thịt chó cho ấm vì trời đã cuối thu sắp sang đông.  Nhớ khi xưa trên đường Nhân Vị ( sau 1963 đổi thành Trần Hoàng Quân, sau 1975 đổi thành Nguyễn Chí Thanh ) đoạn bên hông nhà thương Chợ Rẩy bên kia đường Quận 11 là các quán lề đường bán thịt chó ngon nổi tiếng Sài Gòn Chợ Lớn với chiêu bày " Hương Nhục 香肉 " là Thịt Thơm. Theo giới ăn nhậu thì thịt chó dính răng của đêm trước, sáng hôm sau xiả ra miếng thịt vẫn còn thơm ! Thật vậy, hễ đèn đường nổi lên là cả khu vực nầy bát ngát mùi Hương Nhục mà không cần phải có :

 

                    Con chó khóc đứng khóc ngồi 
                    Bà ơi đi chợ mua tôi đồng riềng... gì cả !

 

       Còn giờ Tuất là từ 7 đến 9 giờ tối, giờ của cuối canh một, là giờ của anh chàng họ Sở hẹn với Thúy Kiều " Ba mươi sáu chước chước gì là hơn ? " để bỏ trốn khỏi lầu xanh bằng một bức tiên mai, với rành rành TÍCH VIỆT có hai chữ đề. Cô Kiều đã qúa thông minh nên mắc bẫy :

                        Lấy trong ý tứ mà suy.

               Ngày hai mươi mốt Tuất Thì phải chăng ?

Vì 2 chữ TÍCH VIỆT 昔越 chiết tự ra thành 廿一日走戌 trấp nhất nhựt tẩu tuất. Có nghĩa : Ngày hai mươi mốt sẽ bỏ trốn vào giờ Tuất.


       Trong " Lục Súc Tranh Công " giữa trâu, chó, ngựa, dê, gà, lợn thì con chó cũng đã kể lể rằng :

 

        .... Đêm năm canh, con mắt như chong, 
             Đứa đạo tặc nép oai khủng động. 
             Ngày sáu khắc, lỗ tai bằng trống, 
             Đứa gian tham thấy bóng cũng kinh.

             Lại đến ngày kỵ lạp tiên sinh,
             Cũng ra sức săn chồn, đuổi sóc.
             Bao quản chui gai, lước góc,
             Chi này múa mỏ, lòn hang....

      Rất thực tế, toàn là những việc tầm thường chung quanh cuộc sống với con người : Canh nhà giữ cửa, đề phòng kẻ gian trôm cắp, chui gai lướt góc, đuổi sóc săn chồn ... không có thành tích chiến công to lớn như những con vật khác, nhưng con chó rất thân mật. sát sao và gần guĩ với con người, nhất là lòng trung thành của chó với chủ nhà thì không có con vật nào dám so bì cả, kể cả con ... người, có lắm người lòng trung thành cũng không bằng được chó !  Thế nên, thành ngữ đầu tiên ca ngợi chó là bốn chữ Trung Trinh Bất Nhị 忠貞不二, Có nghĩa là Lòng trung thành của chó luôn luôn bền vững, không có hai lòng, dù cho có xa cách bao nhiêu năm trường, khi gặp lại chủ cũ, con chó vẫn còn nhớ để vẩy đuôi chào mừng như thường. Có rất nhiều truyện kể cả Đông lẫn Tây, khi chủ chết đi, chỉ có con chó là còn quanh quẩn chung quanh mộ của chủ, và lắm con còn nằm chết luôn bên mộ chủ nữa mới thật là cảm động !

  dcd_trungtrinhbatnhi.jpg                 

      Trung Trinh Bất Nhị

 

      Một lòng với chủ, theo chủ hết lòng, nên ta còn có thành ngữ : Kiệt Khuyển Phệ Nghiêu 桀犬吠堯. Có nghĩa : Con chó của vua Kiệt sủa vua Nghiêu. Kiệt là hôn quân bạo chúa của đời nhà Hạ; Nghiêu là một minh quân nhân đức của đời cổ đại. Thành ngữ nầy có xuất xứ từ Chiến Quốc Sách, chỉ nêu lên lòng trung thành của chó luôn luôn hết lòng vì chủ, không cần biết đến việc chủ tốt hay là xấu, chỉ biết một mực trung thành với chủ, cũng như những người luôn đi theo ca ngợi Tổng thống Donald Trump vậy, chỉ biết có ông Trump là số một mà thôi ! Theo Chiến Quốc Sách ...

         Vào thời vua Cảnh Đế đời Tây Hán, có danh sĩ giỏi mưu lược là Trâu Dương, theo về và làm việc dưới trướng của Ngô Vương Lưu Tị. Sau Lưu Tị định làm phản, Trâu Dương nhiều lần can gián, nhưng Tị vẫn không nghe, Dương bèn bỏ Tị theo về với Lương Hiếu Vương Lưu Võ. Mưu thần tâm phúc của Lưu Võ là Công Tôn Ngụy có lòng đố kỵ Trâu Dương, bèn đem việc trước đây Dương theo Ngô Vương định làm phản nói cho Hiếu Vương nghe. Vương giận, nên bắt Trâu Dương giam vào ngục, định sẽ xử tử hình. Trong ngục, Trâu Dương viết một bức thơ nổi tiếng để lại trong văn học, đó là " NGỤC TRUNG THƯỢNG LƯƠNG VƯƠNG THƯ 獄中上梁王書 " Có nghĩa : Thơ viết trong ngục gởi đến Lương Vương. Nôi dung bức thơ nêu ra rất nhiều nhân vật lịch sử bị nghi oan, thậm chí bị bức hại đến chết trong ngục tối, thực ra họ đều là những trung thần liệt sĩ. Cuối thơ, ông nêu lên câu " Kiệt Khuyển Phệ Nghiêu 桀犬吠堯 " với hàm ý : Ai vì chúa nấy, lúc đó tôi đang theo phò Ngô Vương, nên phải hết lòng với Ngô Vương mà bài bác ông, bây giờ tôi theo về với ông rồi thì tôi cũng sẽ hết lòng với ông mà thôi ! Trước đây tôi " sủa " ông, bây giờ  tôi sẽ " sủa " người khác. OK !

     dcd_trietkhuyenphephieu.jpg       


    Kiệt Khuyển Phệ Nghiêu

 

       Một con chó nữa rất nổi tiếng trong văn chương, đó là con chó xanh trong thành ngữ BẠCH Y THƯƠNG CẨU 白衣蒼狗. Có nghĩa là Áo Trắng Chó Xanh. Theo tích sau đây :

       Thư sinh Vương Qúy Hữu đời Đường , có vợ là Liễu Thị, gia cảnh cơ hàn, nên vợ chồng rau cháo có nhau. Sau vì qúa nghèo túng bửa đói bửa no, nên Liễu Thị mới bỏ chồng mà đi. Bà con lối xóm đều không biết nội tình, ngỡ là Vương Qúy Hữu đuổi vợ đi, nên xúm nhau trách móc chàng. Nhà thơ Đỗ Phủ thấy vậy mới làm một bài Thất ngôn trường thiên minh oan cho Vương, gọi là " Khả Thán Thi 可嘆詩, có nghĩa : Bài thơ đáng Than Thở , nói lên sự đời, tình đời hay đổi thay, biến ảo khôn lường. Mở đầu bài thơ là 4 câu :

 

            天上浮云似白衣,    Thiên thượng phù vân tự bạch y,

            斯须改变如苍狗。  Tư tu cải biến như thương cẩu.

            古往今来共一时,  Cổ vãng kim lai cộng nhất thì,

            人生万事无不有 !   Nhân sinh vạn sự vô bất hữu !

Có nghĩa :

         Đám mây nổi ở trên trời tựa như là tà áo trắng,

         Chỉ trong phút chốc đã biến thành con chó màu xanh.

         Từ xưa đến nay cũng đều giống như thế cả,

         Muôn việc trên đời không có gì là không có cả !

 

     Hai câu thơ đầu đã được Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều mượn để diễn ý trong Cung Oán Ngâm Khúc rất hay là :

                       Lò cừ nung nấu sự đời,

            Bức tranh vân cẩu vẽ người tang thương !

                Thành ngữ trên có thể nói trại đi thành BẠCH VÂN THƯƠNG CẨU hay Thương Cẩu Bạch Y gì cũng được.

            dcd_bachythiencau.jpg

        Trong văn chương ta còn thấy một cái ... đuôi chó nữa, đó là câu Cẩu Vĩ Tục Điêu 狗尾續貂. Có nghĩa là lấy đuôi của con chó nối thay cho đuôi của con điêu. Điêu 貂 là một loài chồn sóc, to như con rái cá, lông đuôi dài màu vàng có khoan đen rất đẹp. Xưa kiểu phục sức của nhà Hán, mũ của các quan Thị-trung thường-thị hầu cạnh bên vua đều cắm đuôi con điêu, đúc con ve vàng đeo vào cho đẹp, vì thế gọi các kẻ quyền quý là "nhị điêu" , hoạn quan gọi là "điêu đang" . Thành ngữ Cẩu Vĩ Tục Điêu 狗尾續貂 có tích như sau :

        Sau khi Tấn Võ Đế Tư Mã Viêm chết, con trai là Tư Mã Trung nối ngôi là Tấn Huệ Đế. Huệ Đế bất tài, lại không rành việc triều chính, nên tất cả quyền hành đều lọt vào tay của Giả Hậu. Giả Hậu lại tính tình rất hung ác nham hiễm, nên Triệu Vương Tư Mã Luân mượn cớ nầy đem quân vào cung giết Giả Hậu, rồi tự phong mình làm tướng quốc. Vì muốn mua chuộc triều thần để mở rộng thế lực của mình, cho nên Tư Mã Luân phong quan tước bừa bãi, cả những  đứa trẻ 12, 13 tuổi cũng  được phong Hầu Tước. Khi vây cánh đã vững, bèn phế Huệ Đế đi để xoán ngôi vua. Theo quy định lúc bấy giờ, các vương công đại thần đội mão đều được trang sức bằng đuôi của con điêu. Nhưng vì Tư Mã Luân phong quan tước quá nhiều, nên không đủ đuôi điêu để làm mão, phải dùng đở đuôi chó để thêm vào, nên dân gian mới có câu vè nhạo rằng :" Điêu bất túc, cẩu vĩ tục 貂不足,狗尾续 ". Có nghĩa : Đuôi điêu không đủ, nên lấy đuôi chó nối vào. Vì thế thành ngữ Cẩu Vĩ Tục Điêu 狗尾續貂 có nghĩa là lấy tạm đồ dõm,đồ hạng hai để thay cho đồ tốt, đồ hạng nhất. Dùng rộng ra là đem cái dở mà nối liền với cái hay, như cô Kiều đã rất khiêm nhường nói với Thúc Sinh, khi Thúc sinh làm thơ vịnh cô đang tắm là :

                        Hay hèn ví cũng nối ĐIÊU,

                  Nỗi quê nghĩ một hai điều ngang ngang.

và vì ...

                        Lòng còn gởi áng mây vàng,

nên ...         Họa vần xin hãy chịu chàng hôm nay !

 

       Còn một con chó nổi tiếng trong Truyện Phong Thần là con HẠO THIÊN KHUYỂN 昊天犬 của Nhị Lang Thần Dương Tiễn. Theo sách Sưu Thần Ký 搜神记 thì ...

       Hạo Thiên Khuyển là một con chó nhỏ truyền kỳ của dân gian, lang thang kiếm ăn, bửa đói bửa no, chẳng những bị người đời đánh đuổi, mà còn lo sợ bị chó sói xé thịt. May sao mỗi lần gặp nạn đều được Nhị Lang Thần Dương Tiễn lúc bấy giờ là một tiểu đạo đang tu tập cứu giúp. Nói cũng lạ qua ba lần gặp nạn, con chó nhỏ nầy đều được Dương Tiễn cứu giúp kịp thời, nên Dương nghĩ rằng chắc nó có duyên với mình, mới dạy cho nó cách tu luyện và dẫn theo bên mình. Đến khi viên mãn thì cả chó lẫn người đều tu thành chánh qủa. Chiến công hiển hách của Hạo Thiên Khuyển được nhắc đến 2 lần trong Tây Du Ký, Lần thứ nhất là Hồi thứ Sáu khi Tôn Ngộ Không đại náo Thiên cung đánh với Nhị Lang Thần, Hạo Thiên Khuyển đã nhảy đến cắn vào bắp chuối làm cho con khỉ đá phải té nhào. Lần thứ hai là Hồi thứ 36 khi đánh với Cửu Đầu Trùng. Khi Cửu Đầu Trùng bay đến, áp sát mình Nhị Lang Thần, bên hông bỗng nhiên lại mọc ra thêm một cái đầu nữa định cắn Dương Tiễn. Hạo Thiên Khuyển vội vàng nhanh nhẹn phóng lên, sủa " Gâu " một tiếng, cắn đầu của con quái thú rơi xuống đất.

 

           dcd_DuongTien.jpg         

           Tượng  Dương Tiễn và Tạo hình trong Điện Ảnh

 

       Cũng cái con Hạo Thiên Khuyển nầy không chịu yên phận ở trên trời, nên có một lần trốn xuống trần gian để tác yêu tác quái. Lúc đó Lữ Động Tân, một trong Bát Tiên ở núi Bồng Lai, chỉ mới bắt đầu tu đạo, phụng mệnh dùng pháp bảo Bố Họa hồ lô đi thu phục. Khi Hạo Thiên Khuyển đã bị nhốt trong hồ lô rồi, Lữ Động Tân lại động lòng nhân đạo, sợ con chó trong hồ lô sẽ bị đốt thành tro bụi tội nghiệp, nên mới thiện tiện mở nút hồ lô thả nó ra. Không ngờ, vừa ra khỏi hồ lô, Hạo Thiên Khuyển quay đầu cắn cho Lữ Động Tân một phát rồi chạy tuốt. Vì vậy, nên ta lại có thêm một thành ngữ còn thông dụng đến hiện nay Là : CẨU GIẢO LỮ ĐỘNG TÂN, BẤT THỨC HẢO NHÂN TÂM 狗咬呂洞賓, 不識好人心。Có nghĩa : Chó cắn Lữ Động Tân, không biết là người có lòng tốt. Câu nầy thường chỉ được sử dụng có một vế đầu là Cẩu Giảo Lữ Đông Tân, có nghĩa giống như là " Làm ơn mắc oán " của ta vậy !

        Tích trên có xuất xứ từ Hồi 83 & 84 trong quyển truyện Thần thoại Trung Hoa " Bát Tiên Đắc Đạo Truyện 八仙得道傳 " hoặc Đông Du Bát Tiên 東遊八仙 ".

   dcd_caugiaoLudongtan.jpg           


 Cẩu giảo Lữ Động Tân, bất thức hảo nhân tâm 

    

      Chó hay sủa và hay cắn người. Mặc dù người dân Lục Tỉnh có câu " Chó sủa chó cắn ai !", ý nói : Chó chỉ sủa để " hù " người ta mà thôi chớ ít khi cắn ai lắm. Nói thì nói thế, chớ khi thấy con chó sủa quấu quấu, chòm tới nhe nanh múa vút thì ai cũng ... ớn cả, lở mà nó cắn cho một phát thì phải chích ... 60 mũi thuốc ngừa chó dại vào bụng. Nên đi đường mà gặp chó thì ai cũng " ngán " cả, nhất là giới ăn xin ăn mày, chẳng những sợ chó cắn mà còn sợ chó dành cả những thức ăn mà mình xin được trong ... miểng vùa. Vì thế mà trong tất cả những truyện võ hiệp của Kim Dung, ta thấy giới Cái Bang thường có cây gậy đánh chó, gọi là Đả Cẩu Bổng và Đả Cẩu Bổng Pháp là một môn võ công thượng thừa của Bang chủ Hồng Thất Công, một trong Võ Lâm Ngũ Bá, chẳng những dùng để đánh chó mà còn dùng để đánh cả những người xấu ... hơn chó nữa, lại có cả một Đả Cẩu Trận Pháp hẵn hoi. Các chiêu thức của Đả Cẩu Bổng Pháp thường đều có kèm theo một chữ Cẩu hay chữ Khuyển, như :

   * Ác cẩu lan lộ 惡狗攔路 : là Chó dữ chặn đường.
   * Bổng đả song khuyển 棒打雙犬 : là Gậy đánh hai con chó.
   * Bổng đả cẩu thủ 棒打狗首 : là Dùng gậy đánh vào đầu chó.
   * Tà đả cẩu bối 斜打狗背 : là Đánh xéo vào vai chó.

   * Thiên hạ vô cẩu 天下無狗 : là Thiên hạ không còn chó nữa.

      v.v... và... v.v.... Tất cả gồm 36 đường, xin tham khảo thêm trên web : CLB Vovinam Nguyễn Văn Cưng. Những Tuyệt Chiêu Của Đả Cẩu Bổng Pháp.
 

 dcd_HoangDung.jpg           


  Nữ hiệp Hoàng Dung với Đả Cẩu Bổng
 

     Thành ngữ tục ngữ về chó thì thật nhiều, như năm con Gà vừa qua, ta đã biết qua thành ngữ Kê Minh Cẩu Đạo 雞鳴狗盜 là Gà gáy chó trộm để chỉ những tên " Đầu trộm đuôi cướp ". Thành ngữ liên quan tới chó mà Hoa Việt gì đều thông dụng cả là : 

   * Đả cẩu khán chủ 打狗看主 ta nói là : Đánh chó kiên chủ nhà. 

   * Cẩu trệ bất như 狗彘不如 ta nói là : Không bằng heo chó, người Miền Bắc nói là : Không bằng chó lợn. Trệ 彘 là con heo nái, người Miền Bắc gọi là con Lợn Xề.

   * Lang tâm cẩu phế 狼心狗肺 là Lòng lang phổi chó, ta nói là : " Lòng lang dạ sói ".

   * Đả kê mạ cẩu 打雞罵狗 là Đánh gà chưởi chó, ta nói là " Chưởi chó mắng mèo ".  

   * Quải dương đầu mãi cẩu nhục 掛羊頭賣狗肉 : Ta nói là " Treo đầu dê bán thịt chó ". Chỉ các con buôn làm ăn gian dối. 

   * Cẩu chủy lý trưởng bất xuất tượng nha 狗嘴裡長不出象牙 : Ta nói là : " Miệng chó không mọc ra được ngà voi ". 

   * Họa hổ bất thành phản loại khuyển 畫虎不成反類犬 : Ta nói là " Vẽ cọp không xong lại giống chó ", Chỉ sự vụng về, không khéo léo về mọi mặt. Trong Lục Vân Tiên của cụ Đồ Chiểu, dân làng đã khuyên Vân Tiên khi chàng định đi đánh tướng cướp Phong Lai :

                         E khi họa hổ bất thành,

                Khi không mình lại xô mình xuống hang.

   * Cẩu bất thực phân 狗不吃屎 là Chó không ăn cứt, ta nói là " Chó chê cứt " để chỉ sức khỏe không tốt, vì Cứt là món khoái khẩu của chó mà lại chê, chứng tỏ là khẩu vị hoặc sức khỏe có vấn đề. Nếu không thì là " làm bộ chó ". Vì ca dao của ta có câu :

                       Thân em như cục cứt trôi sông,

              Phận anh như con chó đói chạy rông trên bờ !  

còn gì đau khổ hơn là thấy đồ ăn mà mình yêu thích lại không thể " quằm " được !  Như chàng trai thấy cô gái mà mình thương hơ hớ ra đó mà không sao " thương " được, vì môn đang hộ đối, vì thân phận nghèo hèn ... Thật đau khổ và tội nghiệp vô cùng, khi :

 

                       Mây trôi nước chảy hững hờ,
               Cứt trôi chó chạy biết bao giờ gặp nhau ?

Nên đâm ra mơ ước vẩn vơ ...

                       Ước chi cứt dạt vào bờ,
                Để cho con chó đói hết chờ hết mong.

       Nhưng ...

        Qua đến đất Mỹ thì con chó... lên ngôi, về thứ tự ưu tiên trong xã hội Mỹ thì thứ nhất là Đàn bà Lady first mà, thứ nhì là Trẻ em, thứ ba là con Chó và thứ tư mới tới phiên Đàn ông !

         Nuôi chó phải có nhà ở cho chó hẵn hoi, phải nuôi bằng thực phẩm chó đàng hoàng, phải được chích ngừa, phải có bảo hiễm và phải có bác sĩ chó khám bệnh chăm sóc sức khỏe. Phải được tắm rửa làm đẹp như hớt tóc, cắt móng chân ... Khi thiến phải gắn dịch hoàn giả cho chó để khi đi ra ngoài chó khỏi mắc cở. Chưa kể mỗi buổi sáng phải dẫn chó ra đường cho đi đái đi ỉa, rồi phải dùng bao rác hốt sạch những cái mà chó thải ra, chăm sóc chó còn hơn là chăm sóc cho cha mẹ, con cái nữa !

        Thức ăn của chó là dog food, thức ăn của người là hot dog, một loại xúc xích trông giống như bộ phận sinh dục của con chó đực, người Anh gọi là saveloy, mằn mặn ăn không ngon lành gì cả, thua xa lạp xưởng của ta. Các quyển sách cũ lật tới lật lui lâu ngày, các góc sách bị cuốn kèn lại, người Mỹ gọi là tai chó : dog eared. Ghét ai ta mắng là : Đồ chó đẻ ! thì Mỹ lại nói là : Con của con chó cái " Son of a bitch " hay " son of a gun ". Chỉ tánh tham lam bo bo giữ của thì ta nói như Chó Già Giữ Xương, còn Mỹ thì nói Dog in the manger. Nhưng dù đông dù tây gì thì chó vẫn là bạn thân với người Man's best friend, nhưng con chó ở Mỹ thì lại được các cô chủ của nó nâng lên thêm một bậc nữa : Love me, love my dog, có nghĩa : Nếu có yêu tôi thì hãy yêu luôn con chó của tôi nữa ! Cái nầy thì hơi "căng" một chút, chả lẽ mỗi lần hôn em phải hôn luôn con chó của em nữa sao ?!

 

        Không nói chuyện chó tây chó Mỹ nữa, trở lại với con chó tội nghiệp của Việt Nam ta, hễ ghét ai là cứ lấy con chó ra làm đối tượng để chưởi xéo người đó. Ngoài tiếng " Đồ chó đẻ " ra, còn có " Đồ chó chết, Quân chó má, Cái thằng chó, Cái con đĩ chó ..." Có " văn hoá " một chút thì mắng người ta là " Thứ cẩu đầu, Quân Cẩu Trệ " ... Chỉ những kẻ chuyên làm tay sai cho người ác thì là " Thứ cái đồ khuyển ưng, ưng khuyển " như trong Truyện Kiều lúc Hoạn Thư cho người đi bắt Thúy Kiều, 2 câu 1623-1624 là :

                       Sửa sang buồm gió lèo mây,
               Khuyển Ưng, lại chọn một bầy côn quang.

           

          dcd_hophu.jpg   

        Để chỉ những thằng con không ra gì thì bảo là : Hổ phụ sanh khuyển tử 虎父生犬子, có nghĩa : Cha thì hùng dũng oai phong như cọp, còn con thì nhu nhược cụp đuôi như chó ! Nhưng từ " khuyển tử 犬子 " lại là từ khiêm nhường để chỉ " Con của Mình " khi giới thiệu với người khác, như : Đây là khuyển tử, có nghĩa như " Đây là thằng chó con của tôi !". Ngoài ra, ta cũng có từ Khuyển Mã 犬馬 cũng là từ khiêm nhường của các bề tôi nói với vua chúa hoặc chủ cả ngày xưa

: Nguyện làm thân Khuyển Mã để đáp đền, ý nói làm Chó làm Ngựa để báo đáp, nhưng ta lại nói là Làm thân Trâu Ngựa để báo đáp, như cô Kiều trước đêm phải đi theo Mã Giám Sinh đã trối lại với Thuý Vân rằng :

                    Tái sinh chưa dứt hương thề
              Làm thân trâu ngựa đền nghì trúc mai 

                                                       ( câu 707-708 )

      Nhân năm chó, lại nhớ đến một chuyện cười dân gian thuở xưa, chuyện kể ...

      Xưa có một nhà nho thanh liêm, rất được dân làng trong vọng,  thấy các quan lớn quan nhỏ từ Hương quản, Hương tuần, Lý trưởng đến Tri huyện, Tri Châu đều giở trò tham nhũng, hạch sách dân đen, nên ... Một hôm, ông làm một tiệc lớn, mời cả phủ huyện, hương chức hội tề đến dự. Nào tiết canh, dồi chả, thui nướng ... món ngon thơm phức dọn lên, các quan được một bửa chén no say. Có người đứng lên đáp tạ nhà chủ và hỏi các món ăn làm bằng thịt gì ? Nhà Nho thủng thỉnh đứng lên cười đáp : Chó, mâm trên mâm dưới, mâm trong mâm ngoài, tất cả đều là CHÓ cả !

       Chuyện nầy làm ta lại nhớ đến ... Nghe tiếng rao bán thịt chó ngoài đường. Có người trong nhà lớn tiếng gọi : CHÓ ! CHÓ ! Người bán thịt chó cũng không phải tay vừa, cao giọng hỏi lại : Ai CHÓ đó ?! Quả là tám lạng nữa cân, ăn miếng trả miếng.

       Cao cấp hơn là chuyện của Cao Bá Quát ...

       ĐẤU 鬥 là Đánh nhau, nhưng Đấu Khẩu 鬥口 là Cãi lộn nhau, Chưởi lộn nhau như Cao Bá Quát đã diễn tả lại cho vua nghe cuộc cãi cọ rồi ẩu đả nhau giữa hai vị quan trong triều là Phan Văn Nhã và Võ Văn Khải đánh nhau vì chuyện văn chương. Ông Khải xem bài ông Nhã chê kém và nói Văn như thế Chó nó cũng làm được. Thế là sinh sự đánh nhau đến sứt đầu mẻ trán, khi vua hỏi, Cao Bá Quát đã tường thuật lại như thế nầy :

                Bất tri hà sự,                            不知何事,

                Lưỡng tương đấu khẩu.             兩相鬥口。

                Bỉ viết Cẩu,                              彼曰狗,

                Thử diệc viết Cẩu.                     此亦曰狗。

                Bỉ thử giai Cẩu.                         彼此皆狗。

                Dĩ trí đấu ẩu,                            以致鬥毆,

                Thần kiến thế nguy thần tẩu !    臣見勢危臣走!

Có nghĩa :

                Chẳng biết việc chi,

                Hai người cùng Đấu Khẩu với nhau.

                Người nầy nói Chó,

                Người kia cũng nói Chó.

                Cả hai đều Chó.

                Đến nỗi ẩu đả nhau,

                Thần thấy thế nguy nên thần chạy !

               
   

       Cũng Cao Bá Quát, trước khi khởi nghĩa, bị thất sủng, triều đình đưa đi làm Giáo Thụ ở Quốc Oai, vùng đất thuộc Sơn Tây, xa chốn kinh đô thành thị. Học trò ít, cảnh sinh hoạt tiêu điều. Ông đã viết đôi câu đối dán ngoài nhà học như sau :

          Nhà trống ba gian, một thầy, một cô, một chó cái.
          Học trò dăm đứa, nửa người, nửa ngợm, nửa đười ươi. 

 

       Câu đối hắc búa, tương truyền là của ông Tú Cát ra cho Trạng Quỳnh là :

                 Lợn Cấn ăn cám Tốn,

Có nghĩa con lợn đang cấn thai thì ăn thật nhiều, nên phải tốn thêm nhiều cám. Nhưng Cấn 艮 và Tốn 巽 là hai quẻ trong Bát Quái.

        Quỳnh đã ứng khẩu đối ngay là :

                Chó Khôn chớ cắn Càn.

Có nghĩa con chó khôn ngoan thì không cắn càn cắn bậy, mà Khôn 坤 và Càn 乾 cũng là hai quẻ trong Bát Quái. Thế mới tài ! ( Bát Quái là : Càn, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài  八卦是:乾,坎,艮,震,巽,離,坤,兌")。

 

        Chuyện " Chó Đá Quẩy Đuôi " tuy có vẻ hoang đường, nhưng cũng nói lên được cái tinh thần đề cao và kính trọng nhân tài đất nước của dân tộc ta. Đó là truyện của Trạng Lường ...

        Lương Thế Vinh 梁世榮 (1441 - 1496), tục gọi là Trạng Lường, tên tự là Cảnh Nghị, tên hiệu là Thụy Hiên, là một nhà toán học, Phật học, nhà thơ Việt Nam thời Lê sơ. Ông đỗ trạng nguyên dưới triều Lê Thánh Tông và làm quan tại viện Hàn Lâm. Ông là một trong 28 nhà thơ của hội Tao Đàn Nhị Thập Bát Tú 騷壇二十八宿 do vua Lê Thánh Tông sáng lập năm 1495. Tương truyền ...

         Khi Vinh lên 7-8 tuổi đi học ở làng bên, bên đường có con chó đá, hễ Vinh đi qua là nó vẫy đuôi mừng. Lấy làm lạ, Vinh về nhà kể cho cha nghe. Cha Vinh nói: "Nó đã biết mừng thì ắt biết nói, con thử hỏi nó xem vì cớ gì mà nó mừng". Hôm sau, khi chó quẩy đuôi mừng, Vinh bèn hỏi, con chó đá đáp bằng tiếng người, rằng: "Vì ông sẽ là Trạng nguyên, nên tôi mừng ông".

       Lại kể ...

            Theo " Tam khôi bị lục 三魁備錄 "... có ghi lại : Bà mẹ vua Lê Thánh Tông là Thái hậu Quang Thục có lần nằm mơ, thấy đi tới chỗ Thượng Đế. Thượng Đế ban cho bà một tiên đồng làm con, và một tiên đồng để giúp đỡ. Lúc tỉnh dậy, bà có mang Lê Tư Thành (tức vua Lê Thánh Tông). Sau Lương Thế Vinh thi đỗ, Thái hậu xem hình dáng, giống hệt tiên đồng đã thấy trong mộng, bèn kể lại cho vua Thánh Tông hay. Từ đấy, Lương Thế Vinh trở thành một lương thần đắc dụng dưới thời Hồng Đức. Và ...

        Lê Thánh Tông chẳng những là một minh quân mà còn là một nhà thơ có khẩu khí của bậc đế vương, ông làm thơ vừa ca tụng mình vừa nhắc nhở triều thần phải hết lòng phò vua báo quốc. Cái hay của các bài thơ ông làm là không nói thẳng mà mượn một sự việc hay sự vật nào đó để nói lên cái ý muốn của mình. Ta hãy đọc 2 bài thơ CHÓ ĐÁ của ông sau đây sẽ rõ.

   dcd_choda.jpg             


                             Bài 1.

              Quyền trọng ơn trên trấn cõi ngoài, 
              Cửa nghiêm chem chẻm một mình ngồi. 
              Quản bao xương tuyết nào chi kể, 
              Khéo giữ cao lương cũng chẳng nài. 
              Mặc khách thị phi giương tráo mắt, 
              Những lời trần tục biếng vào tai. 
              Một lòng thờ chúa, nghìn cân nặng, 
              Bền vững ai lay cũng chẳng dời.

                              Bài 2.

              Lần kể xuân thu biết mấy mươi, 
              Cửa nghiêm thăm thẳm một mình ngồi. 
              Đêm thanh nguyệt dãi màng trông nguyệt, 
              Ngày vắng ruồi bâu biếng ngáp ruồi. 
              Cắn kẻ tiểu nhân, nào đoái miệng ? 
              Chào người quân tử, chẳng phe đuôi. 
              Phỏng trong sức có ngàn cân nặng, 
              Dầu nhẫn ai lay cũng chẳng dời.

 

        Qủa là giọng điệu khẩu khí của một vì vua có khác !

 

        Trở lại với Đề 36 của hai sòng bài lớn Kim Chung ở Sài Gòn và Đại Thế Giới ở Chợ Lớn trước khi bị Tổng Thống Ngô Đình Diệm đóng cửa (1954). Con CHÓ thuộc nhóm Thất Sanh Ý, là bảy người làm nghề buôn bán, từ số 10 đến số 16 có tên như sau :   

        Số 10 là Giang Từ : con Rồng bay,

        Số 11 là Phước Tôn : con CHÓ.

        Số 12 là Quang Minh : con Ngựa.

        Số 13 là Hữu Lợi : con Voi.

        Số 14 là Chỉ Đắc : con Mèo Rừng.

        Số 15 là Tất Đắc : con Chuột.

        Số 16 là Mậu Lâm : con Ong.

        Một sự trùng hợp ngẫu nhiên rất hợp với dân đánh đề, con chó tên chữ là  Phước Tôn mang số 11, lại là ngôi thứ 11 trong Địa Chi, nên hễ nằm chiêm bao hay đi đâu, hoặc tình cờ gặp được người tuổi Tuất là mua ngay số 11. Sau nầy áp dụng vào xổ số kiến thiết từ 00 đến 99, dân thua đề lại phải thua thêm 2 con nữa là : Con Chó sồn sồn 51 và con Chó già 91 nữa, vì bây giờ 11 đã trở thành con Chó nhỏ rồi. Nhớ bài Vè Thua Đề 36 của thầy giáo Kiến ở ấp Yên Thượng Trị trấn Cái Răng, huyện Châu Thành tỉnh Phong Dinh ngày xưa, có câu :

 

                 Cầm quần mà đánh Thượng Chiêu,

                 Sổ ra Bản Quế mất tiêu cái quần !

 

 Thượng Chiêu là con chim én, một trong Tứ Phu Nhân, số 21.

 Bản Quế là con Ốc, một trong Tứ Trạng Nguyên, số 2.

         Có một ông câu, ban đêm hay đi giăng câu và hò hát trên vàm Ba Láng, không biết là buồn tình vì thua đề hay vì vợ quá mê đánh đề mà sửa lại câu vè của thầy giáo Kiến thành :

 

                 Cầm quần mà đánh Phước Tôn,

                 Sổ ra Bản Quế để  l... chê hê !

 

       Dân chúng mê đánh số đề, không phải chỉ cầm quần, cầm áo, mà cầm cả xe cộ, ghe xuồng, nhà cửa, đất đai ... và bất cứ thứ gì cầm cố được. Số đề mê hoặc dân nghèo như một câu trong bài vè của thầy giáo Kiến :

 

               Phải thời một vốn bỗng liền ba mươi.

 

       Sau nầy đánh theo xổ số Kiến Thiết thì càng mê hoặc lòng tham của con người hơn với : Một đồng trúng bảy mươi ! Trước mắt, dân nghèo trong nước cũng đang vật vả, sống dở chết dở với vé số và số đề được xổ hằng ngày, mỗi ngày nhiều khi đến 2 hay 3 đài xổ nữa là đằng khác !

       Song song với số đề là tệ nạn ăn nhậu, lớn nhậu theo lớn, nhỏ nhậu theo nhỏ, sang thì nhậu nhà hàng, hèn thì nhậu lề đường. Hễ  đỏ đèn là các quán nhậu lại trở nên nhộn nhịp, nhất là các quán lẫu dê, thịt chó bình dân. Dân ăn thịt chó thường kháo nhau về thịt chó là : Nhất bạch nhì hoàng tam khoang tứ đốm. Có nghĩa : Thịt ngon nhất là chó lông trắng, chó Cò. Thứ nhì là lông vàng, chó Phèn. Thứ ba là lông có khoang, chó Vện. Thứ tư là lông có đốm, chó Vá. Thịt chó bổ dương lại thêm vào ba xị đế, nên cảnh " Tửu nhập tâm như cẩu cuồng tại thị 酒入心如狗逛在市 ". Có nghĩa : Uống ba hột rượu vào rồi thì con người dễ mất kiểm soát mà chạy lòng vòng ngoài chợ như con chó hoang, vừa khuấy rối trật tự công cộng vừa cản trở xe cộ giao thông là việc thường xảy ra với dân nhậu nhẹt.

            Chó là Cẩu, ngày xưa đọc đồng âm với âm cửu là số 9. nên ta lại có một câu chuyện dân gian về Chỉ Sự thay cho chữ viết sau đây :

       Ngày xưa, có một anh lính thú ở xa, nhân có bạn được phép về thăm nhà, mới nhờ bạn đem về cho vợ ở nhà trăm quan tiền và một bức thư.
        Giữa đường, anh bạn tò mò giở thư ra xem, không thấy  ghi số tiền gửi là bao nhiêu cả, chỉ thấy vẽ bốn con chó, một hình bát quái, hai con dê và một cái chũm chọe, nên nảy ra cái ý ăn bớt. Về đến nơi, anh ta chỉ giao cho vợ bạn bức thư và bốn chục quan thôi.
        Người vợ xem thư biết thiếu tiền, lên quan nhờ phân xử.  Quan hỏi :
- Chồng chị gửi người ta bốn mươi quan tiền, người ta mang về đưa tận tay cho, còn kiện cáo nỗi gì?
 Người vợ đáp :
- Bẩm quan lớn, anh ta ăn bớt ạ! Chồng con gửi cho con tới một trăm quan kia ạ!
- Sao chị biết?
- Bẩm quan lớn, thư chồng con viết rành rành ra đấy xin quan xem thư, sẽ rõ!
      Quan giở bức thư quái gở kia ra xem, không hiểu gì cả liền hỏi:
- Thế là thế nào? Bức thư không có chữ nghĩa gì cả, sao chị lại biết chồng chị gửi một trăm quan?
- Bẩm quan lớn, chồng con vẽ rõ ràng ra đấy. Bốn con chó là tứ cẩu, cẩu là cửu, tứ cửu là tam thập lục, là ba mươi sáu ( 36 ). Bát quái có tám cạnh, bát bát là tám lần tám vị chi là lục thập tứ, là sáu mươi tư ( 64 ). Sáu mươi tư với ba mươi sáu chả là một trăm quan đó sao?
       Quan cho là phải, bắt anh kia phải trả đủ số tiền. Nhưng ngài còn thắc mắc hỏi chị kia:
- Thế còn hai con dê và cái chũm choẹ là ý thế nào?
      Chị ta sượng sùng không nói. Quan hỏi mãi mới thưa:
- Ðấy là nhà con vẽ đùa thôi ạ !.
- Ðùa thế là có ý gì, phải nói ra cho rõ ràng.
- Bẩm quan lớn, hai con dê và cái chũm chọe là nhà con muốn hẹn con rằng, đến Tết Trùng Dương ( ngày 9 tháng 9, còn gọi là Trùng Cửu ) thì nhà con sẽ về thăm cái chũm chọe, ơ... không, thăm con... đấy ạ!

 

       Đó, ta thấy CHỈ SỰ hay là thế, thú vị là thế, ngày xưa nước ta cũng đã có vô vàn cách Chỉ Sự để truyền đạt ý nghĩa và sự việc một cách độc đáo của riêng mình rồi !

 

       Xin được kết thúc bài phiếm về năm TUẤT là năm con CHÓ, mà chó chữ Nho là CẨU, cẩu lại thuộc bộ KHUYỂN nầy  ở đây.

       À, mà còn quên, để vui Xuân đón Tết, mời tất cả cùng giải đáp câu đố nghe rất trái tai sau đây, đó là câu :

 

             Chó đậu, chuồn chuồn sủa !

                                               ( đố là Trái gì ? )

 

       Cầu chúc cho tất cả mọi người đều có được một mùa xuân Mậu Tuất 2018 Như Ý, An Khang và Thịnh Vượng !

 

                                                                 Đỗ Chiêu Đức

    

                   

Thơ Vịnh :

 

      Mậu Tuất 2018

 

Mậu Tuất là con chó đất quèn,

An thân khuyển mã chẳng bon chen.

Đen thui đen thủi là con Mực,

Vàng khẻ vàng khè ấy chú Phèn.

Trắng nỏn chó Cò co cẳng chạy,

Sặc rằng con Vện vẩy đuôi quen.

Lốm đa lốm đốm ồ em Vá.

Nhà cẩu trung thành  nức tiếng khen !

 

                                  Đỗ Chiêu Đức

 

Câu đối cho năm Mậu Tuất 2018 :

 

      Đinh Dậu gà đi qua, Gát hết thiên tai cùng đón Tết;

      Mu Tuất chó chạy đến, Mừng thêm phúc lộc thảy vui Xuân.

__________________________________________________________________________________________________________________ 

 

                      

 

 

 

 

KHÓC THẦY


                    Mới vừa hai tám chớm xuân
                 Sao thầy nở vội bỏ trần lên tiên !


Ngỡ ngàng làm sao khi nghe tin thầy mất,
Lòng bàng hoàng không nén nổi bi ai.
Tin như sét đánh ngang mày,
Thôi rồi một kiếp trần ai đi về !


  Ngày mười lăm tháng rồi thầy còn nhắn,
  Ý đẹp lời hay phổ biến đến trang nhà.
  Tiếng thầy vọng bên tai còn chưa dứt,
  Bóng hình đà lẫn khuất tựa sát-na.


Nhàn, vô, bất, không, nhớ khi cùng phiếm,
Tĩnh lặng thầy trò trãi nghiệm nhân sinh.
Quy y Phật, Pháp, Tăng cùng bát giới,
An trụ rồi tâm mới hết linh đinh.


   Chân và Vọng theo nhau lòng vô trụ,
   Chứng Đạo Ca vang vọng cỏi mênh mông.
   Hoàng Giác Đại Sư cùng thầy bầu bạn,
   Tứ đại trả về sắc sắc không không !


          Vô minh thực tánh trả về,
     Mong thầy siêu thoát an bề qui chơn.
          Niết bàn chẳng nệ thiệt hơn,
     Hữu duyên, hữu đức, bảo sơn hữu phần !


                                                   Đỗ Chiêu Đức
                                                     Khấp điếu

  

HAI NỮ THI SĨ ĐỜI ĐƯỜNG

 

   A. KÝ PHU của Trần Ngọc Lan.

 

1. Bản chữ Hán cổ của bài thơ :

 

     寄夫                           KÝ PHU

               陳玉蘭                        Trần Ngọc Lan

夫戍邊關妾在吳,     Phu thú biên quan thiếp tại Ngô,

西風吹妾妾憂夫。     Tây phong xuy thiếp thiếp ưu phu.

一行書信千行淚,     Nhất hàng thư tín thiên hàng lệ,

寒到君邊衣到無?      Hàn đáo quân biên y đáo vô ?

DCD_2nuthisi_1.jpg 

                     CHÚ THÍCH :

    * Thú : Đi lính xa. Thú Biên Quan : là Đi lính đóng đồn ở ngoài biên ải.

    * Ngô : Đất Ngô, nước Ngô xưa, chỉ một dãy của tỉnh Giang Tô ngày nay.

    * Tây Phong : là Gió tây, chỉ Gió mùa thu hiu hắt.

 

NGHĨA BÀI THƠ :

                             GỞI CHỒNG

         Chồng đi lính xa tận ngoài biên ải, còn thiếp thì ở lại đất Ngô của xứ Giang Nam. Khi gió tây thổi đến thiếp lại càng lo lắng cho chồng, nên viết thư thăm hỏi, mỗi một hàng thư là cả một ngàn hàng lệ nhỏ, chỉ lo sợ rằng khi cái lạnh của mùa đông ập đến bên chàng thì không biết chiếc áo ngự hàn của thiếp gởi đã đến kịp lúc bên chàng chưa ?

         Tình cảm thật da diết thiết tha. Toàn bài thơ là những tiểu đối khéo léo nêu bật nỗi lòng của người chinh phụ vọng phu : Chàng  phải đi ngoài biên ải xa xôi, còn thiếp thì được ở lại quê nhà. Khi gió tây thổi, thiếp thấy lạnh, nên lại lo cho chàng. Một hàng thơ viết cho chàng là cả ngàn hàng lệ của thiếp đã nhỏ ra. Cuối cùng, là cái lo đáng lo nhất : Khi cái lạnh đến bên chàng thì áo của thiếp gởi có đến kịp lúc hay không ?

         Cả bài thơ bốn câu, câu nào cũng nêu lên tình ý của một CHÀNG một THIẾP, nhưng không phải là "Tình chàng Ý thiếp ai sầu hơn ai" nữa, mà là sự ưu tư lo lắng khoắc khoải của người cô phụ hết dạ thương chồng đang xông pha ngoài biên ải ! Hai điệp từ PHU, ba điệp từ THIẾP càng làm cho bài thơ tha thiết và gần gũi với người  đọc hơn, nhất là câu : " Tây phong xuy thiếp thiếp ưu phu " vừa chơn chất vừa thật thà dễ đi vào lòng người. Câu " Nhất hàng thư tín thiên hàng lệ " càng nhấn mạnh thêm sự thương cảm xót xa của người chinh phụ trông chồng.

      

         Trần Ngọc Lan là nữ thi sĩ đời Đường, không rõ năm sanh năm mất, bà là thê tử của thi nhân Vương Giá 王驾. Giá đậu tiến sĩ năm Đại Thuận nguyên niên 大顺元年, làm quan đến chưc Lễ Bộ Viên Ngoại Lang, mà ta đã biết ông qua bài Xuân Tình 春晴 với 2 câu thơ bất hũ :

 

         蜂蝶紛紛過牆去,   Phong điệp phân phân quá tường khứ,

         卻疑春色在邻家 .    Khước nghi xuân sắc tại lân gia.  

 

 ... mà nhà thơ Tiến Chiến Jean. Leiba đã phỏng dịch rất hay là :

 

                      Tơi bời ong bướm bay qua ngỏ,

                      Những tưởng màu xuân ở xóm ngoài !    

 

DIỄN NÔM :

                  Thiếp ở quê nhà chàng lính thú,

                  Nhớ chàng gió lạnh nói sao vừa.

                  Một hàng thơ viết ngàn hàng lệ,

                  Lạnh đến bên chàng áo đến chưa ?

   Lục bát :

                  Chàng biên tái, thiếp quê nhà,

             Gió tây thổi thiếp thiết tha nhớ chàng.

                  Một hàng thư, lệ ngàn hàng,

             Áo len thiếp gởi kịp chàng mặc chăng ?! 

DCD_2nuthisi_2.jpg                    

   Bản viết tay 2011

                   

      B. KIM LŨ Y của Đỗ Thu Nương.

 

1. Bản chữ Hán cổ của bài thơ :

 

     金縷衣                 KIM LŨ Y

        杜秋娘                   Đỗ Thu Nương

勸君莫惜金縷衣,    Khuyến quân mạc tích kim lũ y,

勸君惜取少年時.    Khuyến quân tích thủ thiếu niên thì.

花開堪折直須折,    Hoa khai kham chiết trực tu chiết,

莫待無花空折枝!    Mạc đãi vô hoa không chiết chi !           

DCD_2nuthisi_3.jpg

 

2. Chú thích :

    * Kim Lũ Y : là áo được dệt bằng những sợi tơ vàng óng. Ý chỉ quần áo hoa lệ đẹp đẽ.

    * Tích : là Tiếc, là thương, là xót, là Tiếc rẻ.

    * Kham : là Nên, là Được, là Đúng lúc.

    * Trực : là Ngay, là Thẳng, là Tức khắc.

    * Đãi : là Đợi, là Lần lừa.

 

3. Nghĩa bài thơ :

                              ÁO TƠ VÀNG

         Khuyên chàng đừng tiếc rẻ những chiếc áo tơ lụa vàng qúi giá, mà hãy nên tiếc nuối lấy tuổi thanh xuân của mình. Cũng như khi hoa đang nở đẹp thì hãy kịp lúc mà bẻ lấy ngay, đừng để cho đến khi hoa rụng rồi thì chỉ bẻ được cái cành không mà thôi !

         Khéo mà ví von khuyên nhủ những chàng công tử phong lưu chỉ biết ăn ngon mặc đẹp, mà không biết tranh thủ lấy tuổi thanh xuân của mình để trao dồi kiến thức, cố gắng học hành để mong có ngày tiến thủ, lập chữ công danh ... Cứ mãi miết ăn chơi trác táng ở lầu xanh, ở các nơi trà đình tửu điếm, để đến khi ăn năn thì đã qúa muộn màng


DCD_2nuthisi_4.jpg
 

3. Tác giả :

        ĐỖ THU NƯƠNG 杜秋娘 ( cuối Thế kỷ 8 ) tên thật là Đỗ Thu, người đất Kim Lăng đời Đường. Bà là một ca kỹ múa giỏi hát hay và giỏi cả thi ca, 15 tuổi đã  được Tiết Độ Sứ Lý Kỹ 李錡 mua về làm tì thiếp. Sau Lý Kỹ tạo phản thất bại, bà bị biếm vào cung. Khi Đường Mục Tông 唐穆宗 (821-826) lên ngôi, phong bà làm Phó Mẫu là giáo tập ở trong cung nuôi dạy Thái Tử. Mục Tông mất, Thái tử bị phế, bà bị thải về quê. Khi Đỗ Mục đi ngang qua Kim Lăng, trông thấy hoàn cảnh của bà vừa già vừa nghèo khổ, ông đã làm bài Đỗ Thu Nương Thi 杜秋娘詩 để kể lại thân thế của bà.

 

4. Diễn Nôm :

                    Khuyên chàng chớ tiếc áo tơ vàng,

                    Hãy tiếc tuổi xuân chớ để tàn.

                    Hoa nở đúng kỳ tua bẻ lấy,

                    Đừng đợi cành không bẻ muộn màng !

    Lục bát :

                        Tiếc chi chiếc áo chỉ vàng,

                Khuyên chàng trân trọng tuổi đang xuân thì.

                        Hoa đang độ, hãy bẻ đi,

                  Đợi khi hoa rụng bẻ gì cành không ?!   
                                   
DCD_2nuthisi_5.jpg

  Bản viết tay năm 2011

 

KIM OANH Phỏng dịch:

 

Gởi Chồng (Ký Phu - Trần Ngọc Lan)​

Thiếp ở khuê phòng chàng ngoài biên ải

Gió Tây lạnh thổi lòng mãi nhớ lo

Viết một hàng thư ngàn hàng lệ nhỏ

Đan áo gởi đến chàng kịp mặc cho.

 

Kim Oanh

----------------------------

Áo Tơ  Vàng

​ ​

(Kim Ly - Thu Nương)​

 

Tiếc gì chiếc áo tơ vàng  

Xin chàng đừng để xuân tàn qua nhanh

Hái hoa đúng độ tươi xanh

Kẻo khi cánh rụng trơ cành còn chi 

Kim Oanh

___________________________________________________________________________________________________________________ 

 

                                                    TIẾT TRÙNG CỬU

                   Lễ Ông Bà ngày xưa của ta

 

         Sau Tết Trung Thu là Tết Trùng Cửu, chữ Tết do chữ Tiết đọc trại ra mà thành. TIẾT 節 là Thời Tiết 時節 chỉ Khí hậu có liên quan đến mùa màng. TIẾT cũng có nghiã là ngày Lễ Tết trong năm. Một năm có mấy cái Tết lớn. Nguyên Đán là cái Tết lớn nhất mở đầu cho một năm nằm trong tháng Giêng, Thanh Minh là Tết nằm trong tháng 3, Đoan Ngọ là Tết của tháng 5, Tháng 8 thì có Tết Trung Thu và Tháng 9 thì ta có Tết Trùng Cu.

         Trùng Cửu, Trùng là Trùng lắp, là lặp lại. Cu là số 9. Nên Trùng Cu 重九 là 2 số 9 được lặp lại, tức là ngày mùng 9 tháng 9 Âm lịch. Theo Kinh Dịch thì số 9 thuộc Dương, nên Trùng Cu còn được gọi là Trùng Dương 重陽. Đây là cái Lễ tiết cuối cùng sau mùa thu hoạch, rồi trời sẽ trở lạnh để vào đông cho đến Tiết Đông Chí về, sẽ lại chuẩn bị để đón mừng năm mới !

DCD_Oct28_1.jpg 

             Ngoài việc được gọi là Tiết Trùng Dương 重陽節 ra, Trùng Cu còn được gọi là Tiết Đạp Thu 踏秋節, có nghĩa là Đạp lên lá vàng khô của mùa Thu, tức là Đi dạo chơi trong mùa Thu trước khi trời trở lạnh. Trong dân gian xưa còn gọi ngày này là Ngày Của Người Già : LÃO NHÂN TIẾT 老人節 hoặc KÍNH LÃO TIẾT 敬老節. Có thể là do sau khi mùa màng được thu hoạch vào mùa Thu, con cháu có nhiều món ngon vật quý để dâng hiến cho Ông Bà, hoặc đã có tiền để chăm lo săn sóc đến đời sống của Ông Bà hơn. Khi ông bà cha mẹ già đã quá cố, thì con cháu cũng nhân dịp Đạp Thu mà kéo nhau lên núi để Tảo Mộ  ( Ở những nơi có đồi núi thì người chết được chôn cất ở trên cao, vùng đồng bằng để trồng trọt canh tác. Cho nên ta thấy Cụ Nguyễn Du tả cảnh Tảo mộ của Tiết Thanh Minh là : " Ngổn ngang gò đống kéo lên, Thoi vàng hồ rắc tro tiền giấy bay, là thế ! ). Vì vậy, mà Tiết Trùng Cu còn được gọi là Tiết ĐĂNG CAO 登高節. Ngoài ra, Tiết Trùng Cu cón được gọi là Tiết THÙ DU 茱萸節, Tiết CÚC HOA 菊花節....

 DCD_Oct28_2.jpg       

             Cây lá và trái Thù Du  ( trái cherry ở Mỹ )

 

        THÙ DU là loại cây ăn trái được thu hoạch vào khoảng cuối tháng 6. Cây lá có tính sát trùng tiêu độc, ngừa phong đón gió, nên trong ngày Lễ Trùng Cửu dân gian hay bẻ một nhánh lá nhỏ giắt bên mình để " trừ tà ", để được bình an khoẻ mạnh nên ngày lễ nầy còn được gọi là Tiết Thù Du là vì thế.  

 DCD_Oct28_3.jpg  

       Hoa Cúc và tục lệ uống rượu Cúc trong ngày Trùng Cửu

 

        Trong bài thơ " Bốn mùa ăn chơi " của người xưa thì câu thứ 3 là " Thu ẩm Hoàng Hoa tữu ". Hoàng Hoa tức là Hoa Cúc đó, loại hoa có màu vàng và nở vào mùa thu, nên được dùng để ủ rượu uống cho ấm vào những ngày cuối thu lạnh lẽo nầy, để ngừa cảm cúm, như ta chích " flu shot " vào mùa nầy ở Mỹ vậy ! Nên Tiết Trùng Cửu còn được gọi là Tiết Cúc Hoa là vì  thế !

         Theo truyền thuyết thì ...

         Vào thời Nam Bắc Triều, người của Nam Triều là Ngô Quân Chi thuộc nước Lương, ghi trong " Tục Tề Hài Ký " rằng :

 Đời Đông Hán, ở huyện Nhữ Nam có một người tên là Hoàn Cảnh, cha mẹ đều chết vì bệnh ôn dịch ở cuối thu, nên anh ta quyết định lên núi tầm sư học đạo để trừ ôn dịch ôn thần. Đạo nhân Phí Trường Phòng dạy cho phép tiên dưỡng sinh và y học. Một năm, sau Trung Thu, đạo nhân gọi Hoàn Cảnh đến mà bảo rằng : Mùng 9 tháng 9 năm nay, ôn thần lại đến gieo rắc bệnh dịch, con hãy về quê mà cứu nhân độ thế. Nói đoạn bèn trao cho anh ta một cây Thanh Long Kiếm, một bao lá Thù Du và một bình Rượu Cúc, căn dặn mọi người phải lên cao mà tránh nạn.

         Đến hôm mùng 9 tháng 9, Hoàn Cảnh gọi hết bà con lối xóm cùng đăng cao lên núi, giắt cho mỗi người một lá Thù Du và uống một ly rượu Cúc, rồi đơn thân độc mã đứng chặn ở sườn núi, chiến đấu và tiêu diệt ôn thần. Từ đó về sau không ai còn bị chết về bịnh dịch nữa, và cũng từ đó về sau mới có tục Đăng Cao, cài lá Thù Du lên áo và uống rượu Cúc trong ngày Tiết Trùng Cu cho  đến hiện nay.

DCD_Oct28_4.jpg

               Trùng Cửu xưa          Trùng Cu nay

 

     Trong văn học, nhất là trong Đường Thi, ngày Trùng Cửu luôn luôn được nhắc đến một cách thân thiết gần gũi qua các thi nhân nổi tiếng như Lưu Trường Khanh với ...   

 

      九日登李明府北樓 CỬU NHẬT ĐĂNG LÝ MINH PHỦ BẮC LÂU

          九月登高望,          Cửu nguyệt đăng cao vọng,

          蒼蒼遠樹低。          Thương thương viễn thọ đê.

          人煙湖草裡,          Nhân yên hồ thảo lý,

          山翠現樓西。          Sơn thuý hiện lầu tê. ( tây )

                       劉長卿                        Lưu Trường Khanh

Diễn nôm :

                  NGÀY CHÍN LÊN BẮC LÂU CỦA LÝ MINH PHỦ

                          Tháng chín lên cao ngắm,

                          Xanh xanh cây cỏ xa.

                          Hồ mờ sương người vắng,

                          Lầu tây núi biếc nhòa !

                                                 Đỗ Chiêu Đức diễn nôm 

 DCD_Oct28_5.jpg

 

      Còn Thi tiên Lý Bạch với ...

 

         九月十日即事      CỬU NGUYỆT THẬP NHẬT TỨC SỰ

          昨日登高罷,           Tạc nhật đăng cao bãi

          今朝再舉觴。           Kim triêu tái cử trường.

          菊花何太苦,           Cúc hoa hà thái khổ,

          遭此兩重陽。           Tao thử lưỡng Trùng Dương .                    

            李白                                       Lý Bạch

Chú Thích :

          Mùng 9 tháng 9 gọi là Tiết Trùng Dương, hái hoa cúc, uống rượu cúc, nhưng...

          Mùng 10 tháng 9 gọi là Tiểu Trùng Dương, lại hái hoa cúc, lại uống rượu cúc.

          Chỉ trong hai ngày, hoa cúc BỊ HÁI, BỊ VÙI DẬP đến 2 lần. Lý Bạch ví thân phận đi đày của mình giống như là hoa cúc liên tiếp bị vùi dập vậy, nên mới hạ 2 câu cuối là : " Cúc hoa hà thái khổ, Tao thử lưỡng Trùng Dương ". Có nghĩa : Hoa Cúc sao mà lại khổ thế, phải gặp cái nạn của 2 lễ Trùng Dương nầy !

          KHỔ 苦 là Khổ sở, Cực khổ. KHỔ cũng có nghĩa là ĐẮNG nữa ! Tân là Cay, nên Tân Khổ là Cay Đắng, Đắng Cay!

       Diễn nôm :

                      Chuyện của ngày mười tháng chín

                            Hôm qua sau leo núi,

                            Sáng nay lại nâng ly.

                            Hoa Cúc sao mà khổ,

                            Trùng Dương đến nhị kỳ !

                                                Đỗ Chiêu Đức diễn nôm

 

        Nhưng nổi tiếng và tiêu biểu nhất cho lễ Trùng Cửu là bài thơ của Thi Phật Vương Duy....

     CỬU NGUYỆT CỮU NHẬT ỨC SƠN ĐÔNG HUYNH ĐỆ    

DCD_Oct28_6.jpg

            Đôc tại dị hương vi dị khách,

           Mỗi phùng giai tiết bội tư thân.

           Diêu tri Huynh đệ đăng cao xứ,

           Thiên tháp thù du thiểu nhất nhân !

                                                      Vương Duy

Chú Thích :

        Khi làm bài thơ nầy Vương Duy chỉ mới 17 tuổi, đang xa nhà đến Trường An để mưu cầu công danh. Nhà ông ở Bồ Châu, phía đông của núi Hoa Sơn, nên mới đề tựa là " Ức Sơn Đông Huynh Đệ ". Bài thơ nổi tiếng với 2 câu đầu mà không có người du tử nào không trầm trồ với 2 từ " dị hương, dị khách ".

 

Nghĩa bài thơ :

               Mùng chín tháng chín nhớ anh em ở phía đông núi.

         Ta một mình ở nơi đất lạ làm người khách lạ, nên mỗĩ lần gặp Lễ Tết là lại nhớ người thân thêm bội phần. Ta biết rằng ở nơi xa xôi kia, anh em ta đang đăng cao trong ngày lễ nầy, và mỗi người đều có giắt một lá Thù Du lên áo, chỉ thiếu có một người không được giắt là ta mà thôi !

 

 Diễn nôm :

                   Xứ lạ quê người làm khách lạ,

                   Mỗi lần lễ tết nhớ khôn nguôi.

                   Anh em mùng chín đăng cao đó,

                   Đều giắt thù du thiếu một người !

   Lục bát  :

                   Đơn thân xứ lạ quê người,

                   Mỗi khi lễ tiết ngậm ngùi nhớ nhau.

                   Quê xa huynh đệ đăng cao,

                   Thù du giắt áo nghẹn ngào riêng ta !

 DCD_Oct28_7.jpg                          

                                                 Đỗ Chiêu Đức biên khảo.

______________________________________________________________________________________________________ 

 

 Cuối tuần kể chuyện vui.

 

                  VƯƠNG AN THẠCH và Chữ SONG HỈ 

 

DCD_Oct28_2_Songhi.jpg

 

 

 

                    

       Sau đây, xin kính mời Quý Thầy Cô, Quý đồng môn Cựu Học Sinh Trung học PTG & ĐTĐ, các bạn Vườn Thơ Thẩn và Các Em học sinh trường TÂN HƯNG cũ, cùng nghe lai lịch của chữ SONG HỈ 囍 rực rỡ đỏ tươi trong các Hôn Lễ Trung Hoa xưa và mãi cho đến ngày nay, bất cứ nơi nào trên thế giới có Lễ cưới của người Hoa, người Việt thì ta sẽ thấy chữ SONG HỈ vui tươi rực rỡ nầy xuất hiện. Nó được viết bằng 2 chữ HỈ 喜 liền nhau, nên gọi là SONG HỈ 囍, ý chỉ đây là ngày vui của 2 HỌ. Nhưng, lúc đầu nó là 2 niềm vui đến cùng một lúc với Văn, Thi Hào và là Tể Tướng VƯƠNG AN THẠCH đời Tống. Xin kính mời Quý vị cùng tiêu khiển với câu chuyện Văn chương lý thú sau đây....

DCD_Oct28_2_VuongAnThach.jpg

Vương An Thạch ( 18-02-1021-- 21-05-1086 ), Tự là Giới Phủ, hiệu là Bán Sơn, được phong là Kinh Quốc Công, nên người đời còn gọi là Kinh Công. Người đất Lâm Xuyên thuộc Vũ Châu đời Bắc Tống. Ông là Thừa Tướng của triều Bắc Tống, lãnh tụ của Tân Đảng ( Đảng Cải Cách ). Âu Dương Tu đã ca ngợi ông như sau :

 

           Hàn lâm phong nguyệt tam thiên thủ, 翰林風月三千首,

           Lại bộ văn chương nhị bách niên.        吏部文章二百年。

           Lão khứ tự lân tâm thượng tại,           老去自憐心尚在,

           Hậu lai thùy dữ tử tranh tiên.             后來誰與子爭先。  

Có nghĩa :
               Ba ngàn bài gió trăng phong nguyệt,
               Hai trăm năm Lại bộ văn chương.
               Già đi tự cảm thương thân phận
               Hậu thế ai người dám sánh ông ?!


         Tác phẩm gồm có " Vương Lâm Xuyên tập, Lâm Xuyên tập Thập di,... ". Ông còn giỏi về thi, từ. Lưu truyền nổi tiếng nhất trong dân gian là 2 câu thơ trong bài " Bạc thuyền Qua Châu ( Thuyền ghé bến Qua Châu ) là :
         Xuân phong hựu LỤC Giang nam ngạn,  春風又綠江南岸,
         Minh nguyệt hà thời chiếu ngã hoàn ?    明月何時照我還。
Có nghĩa :
         Gió xuân lại thổi làm cho bờ Giang nam XANH biếc,
         Trăng bao giờ mới soi sáng trên đường ta về quê ?!

 

    Chữ LỤC 綠 là Hình Dung Từ, có nghĩa là : Màu xanh lá cây. Ở đây được tác giả sử dụng làm Động Từ một cách thật khéo léo và thật gợi hình :
      " Gió xuân lại làm cho XANH cả bờ bãi của xứ Giang Nam."
Có nghĩa :
     Khi gió xuân về tức là mùa xuân cũng đã về làm cho cây cỏ đâm chồi nẩy lộc mang đến màu xanh cho xứ Giang Nam, chớ bản thân gió xuân không thể làm cho xứ Giang Nam xanh lên được. Nên...
     Chỉ một chữ XANH ( Lục ) thôi đã mang lại đầy đủ sức sống của hoa cỏ mùa xuân và như chiếc đủa thần của tạo hóa : Gió xuân thổi tới đâu là mang màu xanh đến nơi đó ngay !

 

        " 囍 " 的来历

LAI LỊCH CỦA CHỮ SONG HỈ

  

         Chữ SONG HỈ lớn màu đỏ, treo ở trước cửa phòng Hoa chúc, chẳng những tạo thêm không khí vui tươi mà còn tượng trưng cho SONH HỈ LÂM MÔN ( Hai niềm vui đến nhà cùng một lúc ). Căn cứ theo ghi nhận của Sử liệu, thì lai lịch của chữ SONG HỈ nầy xuất phát từ Tể Tướng Vương An Thạch đời Bắc Tống, Câu chuyện như sau.....
         Tương truyền năm 20 tuổi, khi từ Lâm Xuyên Vũ Châu đến kinh đô Lạc Dương để ứng thí, khi nghỉ ở khách sạn Mã gia trấn để chờ dự thi. Một hôm, sau buổi cơm tối, ông thả bộ ra phố, khi đi ngang qua nhà Mã viên ngoại, thấy phía trước cửa nhà treo 2 cái lồng đèn kéo quân, bên cạnh có đôi câu đối như sau :


             Tẩu mã đăng, đăng tẩu mã, đăng tức mã đình bộ.

               走  馬   燈,    燈   走   馬,   燈   熄   馬   停   步。
 Có nghĩa :
        Tẩu Mã Đăng là Đèn Chạy Ngựa, ta gọi là Đèn Kéo Quân.
 Nên câu trên có nghĩa : 
         Đèn chạy ngựa, ngựa chạy trên đèn, đèn tắt ngựa ngừng chạy.
 Theo nghĩa của ta thì là :
         Đèn kéo quân, quân kéo đèn, đèn tắt quân ngừng kéo.

 DCD_Oct28_2_denkeoquan.jpg

                                            2 loại Đèn Kéo Quân
  
         Vương An Thạch xem xong trầm ngâm giây lát, bỗng vỗ tay đánh đét một tiếng khen : " Câu đối hay tuyệt, nhưng rất tiếc là không có vế đối lại ! ". Người quản gia nghe thấy vội vàng chạy vào bẩm báo với Mã viên ngoại, nhưng khi Mã viên ngoại ra tới cửa thì Vương An Thạch đã đi xa rồi.
         Sự đời cũng lắm việc trùng hợp ngẫu nhiên, hôm sau khi đi thi, vì văn tài mẫn tiệp,làm bài nhanh nộp quyển sớm, nên được quan chủ khảo chú ý ngợi khen và gọi lên hạch miệng. Ông chỉ ra cột cờ trước sân, nơi có treo lá cờ thêu hình một com hổ bay với đôi cánh vươn ra và đọc :
                Phi hổ kỳ, kỳ phi hổ, kỳ quyển hổ tàng thân.

                飛  虎 旗, 旗  飛  虎,旗    捲    虎  藏    身。
 Có nghĩa :
             Cờ cọp bay, cọp bay trên cờ, cờ cuốn cọp ẩn mình.

 DCD_Oct28_2_phihoky.jpg

                        Phi Hổ kỳ
 
         Vương An Thạch buộc miệng đọc ngay câu đối của Mã viên ngoại :" Tẩu mã đăng, đăng tẩu mã, đăng tức mã đình bộ ", để đối lại.  Quan chủ khảo vô cùng tán thưởng và kinh ngạc trước tài ứng đối mau lẹ và chính xác của Vương An Thạch, và không ngớt lời ngợi khen.
        Rời khỏi trường thi, Vương vô cùng đắc ý, trong lúc hớn hở đi về nhà trọ, thì người Quản gia nhà họ Mã nhận ra Vương và mời về phủ ra mắt viên ngoại. Khi vào đến phòng khách thì đã thấy trên bàn bày sẵn văn phòng tứ bảo, giấy mực hẳn hoi. Mã Viên ngoại đọc ngay câu đối " Tẩu mã đăng..." cho chàng đối . Vương An Thạch chẳng ngần ngừ chút nào cả, hưu bút viết ngay câu đối mà Quan chủ khảo đã ra cho chàng là " Phi hổ kỳ..."  để đối lại. Viên Ngoại vô cùng đẹp dạ, kinh ngạc trước tài ứng đối mau lẹ của Vương và rất vui vẻ mà cho Vương biết rằng, ông ra câu đối nầy là để kén rể, nay mến tài mẫn tiệp của Vương nên quyết định gả con cho chàng. Chọn ngày lành tháng tốt và làm lễ thành hôn ngay tại Mã phủ.
        Trong lúc cô dâu chú rễ sắp làm lễ bái đường, thì có sứ đến tuyên đọc kết quả kỳ thi vừa qua, và cho biết Vương An Thạch vừa đậu Tiến sĩ cập đệ, ngày mai được mời vào cung Quỳnh Lâm dự yến. Mã Viên ngoại vô cùng mừng rỡ, truyền bày thêm tiệc rượu để khoản đãi quan khách. Riêng Vương An Thạch cũng vui mừng vô hạn, đang cơn hứng chí bèn sẵn giấy bút viết ngay HAI chữ Hỉ sát vào nhau dán lên cửa để mừng cho Hai niềm Vui lớn đến cùng một lúc, Hỉ thượng gia Hỉ, Đại tiểu Đăng Khoa cùng một lúc. 

 DCD_Oct28_2_cacchusonghi.jpg

            Các kiểu chữ SONG HỈ


        Từ đó dân gian mới có lệ, chú rể được mặc áo Trạng Nguyên Tiến Sĩ trong ngày cưới và dán chữ SONG HỈ ở khắp nơi trong nhà khi làm lễ Thành hôn cho đến hiện nay. Ngay cả ở nước Mỹ nầy, trước mắt các nhà hàng đều có sẵn chữ SONG HỈ và hình rồng phụng hai bên trong các phòng ăn rộng dành riêng cho cô dâu chú rể đãi khách trong ngày lễ Tân Hôn.

 

                                                             Đỗ Chiêu Đức

____________________________________________________________________________________________ 

 

 

TRỌN BỘ: CHỮ NHO... DỄ HỌC

 

Click hàng chữ dưới đây để đọc trọn bộ:

Chữ Nho Dễ Học - TÂN HƯNG CÁI RĂNG

 

Xin hân hạnh giới thiệu quyển " Chữ Nho... Dễ Học " của Thầy Đỗ Chiêu Đức với quý Thầy Cô và anh chị em bà con gần xa  .

Với tấm lòng của một Thầy giáo dạy văn muốn ghi lại những hiểu biết về chữ nho bằng lời cắt nghĩa tỉ mỉ dễ hiểu ,giọng văn đơn sơ chân chất của người nam kỳ lục tỉnh , gây nhiều thích thú khi đọc được những điển tích xa xưa mà thuở nhỏ mình chưa hề biết hoặc đã hiểu không chính xác nên làm lệch lạc ý tưởng ngoài ý muốn , thí dụ như ý nghĩa khác nhau của  "bàn hoàn "và " bàng hoàng" hay tại sao mình viết " cầm sắt " bằng chữ t .

Quyển sách được chia thành 38 bài , người đọc không nhứt thiết phải đọc theo số bài thứ tự mà vẫn hiểu được tường tận vấn đề ,và bằng lời viết nhẹ nhàng, tự nhiên mà dí dõm gây cho người đọc cảm giác gần gũi thân tình .

" Chữ nho ... dễ học " như quyển tự điển lôi cuốn với nhiều hình minh họa được sưu tầm đẹp mắt, càng đọc càng thấy mình nhỏ bé trước sự hiểu biết uyên thâm mà Thầy đã rất công phu ghi chép lại cho những ai thích tìm hiểu chữ Việt chữ Hoa và chữ Nho.

Xin trân trọng cám ơn Thầy Đỗ Chiêu Đức đã lưu lại cho chúng em một kho tàng quý giá .!

Học trò THCR

_________________________________________________________________________________________________ 

  

TẢI NGUYỆT MINH QUY

                               Thơ Thiền

______________________________________________________________________________ 



              Bài thơ nầy vốn có tựa là " THUYỀN TỬ HÒA THƯỢNG KỆ " 船子和尚偈, vì Đức Thành Thiền Sư, người gốc Tứ Xuyên,  là một cao tăng ở cuối đời Đường, thọ pháp với Dược Sơn Duy Nghiêm Thiền Sư. Ngày thường ẩn cư ở Tú Châu Hoa Đình, làm nghề đưa đò ở bến đò Ngô Giang, thường thả một lá thuyền con trôi theo dòng nước, tùy duyên mà độ nhật, nên người đời mới gọi là THUYỀN TỬ HÒA THƯỢNG 船子和尚 ( là Hòa thượng Chèo thuyền ), còn có hiệu là Hoa Đình Hòa Thượng 華亭和尚. Sư soạn 39 bài PHẤT TRẠO CA 撥棹歌 ( Bài ca Chèo Thuyền ) ca ngợi đời sống của Ngư dân nhưng lại ngụ Thiền lý trong các lời ca đó.

              Dưới đây là bài thứ nhất trong 3 bài Thất Ngôn tuyệt cú, là bài kệ có ý Thiền được nhiều người biết đến nhất :

 

DCD_Taitrangve_1.jpg

 

                             千尺絲綸直下垂,
                             一波才動萬波隨;
                             夜靜水寒魚不食,
                             滿船空載月明歸。

                  Thiên xích ty luân trực hạ thùy,

                  Nhất ba tài động vạn ba tùy .
                  Dạ tĩnh thủy hàn ngư bất thực,
                  Mãn thuyền không tải nguyệt minh qui !

NGHĨA BÀI THƠ :

                           BÀI KỆ của HÒA THƯỢNG CHÈO ĐÒ
             Sợi tơ nhợ câu cá ngàn thước buông thẳng xuống dưới nước, nước bèn nổi lên một dợn sóng, và dợn sóng nầy lan tỏa thành muôn vạn dợn sóng khác tỏa rộng ra. Đêm yên ắng, nước lạnh căm, nên không có cá cắn câu, đành chở đầy một thuyền trăng trống không mà về !



CHÚ THÍCH :
               TY LUÂN : Dây tơ, dây nhợ, là sợi chỉ. Chữ TY là Tơ. LUÂN là Chỉ dùng để may bìa vải lại cho đừng xút xổ , mà bây giờ ta gọi là chỉ " Vắt Xổ " đó, nên LUÂN THƯỜNG là cái GIỀNG MỐI mà ta phải giữ cho cuộc sống có nề nếp. 
              3 chữ cuối của câu 1 là TRỰC HẠ THÙY, nghĩa là BUÔNG THẲNG XUỐNG, THÙY 垂 là rũ xuống.

              TẢI : là Chở, VẬN TẢI là Chuyên chở.

 Ý BÀI KỆ :  

      
        2 Câu đầu lấy ĐỘNG để tả TĨNH, động tác buông câu là động tác thật nhẹ nhàng, dây câu chạm mặt nước cũng là động tác thật nhẹ nhàng, gợn sóng phát sinh lại càng nhẹ nhàng hơn, tuy nhẹ nhàng nhưng lại lan tỏa ra thành muôn vạn dợn sóng khác, Nhất ba động, vạn ba tùy. Một Ý niệm nảy sinh, gây mầm cho muôn vạn Ý niệm khác nảy sinh, đây chính là Ý THIỀN của 2 câu thơ đầu.
        2 câu thơ cuối đều qui về một chữ KHÔNG. Đêm vắng lặng, nước lạnh lẽo, cá chẳng cắn câu, tất cả là nhân tố của cái kết quả : " Chở đầy một thuyền toàn là ánh trăng mà về ! ". Thuyền đầy ánh trăng là " Sắc tức thị Không ". Ánh trăng huyền ảo mông lung đẹp đẽ nhưng lại " Không có gì cả ! ",  là "Không tức thị Sắc" đó!

DIỄN NÔM :

 

DCD_taitrangve_2.jpg

                     BÀI KỆ CỦA HÒA THƯỢNG CHÈO THUYỀN


                    Ngàn thước dây câu vừa thả xuống,
                    Muôn ngàn dợn sóng gợn li ti.
                    Đêm thanh nước lạnh không tăm cá,
                    Chở một thuyền trăng chẳng có chi !


LẠI DIỄN :
                   Ngàn thước nhợ câu thả xuống sông,
                   Một dợn muôn ngàn sóng lăn tăn,
                   Đêm yên nước lạnh im hơi cá,
                   Chở một thuyền về chỉ ánh trăng !


                                                              Đỗ Chiêu Đức.

Mailoc phỏng dịch: 

      Chở Trăng Về

Tơ nghìn thước dây câu sông thả,

Một sóng đầu lan toả vạn sau.

Đêm yên nước lạnh cá đâu!

Thuyền không đầy ấp trăng thâu người về.

                 Mailoc phỏng dịch

Bản dịch Phạm Khắc Trí: 

 

             Tải Nguyệt Minh Quy  

PKT 07/07/2014

 

Ngàn thước dây câu buông thẳng xuống ,

Sóng lan thành vạn sóng lăn tăn  ̣

Đêm thanh , nước lạnh , không tăm cá ,

Thuyền trống , đường về , đầy ánh trăng  ̣

PKT 

 


Mai Xuân Thanh:

Theo Bản Dịch & Diễn Nôm Ý Bài Kệ - ĐCĐ :

1) : Sắc Sắc Không Không

 

Chỉ tơ nghìn thướt thả buông sông

Sóng tỏa một lan  nối vạn vòng

Nước lạnh đêm thanh đâu thấy cá

Thuyền đầy, chở ngập ánh trăng không...

 

Mai Xuân Thanh

Ngày 13 tháng 08 năm 2017

 

2) : Bài kệ : Chỉ chở Trăng không, thấy ngập thuyền

 

Nghìn thước dây, sông thả xuống ngang

Sóng xao cứ một tỏa lan ngàn

Đêm thâu lạnh lẽo nào đâu cá

Thuyền vớt trăng không, ngập ánh vàng

 

Mai Xuân Thanh

Ngày 13 tháng 08 năm 2017

 

Phương Hà: 

Chở ánh trăng về

 

Sợi tơ ngàn thước thẳng buông sông

Sóng một vòng lan tỏa vạn vòng

Nước lạnh trời đêm không gợn cá

Thuyền về chở ngập ánh trăng trong.

 

 Phương Hà phỏng dịch

_______________________________________ 

 

Bốn bài NGŨ NGÔN TỨ TUYỆT

 

1. TƯ QUY của VƯƠNG BỘT.
      VƯƠNG BỘT ( 650-676 ), tự là Tử An. Người đất Giáng Châu Long Môn ( thụộc Hà Tân Sơn Tây hiện nay ). Ông nội là Vương Thông, hiệu là Văn Trung Tử, học giả nổi tiếng cuối đời nhà Tùy. Cha là Vương Phước Chỉ, giữ chức Thái Thường Bác Sĩ, Ung Châu Tư Công đời Đường.
      VƯƠNG BỘT cùng với Dương Quýnh, Lư Chiếu Lân, Lạc Tân Vương văn tài thi tài ngang nhau, người đời xưng là " Sơ Đường Tứ Kiệt ". Bột đứng đầu Tứ Kiệt, nổi tiếng bất hủ với bài " Đằng Vương Các Tự ", để lại một giai thoại văn chương về câu nói " Thời lai phong tống Đằng Vương Các ", và còn để lại rất nhiều ảnh hưởng cho văn học đời sau bằng các thành ngữ còn thông dụng đến hiện nay.
       Sau đây là một bài Ngũ Ngôn Tứ Tuyệt nổi tiếng của ông.


    思歸                     TƯ QUY
長江悲已滯,       Trường Giang bi dĩ trệ,
萬里念將歸。     Vạn lí niệm tương quy. 
況屬高風晚,       Huống thuộc cao phong vãn, 
山山紅葉飛。     Sơn sơn hồng diệp phi.
           王勃                             Vương Bột

dcd_vuongbot_1.jpg 

CHÚ THÍCH :

       Câu 3 & 4 của bài nầy còn có dị bản là :
           Huống PHỤC cao SƠN VIỄN,          況復高山遠,  
           Sơn sơn HOÀNG diệp phi.              山山黃葉飛。
    HUỐNG THUỘC hay HUỐNG PHỤC gì đều có nghĩa là : Hơn nữa, Vả lại...
    CAO PHONG VÃN : là Gió thu trên cao thổi vi vút vào buổi chiều tối, còn ...
    CAO SƠN VIỄN : là Núi cao chập chùng xa xăm diệu dợi.
    BI DĨ TRỆ : là Nỗi sầu cô đọng lại như nước Trường Giang lửng lờ ( như không trôi chảy ).
    NIỆM TƯƠNG QUY : là Chỉ mới có Ý niệm sẽ quay trở về mà thôi. ( Ý nói: Muốn về mà không về được!)
    HỒNG DIỆP hay HOÀNG DIỆP gì cũng đều là lá mùa thu, và cũng đều nên thơ cả ! Có điều, người Việt ta thì hay dùng " Lá Vàng " để chỉ mùa thu, còn người Hoa thì hay dùng " Lá Đỏ ", vì họ có nhiều rừng phong đỏ thắm lúc thu về, còn ta thì lại có :
                   " Lá VÀNG trước gió sẻ đưa vèo ! "...
  hoặc thi vị hơn như Tản Đà :
                  " Trận gió thu phong cuốn lá VÀNG,
                    Lá bay hàng xóm lá bay sang....
       để rồi...
                    Hờ hững ai xui thiếp phụ chàng ! "

dcd_vuongbot_2.jpg

 

DIỄN NÔM :

                    MUỐN VỀ
           Trường Giang sầu nước lửng,
           Muôn dặm muốn về ngang.
           Núi cao ngăn quê cũ ,
           Non non rụng lá vàng !
   Lục bát :
           Trường Giang nước đọng lòng sầu,
           Xa nhà muôn dặm mấy thâu muốn về.
           Núi cao ngăn cách làng quê,
           Muôn chiều lá đổ ủ ê lòng sầu !
                                                 Đỗ Chiêu Đức

2. TUYỆT CÚ của ĐỖ PHỦ : 

        Bài thơ nầy được làm vào cuối xuân năm Quảng Đức thứ 2 đời Đường Đại Tôn ( 764 ), lúc bấy giờ, Thi Thánh Đỗ Phủ đang ở Thành Đô ( Tứ Xuyên ), mặc dù tha hương nhưng cuộc sống đã tạm ổn định, nhớ quê nhưng tâm lý đã khá thoải mái.


      絕句                   TUYỆT CÚ   
   江碧鳥逾白,     Giang bích thủy du bạch,
   山青花欲燃。     Sơn thanh hoa dục nhiên.
   今春看又過,     Kim xuân khan hựu quá,
   何日是歸年.       Hà nhật thị qui niên ?!
              杜甫                               Đỗ Phủ

dcd_DoPhu_3.jpg 

 

 

CHÚ THÍCH :

      Bài thơ nầy được Thi Thánh Đỗ Phủ làm vào mùa xuân năm Quảng Đức thứ hai đời Đường Đại Tôn. Lúc nầy ông đang tạm cư ở Thành Đô, cuộc sống tạm ổn định, mặc dù xa quê nhưng trong lòng cũng tạm thoải mái bớt day dứt, nên lời thơ cũng nhẹ nhàng gợi cảm hơn.
    BÍCH 碧 : là BIẾC. Ta thường hiểu là XANH thì mới BIẾC. Thật sự BÍCH là chỉ cái sắc ÓNG ÁNH, như Cẩm Thạch  " Lên Nước " thì gọi là BÍCH, bất cứ nó ửng lên màu gì đều là " BÍCH " cả !.   
    DU 逾 :là Càng hơn, là Vượt quá.
    DỤC 欲 :là Muốn, là Giống Như.
    NHIÊN 燃 :là Cháy, Ở đây có nghĩa là Rực Rỡ.
    QUÁ 過 :là Qua, là Đi Qua.
    HÀ 何 :Nghi Vấn Từ, có nghĩa là GÌ, NÀO, SAO... Như : HÀ SỰ là Việc gì ?, HÀ NHÂN là Người Nào?, HÀ CỐ là Cớ Sao ?. Trong câu thơ HÀ NHẬT là Ngày Nào ?

 

DỊCH NGHĨA :
        Nước của dòng sông càng xanh biếc thì những cánh chim bay lượn trên sông càng trắng hơn thêm, núi càng xanh hơn thì muôn hoa càng như rực rở hơn lên như muốn bốc cháy. Trước mắt ta mùa xuân lại sắp đi qua nữa rồi, không biết là đến năm nào mới có được ngày quay trở lại quê hương đây ?!.

dcd_DoPhu_4.jpg

 

DIỄN NÔM :         


                     TUYỆT CÚ
             Nước biếc chim càng trắng,
             Núi xanh hoa rực hương.
             Nay nhìn xuân lại hết,
             Biết thuở nào hồi hương ?!


 Thất ngôn :
            Trắng xóa cánh chim làn nước biếc,
            Hoa như rực lửa núi càng xanh.
            Mắt trông xuân lại qua lần nữa,
            Quê cũ năm nào lại gặp anh ?!


                                                Đỗ Chiêu Đức

           

3. KIẾN VỊ THỦY TƯ TẦN XUYÊN của SẦM THAM .


        SẦM THAM 岑參 ( 715-770 ), người gốc Nam Dương ( thuộc Tân Dã, tỉnh Hà Nam hiện nay ), sau thuyên cư về Giang Lăng ( Tỉnh Hồ Bắc hiện nay ), đậu Tiến Sĩ năm Thiên Bảo thứ ba năm 30 tuổi. Ông là thi nhân nổi tiếng đời Đường, chuyên về thơ biên tái 7 chữ, giọng thơ hào hùng, sức tưởng tượng phong phú, đầy màu sắc lãng mạn. Ông mất lúc 56 tuổi.

 

     見渭水思秦川      KIẾN VỊ THỦY TƯ TẦN XUYÊN

            
  渭水東流去,        Vị Thủy đông lưu khứ, 
      何時到雍州。        Hà thời đáo Ung Châu ?
  憑添兩行淚,        Bằng thiêm lưỡng hàng lệ,
      寄向故園流。        Kí hướng cố viên lưu  !

                 岑參                                    Sầm Tham

dcd_samTham.jpg 

CHÚ THÍCH :

      VỊ THỦY 渭水:Còn gọi là Vị Hà, từ Cam Túc chảy qua Thiểm Tây đổ vào sông Hoàng Hà ra biển.
      TẦN XUYÊN 秦川:Địa danh xưa, tức tỉnh Thiểm Tây ngày nay. Trong thơ chỉ đất Quan Trung, là một dãi đất ở trung bộ tỉnh Thiểm Tây.
      UNG CHÂU 雍州:Một trong chín Châu ngày xưa, bao gồm một phần của tỉnh Cam Túc và một dãi của tình Thiểm Tây ngày nay.
      CỐ VIÊN 故园:Vườn Cũ, chỉ Cố Hương, nơi được sanh ra và lớn lên.

DỊCH NGHĨA :
              THẤY DÒNG SÔNG VỊ MÀ NHỚ TẦN XUYÊN
     Dòng sông Vị chảy về đông, không biết bao giờ mới đến được xứ Ung Châu quê ta.( Nay ta thương nhớ quê hương mà không về được, nên...) chỉ còn có nước nhỏ thêm hai hàng lệ nhớ quê xuống sông, nhờ nước sông mang hai hàng lệ nhớ thương nầy về với cố hương quê ta mà thôi !

 

DIỄN NÔM :


             TRÔNG SÔNG VỊ NHỚ TẦN XUYÊN


                   Xuôi đông sông Vị chảy,
                   Ung châu ngang quê nhà.
                   Ta thêm hai hàng lệ,
                   Về tận cố hương xa !

  Gián Cách :
                   Sông Vị chảy về đông,
                   Uông Châu bao giờ đến ?
                   Ta thêm lệ đôi dòng,
                   Gởi cố hương yêu mến !
    Lục Bát :
                  Về đông sông Vị chảy mau,
              Bao giờ mới đến Ung Châu quê nhà ?
                  Nhỏ hai hàng lệ thiết tha,
              Gởi về tận chốn quê xa mịt mùng !


                                                         Đỗ Chiêu Đức

 

4. TĨNH DẠ TƯ của LÝ BẠCH :


       Bài thơ TĨNH DẠ TƯ của Thi Tiên LÝ BẠCH với lời lẽ mộc mạc, giản dị, nhưng lại rất thực tế, nhân bản, dễ đi sâu vào lòng những người tha hương cô thân chiếc bóng, lòng nhớ quê luôn canh cánh khôn nguôi !


    靜夜思                    TĨNH DẠ TƯ
  床前明月光,          Sàng tiền minh nguyệt quang,
      疑是地上霜。        Nghi thị địa thượng sương.
    舉頭望明月,        Cử đầu vọng minh nguyệt,
      低頭思故鄉。        Đê đầu tư cố hương !
                 李白                            LÝ BẠCH

dcd_LyBach.jpg 

CHÚ THÍCH :

    Chữ 靜 được phát bằng 2 âm TỊNH và TĨNH, nhưng nghĩa thì lại như nhau. TĨNH DẠ 靜夜 : là Trong đêm thanh vắng. Đêm vắng lặng.
    NGHI 疑 : là Nghi Ngờ. Ở đây có nghĩa là NGỠ là , Tưởng là. 
    CỬ ĐẦU : là ngước đầu, là ngẩn đầu lên.
    ĐÊ ĐẦU : là Cúi đầu xuống.

 

NGHĨA BÀI THƠ :
                     NỖI NHỚ NHUNG TRONG ĐÊM VẮNG VẺ
       Trước giừơng ta nằm, ánh trăng sáng vằng vặc đang chiếu rọi, ánh trăng huyền ảo mơ màng như có một làn sương mỏng phủ trùm cả đất trời. Trong đêm vắng lặng nầy, ta không sao chợp mắt được. Ngước đầu nhìn lên vầng trăng sáng như thuở nào, nên khi cúi đầu nhìn xuống lại tưởng nhớ đến quê hương !

       Tình cảm mộc mạc mà chân thật biết bao, nên chi bài thơ với những từ rất giản dị lại cũng rất dễ đi vào lòng người suốt trên ngàn năm nay !

 

DIỄN NÔM :     


                     NHỚ QUÊ ĐÊM VẮNG


                 Trước giừơng nhìn trăng sáng,
                 Mông lung ngỡ sương đêm.
                 Ngữa trông vầng trăng bạc,
                 Nhớ quê dạ buồn thêm !
 Lục bát :
                 Trước giừơng nhìn ánh trăng trong,
              Mông lung cứ ngỡ sương lồng bóng mây.
                 Ngữa trông trăng sáng đêm nay,
              Cúi đầu lòng những ai hoài nhớ quê !


                                                   Đỗ Chiêu Đức 

____________________________________________________________________________________________________________________ 

 

 

 

                                                  THƯƠNG HOÀI NGÀN NĂM

 Nhân Hội Cao Niên của Trung Tâm VIỆT MỸ Houston TX tổ chức  wedding  Anniversary  cho các cặp đôi Cao Niên.  Đỗ Chiêu Đức có làm một bài thơ tặng cho " Bà Xã " để kỉ niệm 43 năm ngày cưới.  

DCD_weddingAnni.jpg

 

                        Thương hoài mãi ngàn năm,
                        Trót nên duyên sắt cầm.
                        Vấn vít tình sinh nghĩa,
                        Vợ chồng : Nghĩa trăm năm !


       Một nửa đây rồi một nửa ơi !
       Bốn mươi năm lẻ mấy xa vời ?
       Đồng cam cộng khổ bao năm tháng,
       Thoáng chốc tuổi già đã đến nơi !!!


                     Nhớ hồi son giá mắt em cười,
                     Xao xuyến lòng anh biết mấy mươi.
                     Đôi lứa chung lưng tìm hạnh phúc,
                     Con thơ từng đứa điểm tô đời !


       Rồi những tháng ngày khói lửa,
       Lên đường nhập ngũ phận trai,
       Nuôi dạy con thơ, cha mẹ,
       Thân cò lặn lội đêm ngày !


                     Thương em vất vả lòng luôn nhớ,
                     Tiếng mẹ hát ru vẳng đáy lòng...
                     Ầu ơ...Con cò lặn lội bờ sông,
                     Tuổi xuân mòn mõi má hồng phôi pha !...

          

          Em là hiền phụ,
          Quán xuyến trong ngoài.
          Thờ cha kính mẹ,
          Chẳng chút đơn sai !


                Tào khang là tấm mẵn,
                Cùng chịu cảnh cơ hàn.
                Mong một ngày lại sáng,
                Hết cơ cực lầm than !

                 ................................


         Qua rồi những tháng ngày cay nghiệt,
         Sống chết cận kề thật mỏng manh.
         Hết cơn vận bỉ thời lại thái,
         Đoàn viên dệt lại mộng ngày xanh !

 

 

                 Quê người xây dựng lại,

                 Cuộc sống lứa đôi mình.
                 Bốn mươi năm kỉ niệm,
                 Hạnh phúc lại hồi sinh !

Nay thì...
         Trưởng thành con cái nên danh,
         Yên bề gia thất cho đành lòng nhau.
         " Trải qua một cuộc bể dâu ",
         Giờ là hạnh phúc còn cầu gì hơn ?!


               An bày hiện hữu vuông tròn,
               An cư lạc nghiệp không còn bôn ba.
               Đoàn viên sum họp một nhà,
               Hấp Hôn VIỆT MỸ ông bà đều vui.


         Tào khang nghĩa nặng ai ơi !
         Răng long đầu bạc chẳng rời xa nhau.
         Nội ngoại con cháu lao xao,
         Vui nầy còn có vui nào vui hơn ?!



                 Bền lòng một dạ sắt son,
                 Thong dong đi hết đường trần chông gai.
                 Phu thê đã biết bao ngày,
                 Ngàn năm gắn bó, THƯƠNG HOÀI NGÀN NĂM !!!


                                                                  Đỗ Chiêu Đức 

dcd_weddingAnni_2.jpg

 

  Xin chúc mừng 43 năm ngày cưới của anh chị Đỗ Chiêu Đức- Lương Tố Quyên bằng hai câu thơ tiếp vần với hai câu trong bài Thương Hoài Ngàn Năm:

Một nửa đây rồi một nửa ơi!

Bốn mươi năm lẻ mấy xa vời? " ( ĐCĐ )

 

Thêm ngàn năm tới luôn kề cận

Gắn bó yêu thương mãi chẳng rời. (PH )

 

Dù cho vật đổi sao dời,

Đôi ta kiếp kiếp đời đời bên nhau (QĐ)

 

Bốn ba năm trãi ngọt ngào

Hôn nhân, đằm thắm biết bao ân tình (MXT)

 

Dẫu đã biết ba sinh hương lửa

nhưng nào ai chọn lựa cơ trời

Bốn ba năm nặng nợ rồi

thì xin giữ lấy trọn đời bên nhau (TBT) 

 

Hương ba sinh biết bao thử thách,

 Nghĩa tào khang son sắt sáng ngời.

 Em là một nửa của tôi,

 Bốn mươi năm lẻ tuyệt vời tình ta. (ML) 

 

    Mái ấm gia đình chung cảnh ngộ

    Vượt qua bao gian khổ mới an

    Thương chồng chia xẻ với chàng

     Bách niên giai lão tào khang mặn nồng (MXT)

 

Đời đẹp mảng sương pha màu tóc

Lòng thủy chung hái lộc ân tình

Thời gian ấp bóng ôm hình

Nàng ơi thương gọi là mình với ta. (Mai Thắng)

 

Duyên nợ ba sinh tròn đạo nghĩa

Bốn ba năm hương lửa bền lâu

Xin gìn giữ lấy bên nhau

Răng long tóc bạc nghìn sau vững vàng.(Song Quang)

             

Sách Tăng Quảng ngày xưa có dạy,

Vợ chồng là kim cải nhân duyên :

" Bách thế tu lai đồng thuyền độ,

  Thiên thế tu lai cộng chẩm miên." ( Đỗ Chiêu Đức )

 

GHI CHÚ :

           百 世 修 來 同 船 渡,   Bách thế tu lai đồng thuyền độ,

           千 世 修 來 共 枕 眠.   Thiên thế tu lai cộng chẩm miên.   
   
 Chú Thích :   
         THẾ : là Đời, Kiếp. BÁCH THẾ : là Trăm đời, Trăm kiếp. THIÊN THẾ : là Ngàn đời, ngàn kiếp. VẠN THẾ : là Muôn đời, Muôn kiếp. Khổng Tử được xưng tụng là " VẠN THẾ SƯ BIỂU " : là Người Thầy tiêu biểu của Muôn đời.
         ĐỘ : có 3 chấm thủy, nên có nghĩa là : Đi ngang qua Sông Hồ Ao Biển. Đồng Thuyền Độ : là  Cùng đi chung một thuyền.  
         CHẨM : là Cái Gối để nằm. Cộng Chẩm Miên : là Cùng nằm chung Gối để ngủ.


NGHĨA 2 CÂU trên :    
      
         Cùng tu với nhau một trăm kiếp, mới có cái duyên được đi chung thuyền với nhau. ( đồng hội đồng thuyền ). Cùng tu với nhau một ngàn kiếp mới ngủ chung gối với nhau được ! 

   
         Dù nói cách nào, cũng cho thấy là phải khó khăn vất vả lắm mới thành vợ thành chồng với nhau được, và quan hệ vợ chồng là cái gì đó thiêng liêng cao cả lắm, được gởi gắm vào 2 chữ Nhân Duyên do nơi tiền định, thiên định, chớ không phải sức người mà làm nên được. Nên ta phải biết trân trọng tình nghĩa vợ chồng , không thể động một chút là ly thân, ly dị.... mà phải biết gắn bó nhau để xây dựng hạnh phúc gia đình. Quan hệ vợ chồng là một trong ba cái giềng mối của xã hội phong kiến ngày xưa : Quân Thần, Phụ Tử, Phu Phụ. Nên không thể xem thường được, cho dù trong xã hội ngày nay, đơn vị Gia Đình vẫn là nền tảng chủ yếu của bất cứ xã hội hay quốc gia nào, mà  trong Gia Đình thì không thể vắng bóng cặp đôi nồng cốt là Vợ Chồng cho được.

 

tl_2birds.jpg

 

CHÚC MỪNG! CHÚC MỪNG                        

Đức Khổng Tử Nói Về Mình

 

.

            Mùng 5 tháng 8 Âm lịch là ngày sanh của Đức Khổng Phu Tử. Năm nay nhằm ngày Thứ Năm  17 tháng 9 Dương lịch. Cuộc đời của ông Thánh nầy cũng lắm gian truân chìm nổi cũng như  cuộc đời của bao người khác, Ông mất lúc 73 tuổi, là tuổi thượng thọ lúc bấy giờ, và để lại một câu nói bất hủ thu tóm toàn bộ cuộc đời của ông như sau...

      《論語 · 為政第二》講要.
       ◎子曰:吾,十有五,而志于學,三十而立,四十而不惑,五十而知天命,六十而耳順,七十而從心所欲,不踰矩。

      [Luận Ngữ. Vi Chính đệ nhị] Giảng Yếu.

   Tử viết: Ngô, thập hữu ngũ, nhi chí vu học, tam thập nhi lập, tứ thập nhi bất hoặc, ngũ thập nhi tri thiên mệnh, lục thập nhi nhĩ thuận, thất thập nhi tòng tâm sở dục, bất du củ.

DCD_KhongTu.jpg 

 

Chú thích:

      * Tử Viết: là Khổng Tử Nói rằng.
      * Ngô: là Đại Danh từ Ngôi thứ Nhất: Tôi, Ta, Tao...
       *Nhi: là Thì, Là (Verbe Auxilière).
       *Vu: là Về.. cái gì đó. Ở... việc gì đó.
       *Lập: là Lập Thân, là Đứng vững được trong cuộc sống, là Thành Tài rồi. Có sự nghiệp, có công ăn việc làm rồi.
       *Bất Hoặc: là Không còn Nghi Hoặc, Ngờ Vực gì nữa. Chỉ Kiến thức đã chín chắn, ổn định.
       *Tri Thiên Mệnh: là biết được cái Mệnh Trời, An phận theo cái mình đã có, theo khả năng của mình , mà không đòi hỏi, so bì, bon chen nữa!.
       *Nhĩ Thuận: là Lỗ Tai Xuôi, có nghĩa là đã biết phân biệt một cách rõ ràng, nghe điều gì đó là biết ngay điều đó tốt hay xấu, thiện hay ác, đúng hay sai....
       *Tòng Tâm Sở Dục: Tòng tâm là Theo Lòng Mình. Sở dục là Cái mà Mình Muốn. Tòng Tâm Sở Dục là Làm những cái mà lòng mình muốn làm, có nghĩa Muốn gì thì cứ làm nấy!
       *Bất Du Củ: Du 踰 có bộ Túc là Cái Chân ở bên Trái, nên Du có nghĩa là Trèo qua. Trong Truyện Kiều giảng tích "Tường đông ong bướm đi về mặc ai "bằng câu" Du đông lân nhi lâu kì xứ nữ", tức là "Trèo qua bức tường phía đông để ôm lấy cô gái bên đó.". Nhưng...
        ... trong câu nói trên Du có nghĩa là Vượt qua. Còn...
       *Củ 矩: là Cái Khuôn dùng để kẻ Hình Vuông, là Cái Ê-Ke. Nghĩa bóng là Cái Khuôn Phép. Nên...
       Bất du củ là: Không vượt qua cái khuôn phép đúng đắn bình thường trong cuộc sống. Sẵn nhắc lại chữ...
       *Quy 規: là Dụng cụ dùng để kẻ đường tròn, là Cái Com-pa đó. Nên...
       Không có Quy thì Kẻ không Tròn, không có Củ thì Vẽ không Vuông. Nên Quy củ là cái khuôn phép mà ta phải tuân theo. Nội quy là những điều khoản Quy định của một Tổ chức, Cơ quan... nào đó mà tất cả thành viên trong đó phải tuân hành. Nên câu nói của Đức Khổng Tử...

     Có thể hiểu nghĩa một cách đơn giản như thế nầy:

      Khổng Tử nói rằng: Ta, lúc 15 tuổi, thì chí ở học hành, 30 tuổi thì đã lập thân được, 40 tuổi thì không còn nghi hoặc điều gì nữa, 50 tuổi thì biết đến mạng trời, 60 tuổi thì nghe đã biết điều phải trái, 70 thì có thể làm theo những gì mà trong lòng mình muốn, vì nó không có đi quá lố ngoài khuôn phép nữa .

      Đây là câu nói của Đức Khổng Tử nói về bản thân Ngài, nhưng thường được người đời đem ví với bản thân mình, thậm chí đem... áp dụng chung cho tất cả mọi người, cho nên ta thường nghe nói...

... Ba chục tuổi là tuổi Lập Thân, Năm chục tuổi là tuổi Tri Thiên Mệnh... thậm chí nói Tam Thập Nhi Lập là... Đàn Ông con trai tới tuổi ba mươi là phải lấy vợ, phải lập gia đình, thì mới lập thân được, nhưng vì điều nầy cũng hợp lí và thực tế , cho nên mọi người đều noi theo. Tôi còn nhớ một câu Nho mà Ba tôi thường nói khi... ép tôi cưới vợ là:

                      Nam đại bất hôn như liệt mã vô cương.  男大不婚如烈馬無韁

    Có nghĩa:

       Con trai lớn mà không kết hôn thì giống như con ngựa chứng (Liệt mã là con ngựa xấu, ngựa chứng!) mà không có dây cương vậy (sẽ phóng càn, phóng ẩu, phóng... túng, vì không có ai kềm chế, cưới cho con vợ để có người "cằn nhằn" và xì-tóp bớt lại, thì mới Trụ và mới làm nên sự nghiệp được!). Nên ông bà ta cứ nghĩ...

       Tam thập nhi lập là 30 tuổi thì phải Lập Gia Đình, không lập gia đình thì... Nó sẽ nổi máu "giang hồ" rồi không làm nên cơm cháo gì cả!.  Còn

     Ngũ Thập Tri Thiên Mệnh, là đến tuổi 50 nên an phận mà không còn muốn bon chen nữa, vì số trời đã định như thế rồi ! Sự thật thì ở Mỹ hiện nay, tuổi 50 là tuổi đã chín chắn về mọi mặt, kiến thức đã phong phú, kinh nghiệm sống dồi dào, nghề nghiệp đã vững chắc ổn định, tiềm năng về kinh tế cũng đã có cơ sở, credit đầy đủ... chính là cái tuổi phát triển sự nghiệp tốt nhất của con người.... chớ không phải Tri Thiên Mệnh mà buông xuôi tất cả!!!. Khổng Tử chỉ muốn nói về mình, khi đến 50 tuổi thì biết được mệnh trời, tức là biết được cái hoàn cảnh xã hội chung quanh mình đang sống, biết được cái khả năng và cái tài năng của mình như thế nào, để không đòi hỏi đua đòi những điều quá đáng mà phải biết an phận với cái mà mình đang có trước mắt hợp với sở năng của mình, chớ không phải mê tín buông xuôi cho số phận!. Về...

          Tứ thập nhi bất hoặc: 40 tuổi thì không còn Nghi hoặc gì nữa, Ý nói, tuổi 40 thì sự hiểu biết đã Chính chắn, gặp chuyện gì đó đã biết và dám đưa ra quyết định theo nhận thức của mình, chớ không còn Nghi hoặc chần chừ không biết phải quyết định như thế nào của tuổi 30 nữa! Bất hoặc là thế!

           Lục thập nhi nhĩ thuận là: 60 tuổi thì tai đã xuôi, đã thông. Có nghĩa: Khi nghe điều gì đó thì đã biết ngay là điều đó đúng hay sai, phải hay không phải, nên hay không nên nghe theo, cũng có nghĩa là sự nhận xét phán đoán đã nhuần nhuyễn. Trái với Nhĩ thuận là Nhĩ nghịch là Trái Tai Gai Mắt!

           Thất thập nhi tòng tâm sở dục, Bất du củ là: 70 tuổi thì có thể làm theo những điều gì mà mình đã nghĩ đã muốn làm, vì những điều đó không có vượt quá qua khuôn phép đâu! Ý muốn nói, trong phép tu thân thì đến tuổi 70 đã hoàn hảo lắm rồi, có thể làm theo những gì mình muốn mà không sợ quá đáng! Đây là câu nói hướng thiện, luôn luôn theo hướng phấn đấu tốt mà vươn lên, chớ không phải câu nói Tự hào là mình đã Hoàn thiện không còn sai sót nữa!  Và cũng không có nghĩa là hễ đến 70 tuổi là làm việc gì cũng đúng cả như người đời thường lầm tưởng!

        Vì là câu nói của ông Thánh, cho nên người đời hay lấy đó làm chuẩn mực để phân định tuổi tác của mọi người, mặc dù cái chuẩn mực đó đã bị lệch nghĩa so với Ý chính của câu nói ở lúc ban đầu, như...

       Tuổi 30 thì gọi là " Tuổi Nhi lập ", và hiểu là đã đến tuổi phải Lập Gia Đình, phải Thành Gia Lập Thất, phải Cưới Vợ, phải Ổn Định Sự Nghiệp...

       Tuổi 40 thì gọi là " Tuổi Bất hoặc ", và gọi thì gọi thế, nhưng rất nhiều người không hiểu Bất Hoặc là gì, chỉ nghe người ta gọi thì gọi theo mà thôi! Hoặc chỉ hiểu nghĩa lờ mờ, Bất Hoặc là không còn nghi hoặc gì nữa, mà không biết tại sao lại không còn nghi hoặc, và tại sao lại gọi thế ?!.

       Thông dụng nhất là tuổi 50, được gọi là " Tuổi Tri thiên mệnh ", và thường hay có tâm lí an phận và buông xuôi mà không muốn phấn đấu để vươn lên nữa! Và cũng thường dùng để tự an ủi khi thất bại hoặc trắc trở về mặt sự nghiệp trong độ tuổi nầy!.

       Sáu mươi tuổi thì gọi là " Tuổi Nhĩ Thuận ", Nhĩ thuận là xuôi tai, nhưng lại nghe rất lạ tai, mà không hiểu tại sao gọi thế, cũng như...

      Tuổi 70, thì gọi là " Tuổi Tòng tâm sở dục, Bất du củ! " Rất nhiều người không hiểu câu nói nầy có nghĩa gì cả! Khác với dân gian hay gọi 70 tuổi là tuổi Cổ lai hy, theo Ý của 2 câu thơ trong bài Khúc Giang của Thi Thánh Đỗ Phủ đời Đường là:

                      Tửu trái tầm thường hành xứ hữu,   酒債尋常行處有,
                      Nhân sanh thất thập Cổ lai hy.         人生七十古來稀.

   .... nghe thi vị và hay hơn nhiều!

       Nhưng...

        Vì là câu nói của ông Thánh Khổng nên mọi người đều muốn nhái theo xem có được như... Thánh hay không? Âu cũng là việc tốt mà thôi!

       Theo tài liệu thống kê dân số đời Đường, thì tuổi thọ của con người ta lúc bấy giờ chỉ trên dưới 45 tuổi mà thôi, nên mới bảo là "Thất thập Cổ Lai Hy", chớ bây giờ, nhất là ở nước Mỹ nầy thì 70 tuổi hễ ra đường là thấy liền ngay mấy cụ...

        Càng ngày tuổi thọ con người càng cao, nên ngày Lễ Ông bà càng cần thiết và càng có Ý nghĩa hơn lên!

 Đỗ Chiêu Đức

 

TỪ đời Minh :

 

                       LÂM GIANG TIÊN

                                                            DƯƠNG THẬN

 

         DƯƠNG THẬN 楊慎 ( 1488-1559 Tương đương thời kỳ Văn Hoá Phục Hưng của Phương Tây ). Ông là Văn Học gia đời Minh, tự là Dụng Tu 用修, hiệu là Thăng Am 升庵. Người đất Thành Đô. Đậu Tiến Sĩ hạng nhất năm Chánh Đức thứ 6 đời Minh Võ Tông. Ông là người đất Thục ( tỉnh Tứ Xuyên ) duy nhất đậu Trạng Nguyên dưới triều nhà Minh. Dương Thận tính tình cương trực, gặp việc thì nói thẳng, nên vào đời Minh Thế Tông năm Gia Tĩnh thứ 3 bị biếm đến Vân Nam và mất ở nơi nầy sau hơn ba mươi năm đi đày. Đến năm Thiên Khải đời Minh Hi Tông ( 1621-1627 ) mới được truy phong " Văn Hiến ". Trứ tác của ông còn để lại trong " Thăng Am Tập ".

       Dương Thận là người học rộng biết nhiều, Minh Sử ghi ông là người trứ tác phong phú. Trong " Nhị Thập Nhất Sử Đàn Từ " kể lại lịch sử từ đời Tam Đại cho đến đời Nguyên và cuối đời Minh, văn phong lưu loát, được truyền tụng rộng rãi trong dân gian.

       LÂM GIANG TIÊN là bài từ của ông viết để mở đầu khai quyển cho TAM QUỐC DIỄN NGHĨA của La Quán Trung đã làm tăng thêm sức thu hút của quyển truyện nầy.

       LÂM GIANG TIÊN 臨江仙 là " Tiên trên bến sông ", là TÊN của một THỂ LOẠI " Từ " chuyên tả Thủy Tiên mà thành tên. Với nhịp đôi gồm 58 hoặc 60 chữ, đều gieo thành vần Bằng.

        Bài " Lâm Giang Tiên " của Dương Thận viết để đề từ cho quyển Tam Quốc Chí rất nổi tiếng, gồm có 60 chữ và được gieo vần Bằng như sau :

 

    臨江仙.                           LÂM GIANG TIÊN

              楊慎                                     Dương Thận

 

滾滾長江東逝水,   Cổn cổn Trường Giang đông thệ thủy, 
浪花淘盡英雄。      Lãng hoa đào tận anh hùng.
是非成敗轉頭空。   Thị phi thành bại chuyển đầu không. 
青山依舊在,         Thanh sơn y cựu tại,

幾度夕陽紅。         Kỷ độ tịch dương hồng. 
白髮漁樵江渚上,   Bạch phát ngư tiều giang chử thượng, 
慣看秋月春風。      Quán khan thu nguyệt xuân phong. 
一壺濁酒喜相逢。   Nhất hồ trọc tửu hỉ tương phùng.
古今多少事,         Cổ kim đa thiểu sự,

都付笑談中.           Đô phó tiếu đàm trung !

 

CHÚ THÍCH :

   1. ĐÔNG THỆ THỦY : THỆ là Mất, là Chết. THỆ THẾ 逝世 là Từ trần. Nên Đông Thệ Thủy 東逝水 là Nước chảy mất hút về hướng đông không trở lại.

   2. ĐÀO TẬN : là Đào thãi hết, đào thãi sạch sẽ không chừa ai cả.

   3. CHUYỂN ĐẦU : là Quay đầu nhìn lại, chỉ thời gian rất nhanh.

   4. BẠCH PHÁT : Tóc trắng, chỉ người gìa.

   5. NGƯ TIỀU : là Ngư Ông và Tiều Phu, nhưng ở đây là Động Từ, có nghĩa là : Bắt cá và đốn củi.

   6. CHỬ : là Bãi nước, là Bến nước , là Cồn ở giữa sông.

   7. QUÁN KHAN : đã quen nhìn, đã thường thấy.

   8. THU NGUYỆT XUÂN PHONG : chỉ Thời gian lần lựa, hết thu nguyệt thì tới xuân phong và ngược lại.

   9. TRỌC TỬU : không phải là rượu dơ, mà là rượu thường của giới bình dân uống thường ngày, chưa được tinh chế chắc lọc.

  10. PHÓ : là Phó mặc, là mặc cho.

 

NGHĨA BÀI TỪ :

      

         Sông Trường Giang sóng xô nước cuốn cuồn cuộn chảy về biển đông rồi không bao giờ còn trở lại nữa; cũng như biết bao anh hùng hào kiệt đều như hoa sóng kia tan biến biệt tăm và chịu đào thải theo dòng lịch sử. Bất luận là thị hay phi, là đúng hay sai, là thành hay bại, trong chớp mắt quay  đầu nhìn lại thì đã không còn gì nữa. Chỉ có núi xanh vẫn như cũ đứng trơ gan cùng tuế nguyệt và nắng chiều vẫn biết bao lần hồng lên rồi chợt tắt. Những ông lão đốn củi và đánh bắt cá trên bến nước, họ đã quen rồi với thu nguyệt rồi lại xuân phong, thời gian cứ thế trôi đi. Nên khi gặp nhau thì cứ cùng vui với nhau bên chung rượu lạt. Biết bao nhiêu là chuyện lớn chuyện nhỏ trên đời nầy từ xưa đến nay, chẳng qua cũng chỉ là những chuyện nói cười trong lúc nhậu, là chuyện phiếm chuyện gẫu khi trà dư tửu hậu của người đời mà thôi !

      Thật là cảm khái ! Tam Quốc Chí chẳng những viết lại lịch sử, mà còn viết lại những cuộc đời anh hùng, sự chìm nổi hưng suy của anh hùng, cái khí thế và khí phách của anh hùng, cái thành công và thất bại của anh hùng, cuối cùng đều phải chịu chung sự đào thải vô tình của thời gian và lịch sử. Lịch sử đã sang trang, thời gian đà biền biệt, rốt cuộc họ còn được gì ? Chẳng qua chỉ là những câu chuyện khề khà với nhau khi trà dư tửu hậu của hậu thế mà thôi ! Tất cả đều qui về một chữ KHÔNG to lớn !. 

      Bài Từ rất thực tế và sát sao với cuộc sống, nên có những từ Hán Việt cũng rất sát sao với cuộc sống thực tế, không cần phải diễn Nôm mà ai cũng đã hiểu nghĩa cả rồi. Như : Thị Phi Thành Bại, Thu Nguyệt Xuân Phong ...

 

DIỄN NÔM :

                     LÂM GIANG TIÊN

 

         Trường giang cuồn cuộn nước về đông,

         Sóng xô đào thải hết anh hùng.

         Thị phi thành bại quay đầu : hết !

         Núi xanh vẫn còn đó,

         Bao lượt nắng chiều hồng.

         Ngư tiều đầu bạc trên sông nước,

         Đã quen rồi thu nguyệt với xuân phong,

         Một bầu rượu lạt thắm tình nồng,

         Xưa nay bao thế sự,

         Cười nói cũng như không !

 

Lục bát :

             Trường Giang cuồn cuộn về đông,

         Anh hùng như sóng theo dòng trôi xuôi.

             Thị phi thành bại trên đời,

         Quay đầu là hết núi đồi còn đây.

             Núi xanh sừng sửng tháng ngày,

         Hoàng hôn mấy lượt thêm dài hoàng hôn.

             Ngư tiều đầu bạc ven thôn,

         Trên dòng sông nước vùi chôn tháng ngày.

             Một bầu rượu lạt ngà say,

         Cổ kim thế sự nào ai có lòng ?

             Nói cười nhấp rượu như không !

 

                                                 Đỗ Chiêu Đức.

MAI XUÂN THANH:

Tiên Trên Bến Sông

Trường Giang sóng dữ cuộn xuôi đông,

Chiến sĩ anh hùng thác mạng vong.

Thành bại thị phi ai có biết,

Non xanh nước biếc nắng chiều hồng.

 

 

Tiều phu đốn củi nay đầu bạc,

Bắt cá ngư ông tóc trắng bông

Mấy độ xuân phong thu tuế nguyệt,

Bạn già cạn chén rượu ngon nồng.



Hàn huyên thế sự ngoài tai bỏ,

Say khướt cười khà rốt cuộc không !

Tam quốc ngày xưa nhiều dũng tướng,

Khổng Minh, Mã Ý thuộc nằm lòng...



                                                Mai Xuân Thanh

 

 

Phiếm: 

NƯỚC LÀ THỦY

dcd_nuoc.jpg 

 

                  Nước là chất lỏng có ký hiệu là H₂O, từ Hán Việt là Thủy 水, thuộc dạng chữ Tượng Hình trong CHỮ NHO ... DỄ HỌC, được hình thành theo diễn tiến của chữ viết như sau :

 

       Giáp Cốt Văn  Kim Văn   Đại Triện     Tiểu Triện    Lệ Thư

 dcd_5words.jpg


 Ta thấy:

       Từ Giáp Cốt Văn cho đến Đại Tiểu Triện đều là hình tượng của một dòng nước, 4 chấm 2 bên là tượng trưng cho dòng nước đang chảy. cho nên, có nước là có dòng nước chảy, như suối, khe, sông, biển ... và nơi nào có suối, khe, sông, biển là nơi đó có nguồn sống, có dân cư. Cái quần thể dân cư nầy sinh sống phát triển là nhờ dựa vào nguồn nước. Cho nên ông bà ta có câu " Uống nước phải nhớ nguồn ", và có phải vì thế mà dân ta gọi một Quốc Gia là Một Nước ? Không có nước sẽ không có người sinh sống và cũng sẽ không có quốc gia nào hình thành được cả !

       Nước mất thì nhà tan, quốc phá thì gia vong ! Không có nước sẽ không có nhà, mà không có Nhà thì cũng không thành ... Nước ! Cho nên, ta lại có từ Nhà Nước để chỉ Chính Quyền của một Quốc Gia.

 

       Nước là thủy, thủy là nước. Bên dòng nước là bên dòng sông, nên thủy cũng là sông, như Hương Giang còn gọi là dòng Hương Thủy; tương tự, Tương Giang cũng gọi là Tương Thủy như trong bài thơ " Tảo hàn giang thượng hữu hoài " của Mạnh Hạo Nhiên đời Đường :

                 我家襄水曲,    Ngã gia Tương Thủy khúc,

                 遥隔楚云端.    Dao cách Sở vân đoan.

Có nghĩa :

                   Sông Tương quê cũ vời trông,
              Ngẩn ngơ mây Sở cách ngăn mấy lần.
 

 

      H₂O là phân tử nước do 2 nguyên tử Hidro và 1 nguyên tử oxy kết hợp mà thành, đó là theo công thức Hóa học. Còn theo Âm Dương Ngũ Hành của Kinh Dịch thì Kim sanh Thủy. Nước là do ... vàng sinh ra, và theo một câu trong sách Thiên Tự Văn 千字文 là KIM SANH LỆ THỦY 金生麗水. Có nghĩa:  Khi vàng bị nung chảy thì trở thành một chất lỏng lắp lánh đẹp đẽ. Nhưng căn cứ vào thực tế thì không phải như thế, vì chất lỏng lóng lánh của vàng sẽ rất nhanh đong cứng lại thành chất rắn của kim loại. Nên ...

      KIM SANH LỆ THỦY ở đây là chỉ dòng sông Kim Sa Giang ở tỉnh Vân Nam thuộc nước Sở thời Chiến Quốc. Vì có rất nhiều cát vàng ở trong lòng sông, nên nước sông lắp lánh rất đẹp, vì thế mà dân chúng mới gọi Kim Sa Giang là LỆ GIANG 麗江 hay là dòng LỆ THỦY 麗水, là dòng nước đẹp ! Đẹp vì cái Thần của con sông là vàng là Kim, nên chi vị Thủ Tướng đầu tiên của nước Việt Nam ta là cụ Trần Trọng KIM mới lấy hiệu là LỆ THẦN, là cái THẦN của dòng sông LỆ, chính là KIM đó vậy !

             DCD_ThTTrTrKim.jpg   

            Nội các của Thủ Tướng Lệ Thần Trần Trọng Kim

      Trong mùa xuân thì nước gọi là Xuân Thủy. Từ những băng tuyết trên nguồn tuôn chảy thành những khe suối trong veo vào mùa xuân, rồi chảy thành những dòng sông len lỏi qua thôn xóm mang lại nguồn sống cho dân cư, như trong thơ của Đổ Phủ :

                  一徑野花落,   Nhất kính dã hoa lạc,

                  孤村春水生.     Cô thôn xuân thủy sinh.

Có nghĩa :

                      Bên đường hoa dại rụng đầy, 

               Nước xuân trong vắt đâu đây xóm nghèo.

      Nước xuân trong vắt như ánh mắt của các cô thôn nữ mộc mạc ngây thơ như lời thơ của Thôi Ngọc trong Đường Thi :

            两臉夭桃從镜發,  Lưỡng kiểm yêu đào tòng kính phát,

            一眸春水照人寒。  Nhất mâu xuân thủy chiếu nhân hàn.

Có nghĩa :

                        Má đào ửng đỏ trong gương

                Một làn xuân thủy vấn vương lòng người.

      Xuân thủy là ánh mắt xuân của các cô gái ngây thơ trong trắng, khác với thu thủy là ánh mắt gợn buồn đa sầu đa cảm của các giai nhân tài hoa bạc mệnh như Thúy Kiều :

                        Làn Thu Thủy, nét xuân sơn,

                Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh !

     Thu Thủy là nước mùa thu, trong veo, lạnh lùng mà se sắt dễ làm rung động và cũng dễ làm tê tái lòng người.

 

     Theo Âm Dương Ngũ Hành, thủy thuộc cung Hợi và Tý, có màu đen và nằm ở phương bắc. Bắc phương Nhâm Qúy Thủy mà ! Nên, ở Bắc bán cầu nầy, thường các dòng sông đều phát nguyên từ vùng Tây Bắc và chảy về hướng Đông Nam mà đổ ra biển theo như một câu nói xưa :

                 世間無水不朝東.    Thế gian vô thủy bất triều đông.

Có nghĩa :

        Trên đời nầy không có dòng nước nào mà không chảy về hướng Đông cả !

      Hãy nghe Lý Bạch mở đầu bài Tương Tiến Tửu bằng câu :

             君不見  

                        黃河之水天上來,奔流到海不復回? 

      Quân bất kiến

                 Hoàng hà chi thủy thiên thượng lai bôn lưu đáo hải

                                     bất phục hồi ?

Có nghĩa :

     Bộ bạn không thấy sao, nước sông Hoàng Hà như từ trên trời đổ xuống, chảy cuồn cuộn về biển rồi không quay trở lại nữa ?  

          Nước chảy cuồn cuộn mất hút vào biển đông, cũng như thời gian cứ vùn vụt mất hút về qúa khứ, cho nên ông viết tiếp :

               人生得意須盡歡, Nhân sinh đắc ý tu tận hoan,

               莫使金樽空對月。 Mạc sử kim tôn không đối nguyệt !

Có nghĩa :

                   Đời người đắc ý nên vui thích,

                   Chớ để chai vàng hết dưới trăng !

      Có dịp vui chơi đắc ý thì hãy vui cho đến cùng, đừng để cho cụt hứng nửa chừng mà hết rượu dưới ánh trăng còn đang vằng vặc !

 

      Khác với Tản Đà trong " Thề Non Nước " vì không phải " Nước đi đi mãi không về cùng non ", mà ...

                    Nước đi ra bể lại mưa về nguồn,

      để cho ...
                    Nước non hội ngộ luôn luôn.

      và ...

                    Nghìn năm giao ước kết đôi 
             Non non nước nước không nguôi lời thề !

      " Thề Non Nước " là Hải thệ sơn minh, là " Thề non hẹn biển ". Biển và Non cũng là thế thân của Non và Nước. Nhưng Non và Nước sống động hơn, khắng khít hơn với cái vòng tròn hóa thân của nước, nước chảy ra bể bốc hơi rồi lại mưa về nguồn với non xanh đang mõi mòn chờ đợi !   

           

DCD_TanDa.jpg

 Nước là nguồn tươi mát mang lại sức sống cho con người và vạn vật. Không có nước con người sẽ khô cằn, cỏ cây sẽ héo úa. Nước đem sinh khí đến cho muôn loài. Nên trong ca dao dân gian của ta mới ví :

                       Công cha như núi Thái Sơn,

                Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra !

       Nước trong nguồn chảy ra thì không bao giờ cạn kiệt, cũng như tình mẹ bao la không bờ không bến vậy. Sự mát mẻ của nước còn được ví như trong đêm thanh vắng, êm ả dịu dàng như câu thơ của Đỗ Mục trong bài Thu Tịch :

            Thiên giai dạ sắc lương như thủy    天街夜色涼如水

Có nghĩa :

        Đường phố trong Kinh thành lúc về đêm cũng mát mẻ như nước vậy.

        Trong đêm thanh vắng, nước là những giọt sương khuya mờ ảo mát lạnh mà nên thơ, làm cho lòng người lâng lâng như 2 câu thơ toàn là thanh bằng trong bài Nhị Hồ của Xuân Diệu :

 

                 Sương ngưng theo trăng ngừng lưng trời,

                 Tương tư nâng lòng lên chơi vơi !...

 

       Nước được ví như những tình cảm nhe nhàng, tình yêu nồng thắm làm mát dịu tâm hồn với thành ngữ NHU TÌNH TỰ THỦY 柔情似水 êm ái mát mẻ như nước hồ thu làm say đắm lòng người, nhẹ nhàng trôi chảy như những dòng sông dài êm đềm về tận chốn xa xăm :

                         Sông dài cá lội biệt tăm,

              Phải duyên phu phụ ngàn năm em cũng chờ ...

 

      Nhưng lắm khi ...

            Lạc hoa hữu ý mà lưu thủy lại vô tình, làm cho lỡ vỡ mộng ngày xanh, lỡ làng duyên cá nước ! Như lời than thở của cô gái xóm đông :

                  Cây da tróc gốc, thợ mộc đang cưa,

                  Đôi đứa ta ra đi cũng xứng mà ...

                  Đứng lại cũng vừa.

                  Tại cha với mẹ còn kén lừa suôi gia !

        " Kén lừa suôi gia " nên để lỡ làng " duyên cá nước !"

 

       Nhắc đến duyên cá nước lại nhớ đến câu NHƯ NGƯ ĐẮC THỦY 如魚得水 với tích của Lưu Bị trong Thục Thư thời Tam Quốc :

       Lúc bấy giờ, Lưu Bị đang nương nhờ vào Lưu Biểu ở Kinh Châu, đóng quân ở Tân Dã để cầm cự với quân Tào Tháo. Nhờ sự tiến cử của Từ Thứ và lòng thành của Lưu Bị phải Tam cố thảo lư 三顧草廬 ( 3 ln đến cu cnh gian nhà c nơi Nga Long Tiên Sinh ở ) mới gặp được mặt Khổng Minh Gia Cát Lượng, bất chấp sự phản  đối quyết liệt của Quan Vũ và Trương Phi. Lưu Bị nói rằng : " Cô chi hữu Khổng Minh, do ngư chi hữu thủy dã 孤之有孔明,猶鱼之有水也 ". Có nghĩa : " Ta mà có được Khổng Minh, thì như là cá mà gặp được nước vậy !". Khiến cho Quan Trương 2 người đành im hơi, không dám phản đối nữa !

 

                  dcd_tamcothaolu.jpg
                                      Tam cố thảo lư
 

       Còn " Cá Nước " bây giờ thường được dùng để chỉ về duyên đôi lứa, tình yêu trai gái khi gặp được đối tượng xứng ý vừa lòng :

                       Đôi ta như lúa đòng đòng,

                 Như cá gặp nước thỏa lòng mẹ cha. 

     hoặc ...

                       Tình anh như nước lên cao,

                   Tình em như cá lội vào nước anh ...    

 

      Nước là Thủy, đi với Sơn thì thành SƠN THỦY 山水, mà Sơn Thủy là ... Phong cảnh. Nhớ hồi nhỏ đến rạp hát xem các họa sĩ vườn vẽ phong cho gánh hát, bà con cứ nói là : " Đi coi cái thằng cha đó vẽ SƠN THỦY !". Thực tế thì phong cảnh cũng phải có sơn có thủy có núi có nước thì mới đẹp, và ít nhất thì cũng phải có nước, phải có những dòng sông con rạch với những ngọn dừa lả bóng như đồng bằng sông Cửu Long thì mới là cảnh đẹp được ! Trong văn chương cổ điển thì ca ngợi  cảnh đẹp bằng Sơn Minh Thủy Tú 山明水秀, Thanh Sơn Lục Thủy 青山綠水, là non xanh nước biếc như trong ca dao của ta :

 

                   Đường vô xứ Nghệ quanh quanh,

                Non xanh nước biếc như tranh họa đồ.  

                         Ai vô xứ Nghệ thì vô !   

 

      Khi Dương Qúy Phi bị bức tử ở Mã Ngôi Pha rồi, Đường Minh Hoàng chỉ còn lại một mình chạy vào đất Thục, mà lòng vẫn không nguôi thương nhớ đến Dương Phi. Bạch Cư Dị đã viết trong Trường Hận Ca là :

             Thục giang thủy bích Thục sơn thanh,  蜀江水碧蜀山青,

             Thánh chúa triêu triêu mộ mộ tình !    聖主朝朝暮暮情。

Có nghĩa :

                  Sông Thục kia nước xanh biêng biếc,

                  Núi Thục kia biêng biếc non xanh.

                  Ngày sầu đêm thức năm canh,

                  Não lòng thánh chúa tình thành chiêm bao !

 

      Nước ướt át là thế, tình tứ là thế, dịu dàng là thế. Thế nhưng, khi gặp phải phong ba bão tố thì nước lại trở nên cuồng nộ hung hăng, nhấn chìm tất cả xuống lòng sông, lòng biển, lòng đại dương một cách vô tình không thương xót.

       Người con gái chết đuối đầu tiên thời thượng cổ là con gái của Viêm Đế : Nữ Oa ( Trung Hoa cổ xưa gọi các cô gái chưa chồng là  Nữ Oa, như ta gọi các cô gái con của vua Hùng là Mỵ Nương vậy ). Trong một lần đi chơi ở biển đông, Nữ Oa đã bị chết bởi một trận ba đào cuồng nộ. Ức lòng vì chết trẻ, hồn Nữ Oa đã hóa thành con chim Tinh Vệ, hàng ngày tha sỏi đá cỏ cây để lắp bằng biển đông cho hả giận.

        Trong Truyện Kiều lúc lập đàn tế  Thúy Kiều trên sông Tiền Đường, cụ Nguyễn Du cũng đã mượn tích nầy để tả nổi oan khiên của cô Kiều :

                      Tình thâm bể thảm lạ điều,

                Nào hồn Tinh Vệ biết theo chốn nào ?

      Trong truyện Sãi Vãi, khi bàn về chữ MUỐN, cụ Nguyễn Cư Trinh cũng cho ông Sãi nói rằng :

                  Đá Tinh Vệ muốn lắp sao cho cạn biển,

                  Đất nghỉ phù muốn đắp để nên non ...

 

                  dcd_datinhve.jpg  

                 Đá Tinh Vệ muốn lắp sao cho cạn biển,

      

       Không phải chỉ riêng chim Tinh Vệ, mà những người Việt Nam vượt biên tìm tự do sau 1975 cũng muốn lắp cho cạn biển Đông, cũng như những người Syria tị nạn hiện nay muốn lắp cho cạn Địa Trung Hải vậy. Nước đã nhấn chìm biết bao sinh linh, biết bao là hy vọng, biết bao niềm mơ ước để đến được bến bờ tự do, để đến được miền đất hứa, để xây dựng một cuộc sống mới trong hòa bình thịnh vượng. Hết ý thức hệ rồi lại đến chiến tranh khủng bố làm rối loạn, xáo trộn cuộc sống yên bình của cư dân địa cầu, và ... để cho nước lại có dịp dìm chết những dân thường vô tội, vì chẳng đặng đừng mới phải bỏ quê Cha đất Tổ, nơi chôn nhau cắt rốn để ra đi !         

       Hơn 2000 năm trước, Tuân Tử đã ghi lại lời nói giữa Khổng Tử và Lổ Ai Công là : Quân dã, chu dã; thứ nhân dã, thủy dã. Thủy tắc tải chu, thủy tắc phúc chu. 君者,舟也;庶人者,水也。则载舟,水则覆舟. Có nghĩa : " Vua là thuyền, dân là nước. Nước có thể chở thuyền thì nước cũng có thể lật thuyền ". Đó là 2 mặt của nước, khi bình thường trôi chảy thì nước có thể chở thuyền đi muôn ngàn dặm; còn lúc ba đào dậy sóng thì nước sẽ nhấn chìm thuyền trong chớp mắt mà thôi. Nếu biết lợi dụng cái ưu thế " Nước " của mình, thì tất cả những dân tị nạn sẽ không phải bỏ đi đâu cả, cứ nhấn chìm cái " Thuyền " mình đang chở là được ngay !

        Nhưng, thực tế cũng đâu phải dễ, vì muốn cho thuyền chìm thì nước cần phải có cuồng phong yễm trợ, không có gió to thì nước làm sao có thể dậy sóng để nhấn chìm thuyền cho được ! 

 

             dcd_nuocthuyen.jpg   

           Nước có thể chở thuyền, cũng có thể lật thuyền.
     

       Nước mang đến cái lợi mà cũng mang đến tai họa nữa. Cái lợi  do nước mang đến cho con người gọi là THỦY LỢI 水利. Trước tiên, nước là thức uống không thể thiếu trong đời sống hàng ngày. Ta có thể ba ngày không ăn chớ không thể 3 ngày không uống nước. Nước dùng để tưới tiêu, nước dùng để tắm gội, nước dùng để giặt giũ, nước dùng để nấu ăn ... Cái LỢI của nước thật to lớn vô cùng, nhưng người đời thường chỉ biết THỦY LỢI là dẫn thủy nhập điền, là đưa nước vào với ruộng đồng cho tiện việc tưới tiêu, tăng gia sản xuất mà thôi ... Thậm chí sau 1975, hễ nhắc đến từ THỦY LỢI là thanh niên ở thành thị đều xanh mặt, vì đi làm công tác Thủy Lợi là đi ... Đào Đất !

       Còn tai họa lớn nhất do nước đem đến là Lũ Lụt, là THỦY HỌA 水禍. Nước lụt cuốn trôi tất cả nhà cửa, đồ đạc, xe cộ, trâu bò, gia súc... Ruộng đồng tan hoang, vườn tược xơ xác, nhà cửa điêu tàn... như đồng bào miền Trung của ta hằng năm phải gánh chiụ :

                  Trời rằng, trời hành cơn lụt mỗi năm,

              Khiến đau thương thấm tràn ngập Thuận An... 

       Còn đồng bào Nam Kỳ Lục Tỉnh vùng An Giang Châu Đốc thì lạc quan hơn. Bà con gọi mùa lũ lụt hằng năm bằng " Mùa Nước Nổi ". Mùa nước nổi cũng là mùa len trâu ( đọc truyện của nhà văn Sơn Nam ) bà con xoay qua đánh bắt thủy sản, mọi người đều hối hả đua nhau đặt dớn, bơi xuồng giăng câu, thả lưới... ai cũng vui đón mùa nước nổi về để được thưởng thức các món ngon như : Lẩu cá linh, canh chua nấu bằng bông điên điển, cá lóc bọc lá sen nướng hay chuột đồng nướng trui là những món đặc sản ngon nổi tiếng của Đồng Tháp trong mùa nước nổi.

 

           dcd_batca.jpg

            Đặt dớn bắt cá    Đặt trúm bắt chuột, lươn.

 

       Cơn lụt lớn nhất của nhân loại là cơn Đại Hồng Thủy trong  Thánh Kinh Cơ  Đốc, nhưng cơn lụt để lại nhiều huyền thoại nhất là cơn Đại Hồng Thủy do sông Hoàng Hà gây nên, khiến Cổn phải bị tội vì suốt 9 năm mà không trị được thủy. Con ông Cổn là Hạ Vũ phải mất thêm mười ba năm đôn đốc toàn dân phá núi khai kinh dẫn nước từ cao xuống thấp, lại mở rộng thêm cửa song cho nước chảy ra biển, mới chấm dứt được cơn hồng thủy, nên cửa biển mới được gọi là Vũ Môn, nơi mà theo tương truyền cá chép nào vượt qua được sẽ hóa thành rồng (nên còn gọi là Long Môn) Nhưng không phải con cá nào cũng muốn hóa rồng cả. Ta hãy nghe cô gái Nam Bộ hát trên sông nước như sau :

                         Khá khen con cá hóa long,

                Hóa long không hóa, hóa lòng thương anh !

             ...qủa là tình nghĩa thắm thiết biết bao nhiêu !

 

       Trở lại chuyện Hạ Vũ trị thủy, trong qúa trình làm cái công việc của một Công Trình Sư thủy lợi, tương truyền ông đã sáng chế ra  Viên Quy 圓規 ( compasses ), Phương Củ 方矩 là Thước vuông góc ( Rectangular ) ta quen gọi là cái " Ê-Ke " ( Không có QUY thì vẽ không TRÒN, không có CỦ thì kẻ không VUÔNG. Nên QUY CỦ 規矩 là cái nguyên tắc phải tuân theo để làm việc, không có QUY CỦ 規矩 sẽ bị méo mó mà chẳng làm nên cơm cháo gì cả !) và ông cũng quy  định lại thước tấc để đo đạc và vẽ đường cho ... nước chảy ! Trong Tây Du Ký, Ngô Thứa Ân đã huyền thoại hóa cây thước nầy thành Cây  Định Hải Thần Châm của Đông Hải Long Vương để dằn dưới rốn biển cho biển  đừng dao động, bị Tề Thiên  Đại Thánh Tôn Hành Giả lấy làm binh khí và gọi nó là Như Ý Kim Cô Bổng mà ta quen gọi là cây Thiết Bản của Tề Thiên, chính là cây thước đo đạc dùng để trị thủy của Hạ Vũ ngày xưa đó. Vì trị thủy mang lại cuộc sống ổn định cho dân chúng, nên mọi người tôn xưng ông là ĐẠI VŨ 大禹 ( là ông VŨ vĩ ĐẠI : xin đừng nói lái ) và vua Thuấn nhường ngôi cho ông để lập nên nhà HẠ. Nhà Hạ truyền được 471 năm, qua 17 đời vua, đến vua Kiệt 桀 vì si mê Muội Hỉ, hoang dâm vô độ, dân tình khốn khổ, nên bị Thành Thang tiêu diệt, lập nên nhà Thương.

         Vua VŨ vì giúp dân trị thủy, thoát khỏi thãm họa do lũ lụt gây nên mà được nhường ngôi vua. Còn vua KIỆT 桀 vì ham mê nữ sắc mà mất ngôi vua. nên sử sách ví cái họa của nữ sắc như là cái họa do nước mang đến. Vì thế mà có thành ngữ HỒNG NHAN HỌA THỦY 紅顏禍水. Và cái HỌA THỦY của HỒNG NHAN nầy còn được chứng minh dài dài qua các triều đại kế tiếp, như ...

        Nhà Thương truyền được 526 năm, đến đời vua Trụ, vì si mê Đắc Kỷ giết hại công thần, mà bị Châu Võ Vương tiêu diệt, lập nên nhà Châu. Nhà Châu truyền 803 năm, đến đời U Vương lại vì si mê Bao Tự muốn cho nàng cười mà phải đốt Phong Hỏa Đài để gạt chư hầu rồi ... bị mất vào tay nước Tần sau đó. Đến thời Chiến Quốc, Ngô vương Phù Sai cũng bị mất nước vì mê Tây Thi, Hạng Võ Sở Bá Vương cùng Ly Cơ tự vẫn trên bến Ô Giang, Đường Minh Hoàng vì Dương Qúy Phi mà phải chạy loan An Lộc Sơn ẩn mình nơi đất Thục  ... Nên sử sách  đều cho là Muôi Hỉ, Đắc Kỷ, Bao Tự, Tây Thi, Ly Cơ, Dương Qúy Phi ... đều là Hồng Nhan Họa Thủy, mà không biết rằng tại các hôn quân đó qúa ... mê gái rồi tự làm cho mình mất nước, mắc cở và quê qúa nên mới đổ thừa cho HỒNG NHAN là HỌA THỦY ! Nhưng ...

          Họa Thủy thì họa thủy, thi sĩ thì vẫn cứ yêu người đẹp như thường, gần ba ngàn năm sau, Xuân Diệu đã viết :

 

                   Tôi yêu Bao Tự mặt sầu bi,

                   Tôi mê Ly Cơ hình nhịp nhàng,

                   Tôi muốn tôi là Đường Minh Hoàng,

                   Trong cung nhớ nàng Dương Qúy Phi !

 

       
         Muội Hỉ            Đắc Kỷ           Bao Tự           Tây Thi
 
        Sự thật thì " Đằng sau sự thất bại của người đàn ông, lúc nào cũng có bóng dáng của một người đàn bà !". Đây gần như là sự thật hiễn nhiên, không sai bao giờ !.

       Nhưng dù cho thánh hiền, vua chúa, hiền nhân quân tử hay anh hùng hảo hán ... gì gì đi nữa, thì cũng phải chịu chung cái quy luật của thời gian. Thời gian sẽ cuốn trôi và xóa nhòa tất cả như bài đề từ của Hứa Thận đời Minh cho quyển Tam Quốc Chí của La Quán Trung như sau :

 

      滾滾長江東逝水,   Cổn cổn Trường Giang đông thệ thủy, 
      浪花淘盡英雄。      Lãng hoa đào tận anh hùng.
      是非成敗轉頭空。   Thị phi thành bại chuyển đầu không. 
      青山依舊在,         Thanh sơn y cựu tại,

      幾度夕陽紅。         Kỷ độ tịch dương hồng. 
      白髮漁樵江渚上,   Bạch phát ngư tiều giang chử thượng, 
      慣看秋月春風。      Quán khan thu nguyệt xuân phong. 
      一壺濁酒喜相逢。   Nhất hồ trọc tửu hỉ tương phùng.
      古今多少事,         Cổ kim đa thiểu sự,

      都付笑談中.           Đô phó tiếu đàm trung !

 

NGHĨA BÀI TỪ :

         Sông Trường Giang sóng xô nước cuốn cuồn cuộn chảy về biển đông rồi không bao giờ còn trở lại nữa; cũng như biết bao anh hùng hào kiệt đều như hoa sóng kia tan biến biệt tăm và chịu đào thải theo dòng lịch sử. Bất luận là thị hay phi, là đúng hay sai, là thành hay bại, trong chớp mắt quay  đầu nhìn lại thì đã không còn gì nữa. Chỉ có núi xanh vẫn như cũ đứng trơ gan cùng tuế nguyệt và nắng chiều vẫn biết bao lần hồng lên rồi chợt tắt. Những ông lão  đốn củi và đánh bắt cá trên bến nước, họ đã quen rồi với thu nguyệt rồi lại xuân phong, thời gian cứ thế trôi đi. Nên khi gặp nhau thì cứ cùng vui với nhau bên chung rượu lạt. Biết bao nhiêu là chuyện lớn chuyện nhỏ trên đời nầy từ xưa đến nay, chẳng qua cũng chỉ là những chuyện nói cười trong lúc nhậu, là chuyện phiếm chuyện gẫu khi trà dư tửu hậu mà thôi !

      Thật là cảm khái ! Tam Quốc Chí chẳng những viết lại lịch sử, mà còn viết lại những cuộc đời anh hùng, sự chìm nổi hưng suy của anh hùng, cái khí thế và khí phách của anh hùng, cái thành công và thất bại của anh hùng, cuối cùng đều phải chịu chung sự đào thải vô tình của thời gian và lịch sử. Lịch sử đã sang trang, thời gian đà biền biệt, rốt cuộc họ còn được gì ? Chẳng qua chỉ là những câu chuyện khề khà với nhau khi trà dư tửu hậu của hậu thế mà thôi ! Tất cả  đều qui về một chữ KHÔNG to lớn !. 

 

DIỄN NÔM :

 

         Trường giang cuồn cuộn nước về đông,

         Sóng xô đào thải hết anh hùng.

         Thị phi thành bại quay đầu : hết !

         Núi xanh vẫn còn đó,

         Bao lượt nắng chiều hồng.

         Ngư tiều đầu bạc trên sông nước,

         Đã quen rồi thu nguyệt với xuân phong,

         Một bầu rượu lạt thắm tình nồng,

         Xưa nay bao thế sự,

         Cười nói cũng như không !

 

Lục bát :

             Trường Giang cuồn cuộn về đông,

         Anh hùng như sóng theo dòng trôi xuôi.

             Thị phi thành bại trên đời,

         Quay đầu là hết núi đồi còn đây.

             Núi xanh sừng sửng tháng ngày,

         Hoàng hôn mấy lượt thêm dài hoàng hôn.

             Ngư tiều đầu bạc ven thôn,

         Trên dòng sông nước vùi chôn tháng ngày.

             Một bầu rượu lạt ngà say,

         Cổ kim thế sự nào ai có lòng ?

             Nói cười nhấp rượu như không !

 

       Xin được kết thúc bài Phiếm luận về NƯỚC theo dòng đào thải của thời gian ở nơi đây !

 

NNA_DCDGSMailoc.jpg
ÔB Đồ Đỗ Chiêu Đức - Tố Quyên & ÔB GS Mailoc tại Đại Hội PTGĐTĐ XXI-Houston Texas May 2017 

                                                        Đỗ Chiêu Đức. 

 

MAO ỐC VỊ THU PHONG SỞ PHÁ CA 

                                    ĐỖ PHỦ

 

       ĐỖ PHỦ 杜甫  ( 712-770 ) tự là Tử Mỹ 子美, thường tự xưng là Thiếu Lăng Dã Lão 少陵野老( Ông già ở vùng hoang dã của đất Thiếu Lăng ). Thi Tiến Sĩ mãi không đậu. Từng đãm nhận chức Kiểm Hiệu Công Bộ Viên Ngoại Lang, nên người đời thường gọi ông là Đỗ Công Bộ. Ông là nhà thơ hiện thực vĩ đại của đời Đường, hợp cùng với Lý Bạch thành một cặp Lý Đỗ của thời Thịnh Đường. Từ đời Tống về sau mọi người đều xưng tụng ông là Thi Thánh. Thơ của ông vạch trần mâu thuẫn của xã hội đương thời, tỏ nỗi cảm thông sâu sắc với đời sống cơ cực của dân nghèo trong chiến tranh loan lạc ( loạn An Lộc Sơn ). Ông để lại nhiều bài thơ tuyệt tác, nhất là luật thi của ông luôn luôn rất nghiêm cẩn thâm thúy với một kỹ thuật siêu việt tự nhiên và rất đa dạng. Ông để lại " Đỗ Công Bộ Tập ", gồm hơn 1400 bài thơ.

        Sau đây là một bài thơ tiêu biểu của ông khi chạy loạn An Lộc Sơn ...

DCD_MaoOc_1.jpg   dcd_maooc_2.jpg

                 

 

茅屋為秋風所破歌        MAO ỐC VỊ THU PHONG SỞ PHÁ CA 

 

八月秋高風怒號,          Bát nguyệt thu cao phong nộ hào, 

卷我屋上三重茅。          Quyển ngã ốc thượng tam trùng mao. 
茅飛度江灑江郊,          Mao phi độ giang sái giang giao. 

高者掛罥長林梢,          Cao giả quải quyến trường lâm sao, 

下者飄轉沈塘坳。          Hạ giả phiêu chuyển trầm đường ao. 
南村群童欺我老無力,    Nam thôn quần đồng khi ngã lão vô lực, 

忍能對面為盜賊。          Nhẫn năng đối diện vi đạo tặc. 
公然抱茅入竹去,          Công nhiên bão mao nhập trúc khứ,

脣焦口燥呼不得,          Thần tiều khẩu táo hô bất đắc. 

歸來倚杖自歎息。          Qui lai ỷ trượng tự thán tức. 
俄頃風定雲墨色,          Nga khoảnh phong định vân mặc sắc,

秋天漠漠向昏黑。          Thu thiên mạc mạc hướng hôn hắc. 
布衾多年冷似鐵,          Bố khâm đa niên lãnh tự thiết. 

嬌兒惡臥踏裏裂。          Kiều nhi ác ngọa đạp lý liệt. 
床頭屋漏無乾處,          Sàng đầu ốc lậu vô can xứ,

雨腳如麻未斷絕。          Vũ cước như ma vị đoạn tuyệt. 
自經喪亂少睡眠,          Tự kinh táng loạn thiểu thụy miên

長夜霑溼何由徹!          Trường dạ chiêm thấp hà do triệt. 
安得廣廈千萬間,          An đắc quảng hạ thiên vạn gian, 

大庇天下寒士俱歡顏,    Ðại tí thiên hạ hàn sĩ câu hoan nhan,

風雨不動安如山!          Phong vũ bất động an như san. 
嗚呼!                        Ô hô !

何時眼前突兀見此屋,    Hà thời nhãn tiền đột ngột kiến thử ốc, 

吾廬獨破受凍死亦足!    Ngô lư độc phá thụ đống tử diệc túc.

                      杜甫                                          Đỗ Phủ

 

1. CHÚ THÍCH :

    * THU CAO 秋高 : Không phải mùa thu ở trên cao, mà là gần cuối thu. Tháng 7 là SƠ THU 初秋 là Đầu thu. Tháng 8 là TRUNG THU 中秋 là Giữa mùa thu. Tháng 9 là THÂM THU 深秋 là Tàn thu. Ở đây THU CAO chỉ thời gian cuối Tháng 8 là gần Cuối Thu rồi.

    * NỘ HÀO 怒號 : là Gào Thét. Chỉ gió rít như thét gào.

    * TAM TRÙNG MAO 三重茅 : là 3 lớp cỏ tranh. Chữ TAM ở đây là phiếm chỉ, có nghĩa là NHIỀU, chứ không nhất thiết phải là 3.

    * QUẢI QUYẾN 掛罥 : Bị cuốn dính treo tòn ten.

    * LÂM SAO 林梢 : là Ngọn cây. Chữ LÂM ở đây là Cây, chớ không phải chỉ Rừng.

    * ĐƯỜNG AO 塘坳 : là những ao chuôm nước đọng.

    * NHẬP TRÚC KHỨ 入竹去 : là Chạy vào trong khóm tre, rừng tre.

    * THẦN TIÊU KHẨU TÁO 脣焦口燥 : là Môi khô miệng khản. Ta còn nói là Miệng đắng môi khô.

    * NGA KHOẢNH 俄頃 : là Trong khoảnh khắc.

    * BỐ KHÂM 布衾 : là Cái mền bang vải thô.

    * ÁC NGỌA 惡臥 : là Cái tật ngủ xấu ( hay đạp lung tung ).

    * SÀNG ĐẦU ỐC LẬU 床頭屋漏 : là Đầu giường mưa dột, ở đây chỉ cả nhà bị mưa dột, vì VÔ CAN XỨ 無乾處 : là không nơi nào khô cả. 

    * VŨ CƯỚC NHƯ MA 雨腳如麻 : Những giọt mưa như là những sợi tơ sợi gai, VỊ ĐOẠN TUYỆT 未斷絕 : là chưa chịu dứt hẵn.

    * TÁNG LOẠN 喪亂 : Chỉ Chạy loan An Lộc Sơn.

    * TRIÊM THẤP 霑溼 : là Ướt át, là Thấm ướt.

    * QUẢNG HẠ 廣廈 : là Nhà cao cửa rộng.

    * ĐẠI TÍ THIÊN HẠ 大庇天下 : là Che chở hết khắp thiên hạ ...

    * ĐỘT NGỘT 突兀 : là Bỗng nhiên, là Bất chợt.

    * THỤ ĐỐNG TỬ 受凍死 : Chịu lạnh mà chết.

    

2. NGHĨA BÀI THƠ :

                 BÀI CA GIÓ THU THỔI TỐC MÁI NHÀ TRANH

 

          Cuối tháng tám gần tàn thu, gió thu thét gào cuốn đi mấy lớp cỏ tranh trên mái nhà của ta. Cỏ tranh bay cả sang Hoán Hoa Khê rơi rớt cả trên bờ phía bên kia, những cọng bay cao thì vắt vẻo trên đầu cành cây, những cọng bay thấp thì rơi rớt trên ao chuôm gần đó.

          Mấy đứa trẻ ớ xóm nam khinh khi ta gìa yếu không làm gì được chúng, nên nở nhẫn tâm làm giặc trước mặt ta, chúng chẳng uý kỵ gì cả ôm lấy cỏ tranh của ta chạy vào trong rừng trúc. Ta lại miệng đắng môi khô không nạt nỗi để ngăn cản chúng lại, đành than thở một mình mà chống gậy trở về nhà.

        Một lát sau gió ngừng mây tạnh, mây trên bầu trời chuyển đen như mực. Trời cuối thu ảm đạm dần dần tối đen xuống theo bóng đêm. Tấm vải thô làm mền đắp lâu năm vừa lạnh vừa cứng như sắt, cũng bị đứa con thơ xấu tánh khi ngủ đạp rách tả tơi. Khi mưa xuống thì từ đầu giường đến cuối giường, cả nhà đều không có chỗ nào là khô ráo cả, từng sợi mưa lất phất vẫn không ngừng rơi xuống. Từ lúc có loạn An Lộc Sơn đến giờ, ta luôn ngủ rất ít, đêm dài dằng dặc, nhà dột cột xiêu làm sao chịu được tới sáng đây.

        Làm sao để có được ngàn vạn căn nhà cao cửa rộng, để kẻ sĩ khắp nơi trong thiên hạ được che chở yên thân, để họ được vui khi ngoài trời mưa gió mà trong nhà vẫn vững như bàn thạch ? Ôi ! Biết đến bao giờ trước mắt bỗng nhiên có được những ngôi nhà như thế. Khi đó thì dù cho căn nhà tranh nầy của ta có bị gió thu thổi cho tơi tả và ta có bị lạnh cóng mà chết thì ta vẫn cam lòng !

 

3. BỐI CẢNH SÁNG TÁC :

        Bài thơ được sáng tác năm 761 ( Năm thứ 2 Thượng Nguyên đời Đường Túc Tôn ). Mùa thu năm 759, Đỗ Phủ từ quan đến Tần Châu ( Cam Túc ), rồi lần lừa lưu lạc đến Đồng Cốc ( Thành Huyện ), Ba Lăng. Mùa xuân năm 760, nhờ bạn bè thân hữu giúp đỡ mới cất được một mái nhà tranh ở Hoán Hoa Khê ( Thành Đô, Tứ Xuyên ), tạm gọi được là đã có chỗ yên thân. Nào ngờ đến cuối thu tháng tám của năm 761, giông gió nổi lên làm tốc mái nhà, lại phải chịu đựng cơn mưa đêm ập đến, ướt át suốt đêm không ngủ được, đêm dài khoắc khoải, cảm khái muôn vàn mà viết nên bài thơ hiện thực được nhiều người biết đến nầy.

 

4. BỐ CỤC CỦA BÀI THƠ :

          Đây là bài thơ Trường thiên Thất ngôn Cổ phong, câu dài ngắn tùy tình tiết, nhưng chủ yếu là thơ 7 chữ, gieo vần tự do cả trắc lẫn bằng theo diễn tiến và ý thơ của tác giả.

          Toàn bài thơ đi một mạch từ câu đầu đến câu cuối, nhưng ta cũng thấy được 4 ý chính sau đây :

    A. Từ câu đầu đến câu thứ 5 : Nỗi thống khổ của người nghèo trong cơn mưa bão ban đêm.

    B. Từ câu 6 đến câu 10 : Sự bất lực của tuổi gìa trước lũ trẻ nghịch ngợm vô tri.

    C. Từ câu 11 đến câu 18 : Nỗi vất vả khổ cực của những người nghèo phải chiụ cảnh mưa bão trong đêm.

    D. Từ câu 19 đền câu 24 : Cái ước mơ kỳ vọng cho mình và cho tất cả mọi người cùng khổ.

        Ba đoạn đầu là tự sự, miêu tả thực tế và kể lể nỗi niềm của những người nghèo khổ trong đêm mưa giông bão với nhà dột cột xiêu; đoạn cuối nêu lên cái ước mơ lý tưởng hóa cuộc đời, muốn thăng hoa cuộc sống của kẻ sĩ nghèo khó.

 

5. NHẬN XÉT :

        Bài thơ kể lại cảnh nghèo khó trong cơn giông bão cuối thu, mấy gian nhà tranh bị gió cuốn tốc cả nóc, lại thêm cơn mưa đêm ập xuống làm ướt át cả nhà không sao ngủ được . Từ đó, Đỗ Phủ  đã nói lên cái cảm khái và bất lực trước cái nghèo, cái gìa của mình rồi liên hệ đến những kẻ sĩ cơ hàn như mình, những dân chúng phải lưu lạc thất tán trong cơn binh biến do An Lộc Sơn gây nên còn đang âm ỉ chưa thôi. Rồi ước mơ sao cho có được một nơi chốn yên thân cho tất cả mọi người nghèo khó. Đây chính là cái ưu thời mẫn thế, còn nghĩ đến dân đến nước của nhà thơ. Không phải đương không mà mọi người tôn xưng ông là Thi Thánh, thơ của ông luôn luôn diễn tả và phản ánh trung thực của cuộc sống thực tế trước mắt, như những câu :

                 Chu môn tửu nhục xú,    朱門酒肉臭,

                 Lộ hữu đồng tử cốt.        路有童子骨。

Có nghĩa :

        Trong cửa son của nhà giàu thì rượu thịt thừa mứa đến thối rữa; còn ở ngoài đường thì xương của những đứa trẻ bị chết đói rẫy đầy.

       Trong khi cảm khái trước cảnh nhà dột cột xiêu lại gặp phải mưa đêm của mình, ông cũng nghĩ đến những người cùng cảnh ngộ, những người cùng khổ. Vì cái cái khổ của mình cũng là cái khổ chung của dân của nước trước cảnh chiến tranh loan lạc do An Lộc Sơn gây nên. Không phải chỉ riêng căn nhà tranh của ông bị tốc nóc mà tất cả những căn nhà tranh của " thiên hạ hàn sĩ " đều tốc nóc cả !

     ... và cảm khái làm sao khi trong bài Xuân Vọng ông đã hạ một câu mở đầu bất hũ là :

                 Quốc phá sơn hà tại,     國破山河在,

Có nghĩa là :

            Nước tuy mất nhưng núi sông vẫn còn đó !

      dcd_maooc_3.jpg DCD_Maooc_4.jpg 

 

               6. DIỄN NÔM :

                 GIÓ THU TỐC MÁI NHÀ TRANH

 

                Tháng tám tàn thu gió thét gào,

                Cuốn phăng mấy lớp mái tranh cao.

                Tranh bay tơi tả trên sông vắng,

                Vắt vẻo trên cành cây trước ao.

                Rải rác bên bờ chuôm nước đọng,

 

                Bất lực thân già đành trơ mắt,

                Lặng nhìn lũ trẻ ngang nhiên cướp,

                Ôm tranh lủi mất xóm tre xa,

                Môi khô giọng khản thét không ra,

                Chống gậy về nhà ngồi than thở.

 

                Cơn gió trở, phút giây mây xám,

                Phủ đầy trời hắc ám tối đen,

                Nhà nghèo xót cảnh mưa đêm,

                Con thơ mền rách càng thêm nỗi niềm.

                Giường ướt dột khắp nơi tơi tả,

                Mưa từng cơn vẫn rả rít rơi,

                Từ ngày loan lạc đến nay,

                Đêm đêm khó ngủ ai hoài thở than.

 

                Mong ước được ngàn gian nhà trống,

                Chở che cho hàn sĩ bốn phương,

                Vững như bàn thạch mưa tuôn,

                Yên lòng nghèo khó những luôn ước thầm.

                Bao giờ bỗng được như lòng,

                Nhà tranh ta đổ cũng không tiếc gì.

                Thân này lạnh chết có chi !

 

                                                     Đỗ Chiêu Đức

                                                        diễn nôm    

CHỮ NHO DỄ HỌc....bài 37
 Vị trí của các bộ thủ  
 
Click hàng chữ dưới đây: 
 

 

 CHỮ NHO ... DỄ HỌC  (36)                        

    Các bộ 14, 15, 16, 17 nét                               

                                 

Click here: https://drive.google.com/drive/folders/0B6-GwvjUy0dHUjA2VUVXMjdRckE?usp=sharing 

Sau khi trang bài hiện ra, double left click để đọc toàn bài 

NGÀY XUÂN ĐỌC THƠ TIỀN CHIẾN

dcd_ngayXuan.jpg 

 

                                               Tôi muốn tắt nắng đi,

                                                    Cho màu đừng nhạt mất,

                                                    Tôi muốn buộc gió lại,

                                                    Cho hương đừng bay đi !

                                                                    Xuân Diệu

        NGÀY XUÂN ĐỌC THƠ TIỀN CHIẾN là chỉ nói cho " xôm tụ " thôi, chẳng lẽ đọc Thơ Đường mãi, thay đổi không khí, ta đọc thơ Thời Tiền Chiến. Nhưng nói là đọc thơ Thời Tiền Chiến cho oai thôi, chớ chỉ điểm qua vài bài có vẻ Xuân và hoa Đào hoa Mai của Nguyễn Bính và Jean Leiba mà thôi !

       Nào, bạn đã thấy Xuân về như thế nào chưa ? Nếu chưa, hãy nghe Nguyễn Bính nói đây :

 

                    Đã thấy xuân về với gió đông,

                    Với trên màu má gái chưa chồng.

                    Bên hiên hàng xóm cô hàng xóm,

                    Ngước mắt nhìn trời đôi mắt trong !

 

Gợi cảm và làm xao xuyến rạo rực lòng người biết bao với " Gió đông, với màu má gái chưa chồng, và với đôi mắt trong của nàng thiếu nữ !", Mùa xuân như hiển hiện ở màu má màu mắt của cô Xuân nữ tràn đầy nhựa sống của lứa tuổi hoa niên. Mùa xuân mang lại sức sống mới cho tuổi trẻ, mùa xuân cũng mang lại những kỷ niệm khó quên của tuổi xuân thì, khơi lại tình tự mộng mơ của quá khứ làm não nuột lòng người :

 

                   Xuân đã đem mong nhớ trở về,

                   Lòng cô lái ở bến sông kia.

                   Cô hồi tưởng lại ba xuân trước,

                   Trên bến cùng ai đã hẹn thề !...

 

                   Nhưng rồi ... Người khách tình quân ấy,

                   Đi biệt chẳng về với nước sông,

                   Đã mấy lần xuân trôi... trôi mãi ...

                   Mấy lần cô lái mõi mòn trông !

                                              ( Cô lái đò )

               
  
Não nùng thay, đáng thương thay cho tâm sự của " nàng xuân " trên bến nước ! Thơ Nguyễn Bính thường đi vào lòng ta bằng những hình ảnh thật nhẹ nhàng gợi cảm, tế nhị mà làm xao xuyến lòng người ! Ta hãy nghe ông ví von :

 

                   Ai đi chắp lại cánh hoa rơi,

                   Bắt bóng chim xa tận cuối trời.

                   Có lẽ ngày mai đò ngược sớm,

                   Thôi nàng ở lại để ... quên tôi !

                                       ( Thôi nàng ở lại )

       Rất nhẹ nhàng nhưng cũng có pha chút gì chua xót ! Chua xót như những cánh hoa đào rơi rụng :

 

                    Hoa đào từng cánh rơi như tưới,

                    Xuống mặt sân rêu những giọt buồn.

                    Như mảnh tim tình tan vỡ ấy,

                    Nhện già giăng mắc sợi tơ đơn !....

 

                Cuối năm, đọc những câu thơ tình của Nguyễn Bính làm cho lòng ta  chùn xuống, xót cho từng cánh hoa đào rơi như những mảnh tim tình tan vỡ, khéo mà ví von làm thương cảm lòng người ! Sau này, khi lưu lạc vào Nam, lúc xuân về Tết đến, Nguyễn Bính vẫn khoắc khoải day dức băn khoăn tự nhủ : 

 

                    Xuân này xứ Bắc ra sao nhỉ,
                    Đào có hây hây ? Cúc có vàng ?
                    Câu đối có còn ôm đỏ cột, 
                    Nêu dài tiếng khánh có khua vang ?

   ... và não lòng người làm sao với :

 

                    Em ra bến nước trông về Bắc
                    Chỉ thấy mây trôi chẳng thấy làng !

 

                   Nguyễn Bính xưng " em " chắc có lẽ thi sĩ đang nhớ đến người chị mà tác giả thường hay nhắc trong thơ :

 

               ... Cho đến một hôm em mới nhớ:
                  "Lòng người...." Chị Trúc nhớ hay quên?

                                                    ( Khăn Hồng )

    ... Chị Trúc là chị TRÚC ĐƯỜNG, một người chị trong thơ, trong mơ, mà Nguyễn Bính không bao giờ với tới, cũng không dám với tới, chỉ nhớ, chỉ mơ rồi ... thơ thẩn, thế thôi ! Mà như thế lại nên thơ hơn, da diết hơn và gợi cảm mơ mộng hơn nhiều ! Và nhờ thế mà ta mới có được những vầng thơ tuyệt diệu của " Lỡ Bước Sang Ngang ". Sau này khi lưu lạc giang hồ, trong "Xuân tha hương" và "Xuân vẫn tha hương", Nguyễn Bính đều gửi tâm sự về quê nhà, kể lể nỗi niềm cùng chị Trúc:

 

                        Tết này chưa chắc em về được 
                        Em gửi về đây một tấm lòng 
                        Ôi chị một em, em một chị
                        Trời làm xa cách mấy con sông ...

         và ...

                        Rượu say nhớ chị hồi con gái 
                        Thương chị từ khi chị lấy chồng...

 

                        Đêm ba mươi Tết quê người cũng 
                        Tiếng pháo giao thừa dậy tứ phương 
                          .................................
                        Đất khách tình dâng nhòa mắt lệ 
                        Ôi nhà, ôi chị.. ôi quê hương !

  Khá thương thay tâm sự của kẻ tha hương và cũng ngạc nhiên thay, ngạc nhiên đến thú vị !... Ai đời nhớ quê hương, nhớ nhà lại đi kèm với " nhớ Chị ", hẵn người Chị nầy phải vô cùng đặc biệt, đặc biệt đến trở thành ... tự nhiên trong thơ của Nguyễn Bính !

 

        Hoa Đào là biểu tượng cho hoa xuân ngoài Đất Bắc, còn hoa Mai là biểu tượng của hoa xuân Miền Nam. Ta thường nghe nói Đào Bắc Mai Nam, nhưng hoa mai lại thích ứng cả 2 miền Nam Bắc, ta đã từng biết qua  2 câu thơ của nhà sư Tề Kỷ ở cuối đời Đường đầu đời Tống là :

                  Tiền thôn thâm tuyết lý,    前村深雪裡,

                  Tạc dạ sổ chi khai.            昨夜數枝開。

Có nghĩa :

                Đêm trước hôm qua trong tuyết lạnh,

                Xóm trên lấm tấm mấy cành mai.

 

                  Bây giờ, thì ta hãy điểm qua bài thơ Mai Rụng của Jean Leiba thời Tiến Chiến nhé :

 

                    Nụ hồng rải lối, liễu tơ phai, 
                    Vườn cũ rêu lan, cỏ mọc dài, 
                    Bên gốc mai già, xuân vắng vẻ, 
                    Âu sầu thiếu nữ khóc hoa mai...

 

     " Thiếu nữ khóc hoa mai " như khóc cho thân phận của mình, khóc vì nuối tiếc cho ngày vui đã qua mau, nuối tiếc cho những ngày xuân mà tim hồng rộn rã, khi :

 

                    Tường đông, xuân ấy gặp tình lang, 
                    Chàng nhủ cùng em nỗi nhớ thương. 
                    Ngơ ngẩn em về, sầu chẳng mối: 
                    Ngây thơ, em mới biết yêu chàng.

 

       Ôi, đẹp biết bao khi lòng người xuân nữ vừa chớm hương yêu trong lứa tuổi xuân thì !... Nàng  e ngại thẹn thùng bắt đầu làm đẹp, làm dáng và thấy mùa xuân càng đẹp hơn lên khi con tim yêu đang rạo rực :

                    Yêu chàng, em cố chuốt hình dong, 
                    Tô cặp môi son, điểm má hồng. 
                    Em thấy xuân nay hoa nở đẹp, 
                    Cảm tình Thanh đế, tạ đông phong !

 

              Hạnh phúc biết bao trong mùa xuân..." hoa nở đẹp ". Thực ra thì xuân nào mà hoa chẳng nở đẹp ?! Nhưng khi đang ngây ngất trong men yêu thì đâu có xuân nào đẹp hơn được nữa ! Nàng Cảm ơn Chúa Xuân, cảm ơn gió Xuân, cảm ơn hết những gì mà mùa xuân mang đến ... Nhưng rồi, ngày vui qua mau, mùa xuân cũng chóng tàn, khi :

                    Hoa tặng vừa tàn bông thược dược, 
                    Tìm chàng bỗng vắng, bóng chàng xa...

 

   ... Và từ đó, cuối xuân sang hạ, hết thu lại đông, nàng sống trong âm thầm chờ đợi mõi mòn, mong ngóng bóng ai kia ở cuối nẽo chân trời ...  

                    Xuân tàn, hạ cỗi, cảnh thu sầu, 
                    Mờ mịt hơi đông ám ngọn lau. 
                    Xuân tới cành đào hoa lại nở, 
                    Mong chàng mỏi mắt, thấy chàng đâu ?! 

 Ủ rủ não nề như người cô phụ trông chồng " Thẩn thờ trâm lệch lỏng vòng lưng eo " đến đổi không còn nhận ra mình trong gương nữa ...

                    Sầu đối gương loan, bóng lạ người, 
                    Chàng không lại nữa, đẹp cùng ai? 
                    Bơ phờ tóc rối, vành khăn lệch, 
                    Ủ rũ hoa gầy, má đỏ phai !  

 

                    Qủa là thương cảm cho nàng thiếu nữ khi đã vuột khỏi tầm tay, đánh mất một tình yêu nồng thắm của tuổi xuân thì. Xuân chửa đi qua mà tình yêu đà biền biệt, nên mơ hồ nghi ngại là nàng xuân vẫn còn lẫn khuất đâu đây :

 

                    Xuân hết, đào phai, lý rụng rồi, 
                    Hoa đình tịch mịch vẻ xuân phai. 
                    Tơi bời ong bướm bay qua ngõ, 
                    Những tưởng màu xuân ở xóm ngoài.  

       

       Đọc những câu thơ trên lại làm cho ta nhớ đến 2 câu cuối trong bài XUÂN TÌNH của Vương Giá

              蜂蝶紛紛過牆去,  Phong điệp phân phân qúa tường khứ,

              卻疑春色在鄰家。  Khước nghi xuân sắc tại lân gia.

Có nghĩa :

          Lũ lượt bướm ong bay hết qua tường hàng xóm, nên ...  

          Ngờ rằng hương sắc của mùa xuân còn ở nhà kế bên !!!

 

     Tơi bời ong bướm bay qua ngõ, 

                    Những tưởng màu xuân ở xóm ngoài.  

 

       Tình yêu bao giờ cũng là đề tài muôn thuở của nhân sinh, là đề tài không bao giờ cạn kiệt của văn nhân thi sĩ. Tình yêu mang lại sức sống yêu đời, tình yêu nhuộm hồng cuộc sống nhân sinh, mang lại sức sống vui tươi cho mọi lứa tuổi, mọi lứa đôi ... Nhưng tình yêu cũng mang lại sầu thương buồn thảm, đố kỵ ghét ghen, ưu phiền chán nản, làm nhục chí anh hùng, khiến cho bao người không còn thiết tha với cuộc sống, muốn buông xuôi tất cả như Jean Leiba lúc cuối đời, mặc dù ông chỉ mới có 29 tuổi đầu mà thôi :

 

                    Phù thế đã nhiều duyên nghiệp quá !

                    Lệ lòng mong cạn chốn am không.

                    Cửa thiền một đóng duyên trần dứt,

                    Quên hết người quen chốn bụi hồng !

 

       Xin được khép lại bài viết về mùa xuân nhưng không được vui như xuân nầy !

 

                                                                     Đỗ Chiêu Đức

                                                                      06-01-2017

 

                    VÕ TRẮC VÃNG NAM CÔ

 

        Trước khi nghe Giai Thoại Văn Chương Việt Nam nầy, Xin mời tất cả cùng đọc một bài thơ Đường rất ư là mượt mà tình tứ của một cô dâu mới về nhà chồng của Châu Khánh Dư như sau :

 

     近試上張水部       CẬN THÍ THƯỢNG TRƯƠNG THỦY BỘ

 

   洞房昨夜停紅燭,     Động phòng tạc dạ đình hồng chúc,

   待曉堂前拜舅姑。     Đãi hiểu đường tiền bái cựu cô.
   妝罷低聲問夫婿:     Trang bãi đê thanh vấn phu tế, 

「畫眉深淺入時無?」 " Họa mi thâm thiển nhập thời vô ?!" 

                  朱慶餘                                Châu Khánh Dư

 

Chú Thích :

      Châu Khánh Dư  朱慶餘, không rõ năm sanh năm mất, tên là Khả, người đất Đường Châu, đậu Tiến sĩ giữa năm Bảo Khánh, là môn đệ của Trương Tịch. Ông giỏi về thơ, còn để lại một Thi Tập.

    CẬN THÍ : Gần đến ngày đi thi.

    TRƯƠNG THỦY BỘ : là Trương Tịch 張籍 (766─830 ), tự là Văn Xương, người đời thường gọi là Trương Tư Ngiệp hay Trương Thủy Bộ; thơ nhạc phủ của ông thường phản ánh hiện thực của xã hội đương thời. Nổi tiếng ngang hàng với Vương Kiến, người đời xưng tụng là " Trương Vương ". Tác phẩm để lại : Trương Tư Nghiệp Tập.

    ĐÃI HIỂU : là Chờ sáng, là Đợi đến sáng ngày.

    CỰU CÔ : CỰU 舅 là Cậu, là Anh Em trai của mẹ. CÔ 姑 là Chị Em gái của cha. Nhưng theo Tập quán Ngôn ngữ của người Hoa xưa, CỰU CÔ 舅姑 là Ông Già Chồng và Bà Già Chồng. Trong bài thơ :

    BÁI CỰU CÔ 拜舅姑 là Ra mắt Ông Bà già Chồng.

    TRANG BÃI : là Trang điểm xong xuôi.

    PHU TẾ : là Chàng rễ, là tiếng gọi Chồng một cách thân mật.

    NHẬP THỜI : là Hợp thời trang, đúng trào lưu, nói một cách bình dân là : Đúng "Gu", đúng "Mốt" ( à la mode ) hiện tại.

 

Nghĩa Bài Thơ :

                    GẦN THI DÂNG LÊN TRƯƠNG THỦY BỘ

       Động phòng đêm hôm qua, đuốc hoa cũng đã ngừng cháy rồi. Đợi đến sáng ngày để lạy ra mắt cha mẹ chồng. Sau khi trang điểm xong, nàng mới kề tai hỏi nhỏ chàng rằng : " Đôi mày của thiếp kẽ như thế nầy, đậm nhạt kiểu dáng có hợp thời hay không ?". Ý muốn hỏi : có làm đẹp lòng của cha mẹ chồng không ?!

 

Diễn Nôm :

                 Đêm qua hoa chúc động phòng xong,

                 Chờ sáng ngày ra mắt mẹ chồng.

                 Trang điểm xong hỏi chàng nho nhỏ :

               " Mày ngài đậm nhạt hợp thời không ?"

Lục bát :

                 Động phòng hoa chúc vừa ngưng,

                 Sáng ra trang điểm lạy mừng thầy me.

                 Kề tai hỏi nhỏ e dè :

               " Mày ngài đâm nhạt còn e ... chăng chàng !?"

 

        Đây là bài thơ của Châu Khánh Dư làm trước ngày ứng thi Tiến sĩ, gởi cho Trương Tịch bình phẩm; vì lúc ấy Trương đang là Thủy Bộ Lang Trung ở kinh thành, nổi tiếng về văn thơ và có thể sẽ là phó chủ khảo của khoa thi. Châu Khánh Dư tự ví mình như là cô dâu mới về nhà chồng, còn Trương Tịch là chàng rể, quan chủ khảo là cha mẹ chồng, còn mày ngài đậm nhạt như là phong cách thơ văn của mình. Châu hỏi Trương xem NÓ có hợp với ý của quan chủ khảo chăng để còn biết mà uyển chuyển điều chỉnh lại. Trương đã ca ngợi và biểu dương cái ý chân thành nầy của Châu, nên khoa đó Châu đã đậu ngay Tiến Sĩ Cập Đệ.

 

        Bây giờ thì ta trở lại với Giai Thoại Văn Chương Việt Nam " VÕ TRẮC VÃNG NAM CÔ " của một Thủ Khoa đất Bình Thủy Cần Thơ :  Ông Thủ Khoa Bùi Hữu Nghĩa nhé !

        Ông sinh năm Đinh Mão (1807) tại làng Long Tuyền, tổng Định Thới, huyện Vĩnh Định, phủ Định Viễn, trấn Vĩnh Thanh (nay thuộc phường An Thới, quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ). Cha ông tên Bùi Hữu Vị, làm nghề chài lưới.
        Năm 1835 ông đỗ Giải nguyên (thủ khoa) kỳ thi Hương ở Gia Định, vì thế ông được gọi là Thủ Khoa Nghĩa.
        Khi thực dân Pháp đánh chiếm ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ, năm 1862, Bùi Hữu Nghĩa xin từ quan về quê dạy học, bốc thuốc chữa bệnh cho dân và làm thơ (lúc này ông lấy hiệu là "Liễu Lâm chủ nhân"). Nhà ông là nơi các sĩ phu yêu nước gặp gỡ, bàn bạc việc chống Pháp cứu nước. Ông lâm bệnh và mất ngày 21 tháng giêng năm Nhâm Thân (1872), thọ 65 tuổi.

        Sinh thời, Thủ Khoa Nghĩa nổi tiếng với vở tuồng " Kim Thạch Kỳ Duyên " được nhà vua khen ngợi. Nghe nói khi soạn vở tuồng nầy có sự giúp sức và góp ý của ông Huỳnh Mẫn Đạt, nên mới có câu chuyện sau đây ...

        Tương truyền, ở xứ Gia Định có Tú Tài VĂN BÌNH, văn hay chữ tốt, nhưng thi cử lận đận, thi mãi mà vẫn chỉ đậu có ...Tú Tài ! Nghe đồn Thủ Khoa Nghĩa soạn tuồng Kim Thach Kỳ Duyên được vua khen, thì trong lòng không phục, lại nghe nói có sự góp sức của cụ Huỳnh Mẫn Đạt nên lại càng không phục hơn. Một hôm Tú ta quyết định " Đem chuông đi đấm xứ người ", mới khăn gói mò xuống đất Bình Thủy tìm gặp Thủ Khoa Nghĩa để thử tài một chuyến xem lời đồn có đúng hay không ?...

        Khi đến Bình Thủy, đang đi lang thang để hỏi thăm nhà Thủ Khoa Nghĩa thì gặp phải một ông già dáng vẻ nhà quê ngồi hóng mát trước cửa, anh ta bèn ghé lại hỏi thăm :

      - Thưa bác, bác có biết nhà ông Thủ Khoa Bùi Hữu Nghĩa ở đâu không ạ ? Ông già nhướng mắt lên hỏi lại :

      - Cậu là ai, kiếm ông Thủ Khoa có việc gì không ?

      - Dạ, cháu là Tú tài Văn Bình ở Gia định, nghe đồn ông Thủ Khoa rất giỏi về văn thơ, nên tìm đến hỏi thăm cho biết vậy mà ! Ông già nghe xong rất sốt sắn :

      - Vậy hả, Tú tài Văn Bình hả, mời vào nhà ngồi chơi, uống ly nước, rồi tôi sẽ biểu sấp nhỏ dẫn tới nhà ông Thủ Khoa cho !

       Sau khi vào nhà ngồi yên chỗ xong, ông già mới rót hai ly nước trà mời khách. Tú tài Văn Bình ngó quanh thấy trong nhà có treo mấy câu đối nên lẩm nhẩm đọc. Ông già bèn cười nói rằng :

     - Đó là mấy câu đối của ông Thủ Khoa làm đó. Còn tụi tôi thì học ít, hổng biết làm câu đối dài tới vậy, chỉ biết đối từng chữ một mà thôi. Nếu cậu không chê thì mình đối chơi với nhau một vài chữ cho vui ! Thấy ông già tử tế và vui tính, nên Văn Bình cũng rất vui vẻ nhà  nhận lời. Ông già bưng ly trà lên nhấp nhấp đọc :

     - VÕ  武. Văn Bình đối lại :

     - VĂN 文.  Ông già lại đọc :

     - TRẮC 仄.  Văn Bình đối là :

     - BÌNH 平.  Ông già lại tiếp :

     - VÃNG 往. Văn Bình đối ngay :

     - LAI 來. Ông già lại ra :

     - NAM 南. Văn Bình lại đối :

     - BẮC 北. Ông già lại đọc :

     - CÔ. Văn Bình lại đối là :

     - CỤ. Tất cả các chữ đều đối với nhau chan chát. Đến đây, thì ông già ngưng lại đề nghị :

     - Bây giờ thì mình ghép các chữ đã đối với nhau lại nghen. Câu của tui là : VÕ TRẮC VÃNG NAM CÔ ! Văn Bình cũng đọc to các chữ mà mình đã đối là :

     - VĂN BÌNH LAI BẮC CỤ ! Vừa đọc xong, anh ta chợt giật mình, đứng dậy bẽn lẽn chấp tay xá ông già một cái mà nói rằng :

     - Ông ơi, Ông chính là ông Thủ Khoa rồi, tú tài này xin bội phục !

       Ông già cũng đứng lên cười xòa, nắm tay Văn Bình bảo anh ta ngồi xuống; đoạn 2 người cùng nhau đàm luận văn chương rất ư là tương đắc. Thì ra ...

       Câu VÕ TRẮC VÃNG NAM CÔ của Thủ Khoa Bùi Hữu Nghĩa không có nghĩa gì cả; nhưng câu VĂN BÌNH LAI " BẮC CỤ " của Tú Tài Văn Bình thì thật ... khó chơi, mà lại do chính miệng mình nói ra ... cái mới chết chớ !

 

      Lúc nhỏ, khi đọc xong giai thoại nầy, tôi cứ thắc mắc mãi : VÕ 武 đối với VĂN 文; TRẮC 仄 đối với BÌNH 平; VÃNG 往 đối với 來; NAM 南 đối với 北; đối nhau chan chát không có gì để nói, nhưng bảo CÔ với CỤ cũng " đối nhau chan chat ", thì tôi không phục chút nào cả ! CÔ là CÔ nào ? là CÔ ĐƠN 孤單 hay CÔ 姑 là Chi Em Gái của Cha ? Còn CỤ là CỤ nào ? là CÔNG CỤ 工具 hay CỤ 懼 là Sợ ? Nhưng theo các nghĩa trên thì CÔ và CỤ không thể đối nhau được, đừng nói tới chuyện " đối nhau chan chát "! Còn bảo CÔ là Bà Cô, CỤ là Ông CỤ thì càng sai hơn nữa, vì Ông CỤ chữ CỤ nầy là tiếng Nôm, không thể đối với CÔ là từ Hán Việt được ! Muốn đối được với chữ CÔ 姑 là Chị em gái của cha thì có THÚC 叔 là Chú, BÁ 伯 là Bác hay CỰU là Cậu mà thôi ! Nhưng nếu như thế thì cái giai thoại văn chương nầy bị " hỏng " mất, vì Tú Tài Văn Bình có thể dùng từ THÚC hoặc BÁ để đối với từ CÔ, và câu đối sẽ là :

               " VĂN BÌNH LAI BẮC THÚC hay BẮC BÁ "

thì cũng hỏng bét, vì không nói lên được cái " thâm ý " của Ông Thủ Khoa. Nhưng tại sao Ông lại ra chữ CÔ và tại sao Văn Bình lại buộc phải đối là CỤ ? Tôi đem thắc mắc nầy hỏi rất nhiều thầy dạy chữ Hán, nhưng đều không được giải đáp thỏa đáng !... Đến sau nầy, khi tôi đã trở thành thầy dạy chữ Nho, tôi cũng không dám kể giai thoại nầy cho bạn bè nghe, vì sợ họ thắc mắc như tôi, nếu họ hỏi thì làm sao mà trả lời đây ?!...

        Mãi cho đến hơn ba mươi năm sau, khi tôi đang mò mẫm để dịch thơ Đường, lúc dịch đến bài " CẬN THÍ THƯỢNG TRƯƠNG THỦY BỘ " của Châu Khánh Dư, khi đến câu " Đãi hiểu đường tiền bái CỰU CÔ 待曉堂前拜舅姑 " tôi mới chợt " Ngộ " ra rằng :

      CỰU là Ông già Chồng đối với CÔ là Bà già Chồng.

      CƯU là Anh em trai của Mẹ đối với CÔ là Chị em gái của Cha. 

      Nên ...

      Khi ông Thủ Khoa Nghĩa ra chữ CÔ 姑 thì Tú Tài Văn Bình mới đối ngay là CỰU 舅. CÔ đối với CẬU thì không còn gì chỉnh hơn được nữa; và " Ông già Chồng " đối với " Bà già Chồng " thì qủa là " đối nhau chan chát " thật sự !

      Nhưng... " VĂN BÌNH LAI BẮC CỰU " thì vẫn chưa " đạt yêu cầu " của ông Thủ Khoa. Đây chính là điểm chính yếu, là cái mấu chốt của giai thoại nầy. Ông Thủ Khoa đã khéo lợi dụng lời ăn nói và cách phát âm giản dị, tùy tiện của dân Nam Kỳ Lục Tỉnh như " uống rượu " thì nói là " uống gụ ", " đời cô Lựu " thì nói là " đời cô Lụ ", " Quốc Cựu " thì nói là " Quốc Cụ " ... nên mới khiến cho Tú Tài Văn Bình là người Gia Định tự mình ... LAI BẮC CỤ !

 

       Xin được kết thúc " Võ Trắc Vãng Nam Cô " ở đây. Mong tất cả đều có được một giây phút ... thư giản và vui tươi trong " ba ngày Xưng con Gà " !

 

                                                                  Đỗ Chiêu Đức

  

NĂM GÀ NÓI CHUYỆN ... CON KÊ !

 dcd_namga_1.jpg

               

 

        KÊ 鷄 là từ Hán Việt chỉ Con Gà, Gà là Kê, Kê là Gà, là ... Gà Kê Dê Ngỗng. Bà con ta thường nói thành " Cà Kê Dê Ngỗng ". Năm Gà nói chuyện...con Kê là nói chuyện phiếm, chuyện tào lao, chuyện bao đồng về con gà để nghe chơi khi trà dư tửu hậu.

        GÀ được xếp hàng thứ Mười, thuôc chi DẬU trong Thập Nhị Địa Chi. Năm nay Thiên Can nhằm chữ Đinh, nên năm 2017 là năm ĐINH DẬU. Nam phương Bính Đinh thuộc Hỏa là Lửa, hợp với chi Dậu là Con Gà. Nên ĐINH DẬU là Con Gà Lửa ... mà con gà bỏ vô lửa thì thành ... Con Gà Quay. Vậy là năm 2017 nầy bà con ta tha hồ mà hưởng lộc " Gà Quay " nhé ! Không sợ bị đói như năm ẤT DẬU 1945. Vì Đông Phương Giáp Ất thuộc Mộc, nên ẤT DẬU là con gà bằng ...Mộc, bằng Cây, mà gà bằng Cây thì làm sao ăn cho được, không đói mới là lạ !

        GÀ là KÊ 鷄, KÊ là chữ Tượng Hình trong Lục Thư, là cách đầu tiên trong 6 cách tạo hình của Chữ Nho ... dễ học, theo diễn tiến của chữ viết như sau :

       Giáp Cốt Văn   Đại Triện       Tiểu Triện      Lệ Thư 

                         

      Ta thấy :

     Giáp Cốt Văn là hình tượng của con gà trống hiên ngang với cái mỏ hướng về bên trái và cái vương miện vươn cao ở trên đầu, hai cánh bên dưới xòe ra như đang đập cánh chuẩn bị cất cao tiếng gáy vào buổi sáng. Nhưng qua Đại Triện và Tiểu Triện do sự biến thiên của chữ viết qua các thời đại, chữ KÊ 鷄 được hình thành bởi Hình Thanh ( Cách tạo chữ thứ 4 của Chữ NHO ... dễ học ) với chữ HỀ 奚 bên trái chỉ Âm và chữ ĐIỂU 鳥 bên phải chỉ Ý, nên chữ KÊ hiện tại được viết như thế nầy 鷄, chữ Điểu bên phải có thể thay bằng bộ CHUY 隹 là Loài chim đuôi ngắn, nên chữ KÊ cũng được viết như sau 雞. Ta có 4 hình thức của chữ KÊ :

                  Giản thể                   Phồn thể

               鸡           鳮             雞              鷄

             7 nét      13 nét       18 nét       21 nét

 

       Vì đến 2 hình thức chữ Phồn Thể, mà chữ phức tạp nhất có đến những 21 nét, nên KÊ thuộc dạng chữ khó nhớ ngày xưa khi học chữ Nho, cho nên mới có câu chuyện vui " Tam Đại của Con Gà " sau   đây về ông Thầy Đồ...dốt. Truyện kể :

        Xưa, có anh học trò học hành dốt nát, nhưng trò đời " Xấu hay làm tốt, dốt hay ... xổ Nho ", đi đâu cũng lên mặt văn hay chữ tốt.

 Có người tưởng anh ta hay chữ thật, mới đón về dạy trẻ.

        Một hôm, đang dạy sách Tam Thiên Tự 三千字, sau chữ " Tước " là chim sẻ, đến chữ " KÊ " là gà, thầy thấy mặt chữ nhiều nét rắc rối, không biết chữ gì, học trò lại hỏi gấp, thầy quýnh qúa, nói đại nói càn : " Dủ dỉ là con dù dì ". Thầy cũng khôn, sợ lỡ sai người nào biết thì mắc cở, mới bảo học trò đọc nhỏ thôi, tuy vậy, trong lòng thầy vẫn lo âu thấp thỏm.

        Nhân trong nhà có bàn thờ Thổ Địa Thần Tài, thầy mới đến khấn thầm xin ba keo âm dương để xem chữ đó có phải thật là " dù dì " không. Thổ công cho ba keo đều được cả ba.

        Thấy vậy, thầy lấy làm đắc ý lắm, hôm sau bệ vệ ngồi trên giường, bảo trẻ đọc cho to. Trò vâng lời thầy, gân cổ lên gào:

      - Dủ dỉ là con dù dì ! Dủ dỉ là con dù dì...

        Ông cha của sấp nhỏ đang cuốc đất ngoài vườn, nghe tiếng con học, ngạc nhiên mới bỏ cuốc chạy vào, giở sách ra xem, rồi hỏi thầy :

     - Thầy ơi ! Chữ " KÊ " là gà, sao thầy lại dạy thành " dủ dỉ " là con " dù dì " ?

       Bấy giờ thầy mới nghĩ thầm : " Mình đã dốt, Thổ Địa Thần Tài nhà nó còn dốt hơn mình nữa ", nhưng Thầy cũng lanh trí, nên vội nói đỡ là :

     - Tôi cũng biết chữ đó là chữ " kê  ", mà " kê " nghĩa là " gà ", nhưng tôi dạy cháu như thế là dạy cho chúng nó biết tận Tam Đại 三代 của con gà kia !

      Chủ nhà càng không hiểu ất giáp gì cả, hỏi :

    - Tam Đại 三代 của con gà là nghĩa ra làm sao?

    - Là ba đời của con gà đó ! Này nhé," Dủ dỉ là chị con Công, con Công là ông con Gà." Thế, chả phải Tam Đại của con gà là gì ?! 

     

            DẬU đứng hàng thứ Mười trong Địa Chi, nhưng lại là Tháng Tám Âm lịch. Ngày Dậu là ngày được xếp sau ngày Thân và trước ngày Tuất. Giờ Dậu là từ 5 đến 7 giờ chiều tối, nên ông bà ta ngày xưa có để lại mấy câu nói sau đây :

              Mạc ẩm Mão thời tửu,    莫飲卯時酒,

              Hôn hôn túy đáo Dậu.    昏昏醉到酉.

              Mạc mạ Dậu thời thê,     莫罵酉時妻,

              Nhất dạ thụ cô thê.        一夜受孤凄.
 Có nghĩa :

  *  Đừng uống rượu vào giờ Mão ( từ 5 đến 7 giờ sáng ). Vì sẽ bị...

      Say sưa mơ màng cho đến giờ Dậu ( từ 5 đến 7 giờ tối ). Vậy là

        suốt ngày sẽ không làm ăn gì được cả !

  *  Đừng mắng vợ vào giờ Dậu, vì chiều tối mà vợ chồng giận nhau

        thì suốt đêm sẽ chịu lạnh lẽo cô đơn có một mình, cũng sẽ

        không " làm ăn " gì được cả !

      Tâm lý qúa cở " thợ mộc "! Ai bảo là ông bà ngày xưa không biết tâm lý tình cảm và bảo vệ hạnh phúc gia đình đâu !?

      

      DẬU kết hợp với TỴ và SỬU thành Tam Hạp. Trâu Bò hợp với Gà thì còn được, chớ Trăn Rắn làm sao mà hợp với gà cho được, thấy gà là chúng quấn cho nát xương rồi nuốt trửng nguyên con như chơi. Không biết mấy thầy Tử Vi tướng số ngày xưa căn cứ vào cái gì mà  xếp cho con Gà và con Rắn hợp nhau ? Rắn thì chắc OK rồi, nhưng gà mà gặp rắn là chạy " tét ghèn " luôn, làm sao mà hợp cho được !

      DẬU lại cùng với TÝ, NGỌ và MÃO, ta gọi là Tý Ngọ Mẹo Dậu thành một bộ Tứ Hành Xung. Ba lần bốn mười hai, cho nên hễ vợ chồng cách nhau 3, 6 hoặc 9 tuổi là lọt vào Tứ Hành Xung ngay ! Nên ngày xưa đi cưới vợ phải coi tuổi là vì thế ! Tuyệt đối kỵ 3, 6, 9, nhất là  cách nhau 6 tuổi sẽ lọt vào số Chánh Xung, như : Dần và Thân, Tỵ và Hợi, Tý và Ngọ, Mẹo và Dậu, Thìn và Tuất, Sửu và Mùi đều cách nhau 6 tuổi, bảo đãm không xung không lấy tiền !

dcd_12congiap.jpgdcd_namga_3.jpg 

 

       Trong thần thoại, GÀ là MÃO NHẬT KÊ 昴日雞, là ngôi thứ tư trong Bạch Hổ Thất Tinh, thuộc 7 vì sao nằm ở phương Tây của Nhị Thập Bát Tú 二十八宿, hướng Tây thuộc mùa Thu, cũng là mùa thu hoạch nông phẩm xong, cửa nhà đã đóng. Nên Mão Nhật Tinh thuộc nhóm Hung Tinh ( Sao dữ ), thường mang đến tai ương bất lợi, hung đa kiết thiểu ( cho những người chưa thu hoạch hay bị mất mùa thất thu : Chắc chắn sẽ bị đói !). 

                dcd_namga_4.jpg 

            

          Mão Nhật Kê được tạo hình trong phim Tây Du Ký
      

       GÀ là một trong lục súc sống cùng với con người qua mấy ngàn năm lịch sử. Dựa theo các giả định Cổ Khí Hậu Học, có làm một nghiên cứu vào năm 1988 cho rằng gà được thuần hóa ở vùng Hoa Nam vào năm 6000 trước Công nguyên. Nhưng, một nghiên cứu khác vào năm 2007 cho rằng Gà xuất xứ từ Văn minh lưu vực sông Ấn (2500-2100 trước Công nguyên), nơi mà ngày nay thuộc lãnh thổ của Pakistan, có thể là nguồn chính cho sự lan truyền của các giống gà trên toàn thế giới.

        Trong Lục Súc Tranh Công, một tác phẩm văn học dân gian của ta, trước đây được xếp trong chương trình Cổ Văn của lớp Đệ Thất, đã cho con Gà nói về mình như sau :

 ................................

Này này! gà ngũ đức thẳm sâu:
Nhân, dũng, tín, võ, văn, gồm đủ.
Trên đầu đội văn quan một mũ;
Dưới chân đeo hai cựa thần thương.
Đã ghe phen đến chốn chiến trường.
Lập công trận vang tai, lói óc,
Thủa Tây Lũng tam canh trống thúc;
Gà gáy đầu ba tiếng đêm khuya,
Một tiếng rằng: thiên nhật tác thì;
Hai tiếng rằng: quốc tộ tác xương,
Ba tiếng rằng: nhân gian tác lạc,
Đã cứu nạn Mạnh Thường đặng thoát;
Lại khuyên người Tấn sĩ năm canh.
Hễ ai toan cải dữ về lành,
Gà cũng biết tỉnh, mê, giấc điệp.
Coi giò gà xét biết thịnh suy.
Dóng canh khuya vui dạ kẻ tiêu y,
Cất tiếng gáy, toại lòng người đãi đán,
                ...............................................

 

       Ta thấy bài kể công trên, Gà có nhắc đến "...cứu nạn Mạnh Thường ...". Mạnh Thường đó là Mạnh Thường Quân của nước Tề, một trong Chiến Quốc TỨ CÔNG TỬ 戰國四公子, là bốn Vương Tôn hào hiệp, chiêu hiền đãi sĩ thời Chiến Quốc, đó là :

 

 齐国孟尝君田文    Mạnh Thường Quân ĐIỀN VĂN của nước Tề.

 赵国平原君赵胜    Bình Nguyên Quân TRIỆU THẮNG của nước Triệu.   魏国信陵君魏无忌 Tín Lăng Quân NGỤY VÔ KỴ của nước Ngụy.

 楚国春申君黄歇    Xuân Thân Quân HOÀNG YẾT của nước Sở.

 

          dcd_namga_5.jpg
           Tứ Công Tử qua Minh họa và qua Điện ảnh

 

       Không phải đương không mà Tứ Công Tử nầy bỏ tiền của ra để nuôi ba ngàn thực khách trong nhà, mục đích chiêu hiền đãi sĩ của những vị nầy là để chiêu mộ tất cả nhân tài trong thiên hạ để chống lại nước Tần lớn mạnh đang lăm le thôn tính Thất Hùng....

       Trở lại với MẠNH THƯỜNG QUÂN, người nổi tiếng nhất trong Tứ Công Tử và ... con Gà đã cứu ông ta :

       Tần Chiêu Tương Vương nghe nói Mạnh Thường Quân tài giỏi, nên mời đến nước Tần, định phong làm Tể Tướng, nhưng lại lo ông ta là người nước Tề chỉ lo cho quyền lợi của nước Tề. Không dùng, lại định giết đi. Mạnh Thường Quân biết tin lo sợ, mới tìm người sủng thiếp của Tần Vương mà cầu cứu. Người thiếp nầy thấy trước đây  Mạnh Thường Quân có tặng cho Tần Vương một chiếc áo hồ cừu rất đẹp nên cũng muốn có một chiếc mới chịu giúp. Bí lối, vì chỉ có một chiếc duy nhất. Cũng may trong đám môn khách đi theo có một người chuyên đào tường khoét vách, đã lẻn vào cung vua Tần trộm chiếc áo hồ cừu đó ra để ông đem tặng cho người sủng thiếp. Nghe lời ỏn ẻn của người thiếp khi đầu gối tay ấp, Tần Vương thả Mạnh Thường Quân về nước. Không kịp đợi trời sáng, cả đoàn người ngựa kéo nhau lên đường. Tần Vương thả người xong thì hối hận, bèn cho binh lính đuổi theo bắt lại. Khi đoàn người của Mạnh Thường Quân chạy đến cửa thành thì trời chưa sáng, cửa thành chưa mở. Lại một

môn khách đi theo có người giỏi nhái tiếng gà gáy, khi ông ta cất tiếng gáy lên thì tất cả gà trong thành đều cất tiếng gáy theo. Lính canh thành tưởng trời đã sáng bèn mở toang cửa thành ra. Thế là cả đoàn người của Mạnh Thường Quân ra thành... chạy tuốt ! Khi quân Tần đuổi tới thì đoàn người đã đi xa lắc xa lơ rồi !

       Con Gà cứu Mạnh Thường Quân là con Gà...trong ba ngàn thực khách của ông ta, còn bầy Gà chỉ hùa theo tiếng gáy mà thôi ! Con Gà trong Lục Súc Tranh Công không biết thấu đáo mà cho là công lao của mình. Nhưng xét cho cùng, không có bầy gà cùng gáy thì chưa chắc lính canh đã chịu mở cửa thành ! Và ... cũng vì tích nầy mà ta có được thành ngữ :

       KÊ MINH CẨU ĐẠO 雞鳴狗盜 : là Gà gáy Chó trộm. Ý chỉ hai thực khách của Mạnh Thường Quân, một người chui lổ chó vào cung trộm áo; một người giả làm gà gáy sáng. Ý muốn nói những người tầm thường du thủ du thực nhiều khi cũng đắc dụng, cũng làm nên việc có ích hoặc cứu giúp lúc lâm nguy, chớ không phải hoàn toàn vô dụng. Nhưng thành ngữ nầy hiện nay thường dùng để chỉ hạng đầu trộm đuôi cướp, ba que xỏ lá, trộm gà bắt chó... mà đã mất đi ý nghĩa tốt đẹp của lúc ban đầu !

                        dcd_namga_6.jpg 

       
                               Kê Minh Cẩu Đạo

 

       Con Gà của Lục Súc Tranh Công còn kể lể :

 

              Lại khuyên người Tấn sĩ năm canh.

 

       TẤN SĨ 晉士 : là Kẻ sĩ của nước Tấn; ở đây chỉ TỔ ĐỊCH 祖逖 ( 266-321 ) và LƯU CÔN 劉 琨 ( 271-318 ) của thời Đông Tấn và Tây Tấn theo tích sau đây :

      Tổ Địch tự là Sĩ Nhã, người đất Yên Sơn. Ông là một Đại Tướng đầu đời Đông Tấn, có chí muốn khôi phục Trung Nguyên nên ra sức bắc phạt, từng lập được nhiều chiến công. Ông cùng với người bạn trẻ là Lưu Côn, tự là Việt Thạch, người đất Hà Bắc, là danh tướng đời Tây Tấn, là hậu duệ của Hán Trung Sơn Tịnh Vương. Lúc nhỏ cùng với Tổ Địch kết giao. Hai người thường bàn luận về chính sự, quốc sự đều tỏ ra rất tâm đắc, tuổi trẻ lòng đầy nhiệt huyết đều muốn cống hiến sức lực của mình cho Tổ quốc, nên mỗi đêm về sáng khi nghe được tiếng gà gáy là cùng nhau thức dậy để múa gươm luyện võ, trao dồi thể lực để mong có cơ hội ra giúp nước. Đêm đêm như thế, chẳng hề chểnh mảng đơn sai.

        Vì thế mà hình thành được thành ngữ VĂN KÊ KHỞI VŨ 聞雞起舞 : là Nghe tiếng Gà gáy thì dậy mà múa. Múa ở đây là Múa Gươm, vừa rèn luyện thân thể, vừa ôn tập võ nghệ. Thành ngữ nầy còn dùng để chỉ những người có chí muốn phục vụ cho quốc gia dân tộc, sẵn sàng cống hiến sức lực và tài năng của mình kịp thời và đúng  lúc để đáp lời sông núi. VĂN KÊ sẽ KHỞI VŨ ngay !

             dcd_namga_7.jpg
                                 

                            Văn Kê Khởi Vũ
 

     Tiếng gà gáy sáng khi màn trời còn phủ sương đêm, làm ta chợt nhớ đến cô Kiều " Đêm khuya thân gái dặm trường, Phần e đường xá phần thương dãi dầu !" khi trốn khỏi Quan Âm Các của Hoạn Thư một thân một mình với cảnh :


                        Mịt mù dặm cát đồi cây,
             Tiếng gà điếm nguyệt dấu giày cầu sương.

 

     " Tiếng gà điếm nguyệt dấu giày cầu sương " là lấy ý và thoát dịch một cách tuyệt vời 2 câu thơ trong bài THƯƠNG SƠN TẢO HÀNH 商山早行 của Ôn Đình Quân 溫庭筠 đời Đường là :


           Kê thanh mao điếm nguyệt,   雞聲茅店月,
           Nhân tích bản kiều sương.     人跡板橋霜.

Có nghĩa :
   Tiếng gà xao xác gáy ở quán lá ven đường khi trăng còn chênh chếch bên trời, và...
   Trên chiếc cầu ván nhỏ bắt ngang qua lạch nước còn đẫm sương đêm đã có một vài dấu chân người đi qua.
   Cảnh vắng vẻ lạnh lùng của buổi sớm mai càng làm tăng thêm nỗi cô đơn thấp thỏm của người đang tìm đường tị nạn !...

 

                dcd_namga_8.jpg

               Tiếng gà điếm nguyệt dấu giày cầu sương.

 

     Con GÀ của Lục Súc Tranh Công còn tự hào về hình dáng của mình :

                 Trên đầu đội văn quan một mũ;
                 Dưới chân đeo hai cựa thần thương.
     Qủa là Văn Võ Song Toàn với " văn quan một mũ " và " hai cựa thần thương ". Hình dáng của con gà trống thì qủa thật không chê vào đâu được. Mỏ vàng mồng đỏ, lông cánh lông đuôi màu sậm, lông mình sặc sở đỏ vàng xanh, bước đi bệ vệ, vỗ cánh phần phật làm cát bụi tung bay đầy trời trước khi cất cao tiếng gáy : " Ò  Ó  O Ò  O ... " đó là Gà Việt Nam; còn Gà Tàu thì gáy : " wu wu ti 喔喔啼 ... ". Hồi xưa khi mới đậu Đệ Thất, tới giờ học Pháp Văn mới lần đầu tiên nghe tiếng gà Tây gáy : " Cocorici, co-co-ri-co ...". Bây giờ định cư ở Mỹ, nghe mấy đứa cháu nội cháu ngoại cho gà gáy bằng tiếng Anh : " Cock-a-doodle-doo, cock-a-doodle-doo ... !". Thật cảm khái vô cùng !!!

      Gà oai phong là thế, đẹp rực rỡ là thế, nhưng khi có một con Hạc lạc vào thì lại trở nên tầm thường nhỏ bé, nên ta lại có thành ngữ : HẠC LẬP KÊ QUẦN 鶴立雞群 có nghĩa là " Hạc đứng giữa bầy gà ". Đương nhiên Hạc trông cao ráo thanh thoát hơn hẵn bầy gà thấp lè tè bên dưới. Tiếng Việt ta còn nâng lên một cấp nữa, ta nói là " PHỤNG LỘN VỚI GÀ " Phụng chẳng những cao lớn hơn mà còn đẹp rực rỡ hơn gà nhiều ! Câu " Hạc lập Kê Quần " có xuất xứ từ điển tích " Trúc Lâm Thất Hiền luận " của Đái Mục đời Tấn như sau :

        KÊ THIỆU làm quan Thị Trung cho Tấn Huệ Đế, người khôi ngô cao lớn thông minh anh tuấn, văn võ song toàn. Lúc bấy giờ hoàng tộc nhà Tấn đang tranh quyền đoạt vị, giết hại lẫn nhau, mạnh ai nấy xưng vương, sử gọi là " Bát Vương Chi Loạn ". Kê Thiệu vẫn một mực trung thành với Tấn Huệ Đế. Lúc kinh thành có loạn Kê Thiệu đứng chặn trước cửa cung, loạn quân thấy vẻ hiên ngang hùng dũng của Kê Thiệu khiếp đãm đến không dám xạ tiễn. Khi Tấn Huệ Đế thua chạy ở Thang Dương, tướng sĩ chết vô số, Kê Thiệu vẫn theo sát để bảo vệ Huệ Đế đến nỗi thân mình trúng mấy mũi tên, máu nhỏ cả lên long bào của Huệ Đế và ông đã hy sinh trong trận chiến nầy. Sau đó, những người tùy tùng định tẩy giặt những vết máu trên long bào, Huệ Đế đã ngăn lại bảo đó là máu của Thị Trung Kê Thiệu không được giặt đi. Khi Kê Thiệu lần đầu đến Lạc Dương, đi trong đám đông người, thân hình cao lớn, khí vũ hiên ngang, như là con Hạc đứng giữa bầy Gà vậy, từ đó mà hình thành thành ngữ HẠC LẬP KÊ QUẦN 鶴立雞群 để chỉ những người vượt trội hơn người khác chẳng những về sức vóc mà cả về tài năng nữa !

         KÊ THIỆU là con của KÊ KHANG, một trong TRÚC LÂM THẤT HIỀN:Gồm có Nguyễn Tịch 阮籍、Kê Khang 嵇康、Sơn Đào 山涛刘伶 Lưu Linh、阮咸 Nguyễn Hàm、向秀 Hướng Tú、王戎 Vương Nhung; Họ sống và ở ẩn giữa đời Ngụy và đời Tấn. KÊ KHANG chẳng những là Nhà Tư Tưởng, nhà Văn Học mà còn là Nhà Âm Nhạc nổi tiếng lúc bấy giờ với bản đàn Quảng Lăng Tán 廣陵散, mà cụ Nguyễn Du đã mượn NÓ để khen tài đờn của Thuý Kiều, khi cô đờn cho Kim Trọng nghe lần đầu tiên là :

                      Kê Khang nầy khúc Quảng Lăng,

                   Một rằng lưu thủy hai rằng hành vân.

        dcd_namga_9.jpg

              Hạc Lập Kê Quần                 Trúc Lâm Thất Hiền 

 

      YAO MING 姚明 : là Diêu Minh ( người mặc áo đỏ trong hình trên ), cầu thủ bóng rổ của Trung Quốc được Hội Bóng Rổ nhà nghề Rocket của thành phố Houston ký hợp đồng từ năm 2003 đến 2008 để tranh Giải Bóng Rổ Toàn Quốc Hoa Kỳ NBA. Yao Ming có thân hình cao 7'6" ( 226cm )= 2 mét 26, nên khi đứng giữa các cầu thủ khác thì như là  HẠC LẬP KÊ QUẦN 鶴立雞群 vậy ! 

      Con GÀ trống oai vệ mạnh mẽ là thế, nên có những con người yếu đuối không thể khống chế nỗi con gà, ngay khi cả con gà đã bị kềm chế ... thúc thủ chịu trói rồi mà còn trói không chặc, để đến đỗi mang tiếng là THỦ VÔ PHƯỢC KÊ CHI LỰC 手無縛雞之力 là Tay không đủ sức để trói gà. Thành ngữ nầy thường dùng để chỉ những chàng thư sinh ngày xưa, tối ngày chỉ biết ôm lấy quyển sách, miệng luôn đọc câu THI VÂN 詩云 ...TỬ VIẾT 子曰 ... ( Kinh Thi nói rằng... Khổng Tử dạy rằng ... ) mà không chịu rèn luyện thân thể cho khỏe mạnh để đến nỗi không có sức trói nỗi con gà, ta nói là " Thứ cái đồ thư sinh trói gà không chặc !".

       Nhưng dù " Trói gà không chặc " nhưng các bà các cô ngày xưa cũng vẫn cứ ... xáp vào ! Và còn biện bạch là :

                       Chẳng tham ruộng cả ao liền,

                    Tham vì cái bút cái nghiên anh đồ !

       Khéo mà nói xạo ! Chẳng là vì " Cái bút cái nghiên " của anh đồ, một khi " ảnh " Kim Bảng Đề Danh thì sẽ có được " Ruộng cả Ao liền " như chơi mà thôi ! Nên khi còn hàn vi thì đành bóp bụng mà GIÁ KÊ TÙY KÊ, GIÁ CẨU TÙY CẨU 嫁雞隨雞,嫁狗隨狗 Là Gả cho Gà thì theo Gà, Gả cho Chó thì theo Chó, mười hai bến nước, trong thì nhờ, đục thì  ... chịu khó " lóng phèn " mà thôi !

       Con Gà rất gần gũi với người nông dân Việt Nam, là gia cầm quen thuộc và gắn bó mật thiết với đời sống hàng ngày của dân nước nông nghiệp, nó còn xuất hiện rất nhiều trong ca dao, tục ngữ để khuyên nhủ, nhắc nhở hay chê trách một điều gì đó trong cuộc sống, đôi khi lại cảm thông tưởng thưởng, như những người góa vợ mà chịu khó " Gà trống nuôi con "; những người biết nhẫn nhịn, không như " Con gà tức nhau vì tiếng gáy ". Khi chê trách thì không thiên vị người nào, kể cả các bậc vua chúa như Lê Chiêu Thống cũng bị quở là " Cõng rắn cắn gà nhà "!. Anh em trong nhà thì luôn được nhắc nhở là " Anh em như thể tay chân ", nên :

                     Khôn ngoan đá đáp người ngoài,

                   Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau !

        Khuyên thì khuyên vậy, chớ đôi khi vì quyền lợi, tài sản, thậm chí chỉ vì miếng cơm manh áo vẫn có thể " Gà nhà bôi mặt đá nhau như thường !". Có được đứa " Con gái rượu " lấy chồng giàu sang quyền quý, thậm chí được làm Thiếp làm Phi của vua, như Dương Qúy Phi ngày xưa, hoặc như cô Giả Nghinh Xuân trong Hồng Lâu Mộng của Tào Tuyết Cần thì cả nhà đều được vinh hoa phú qúy như có được " Con Gà đẻ trứng vàng " vậy ! Trước mắt, các cô lấy chồng ngoại quốc, hay Việt Kiều Mỹ, Úc, Canada ... thường xuyên gởi " đồ tiên " ( là  Tiền Đô ) về cho gia đình chi dụng, cũng gọi được là có " Con Gà đẻ trứng vàng ", hay mĩa mai hơn thì nói là " Gia đình đó có được miếng đất xéo ở bên Mỹ đó !".

 

        dcd_namga_10.jpg
          Gà trống nuôi con    " Đồ Tiên "      Gà đẻ trứng vàng
 
        Con GÀ đi liền với con người từ bé đến lớn, từ nhỏ đến già. Hình ảnh đàn gà con tíu tít bên gà mẹ, hay hình ảnh gà mẹ dang rộng đôi cánh ra để che chở cho con mình, luôn là hình ảnh đẹp trong hội họa, trong nhiếp ảnh ... Không buồn như cảnh :

                         MẸ GÀ CON VỊT chít chiu,

                   Mấy đời mẹ ghẻ thương yêu con chồng !

        Nhắc đến " Mẹ Gà Con Vịt " lại nhớ đến bốn chữ " Đầu Gà Đít Vịt " của dân miệt Cần Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu ... để chỉ các cô gái người Hoa lai ... Miên. Các cô em nầy có nước da ngâm ngâm... bánh it, với đôi mắt to đen lay láy, đặc biệt là hai hàng lông nheo dài cong vút thường hay chớp chớp như để hớp hồn người đối diện. Nhất là các cô người Tiều Châu. Trong truyện ngắn " Đầu Gà Đít Vịt " của nhà văn Bình Nguyên Lộc, ông đã viết như thế nầy :....

    ... Người đàn bà cha Tàu mẹ Miên vừa có sắc đẹp, lại vừa ngây thơ, chân thật, dễ yêu lắm !

                  dcd_namga_12.jpg 

           Trứng gà, thịt gà với đủ các món như Ốp la, Ốp lết, Xé phay, Luộc, Nướng,  Quay, Chiên, nấu Cà-Ri ... luôn hiện diện hằng ngày trong các bửa ăn gia đình. Định cư ở Mỹ rồi thì lại càng " gần gũi " với thịt gà hơn, vì đây là món thịt rẻ nhất nước Mỹ, với 10 pounds ( khoảng 4 ký Rưởi ) Leg quarters ( Phần tư gà có luôn đùi ) lắm khi hạ gía chỉ còn có một đồng 99 xu mà thôi. Bửa ăn tiện lợi và nhanh nhất cho những ngày bận rộn là Fry chicken ( Gà lăn bột chiên ). Bảo đãm rất ngon miệng, rất no nê và sẽ ... rất mau lên cân, rất mau lên máu ! Và cũng sẽ rất mau ... " quáng gà ", " Trông gà hóa cuốc ", đưa đến cảnh " Ông nói gà bà nói vịt " : Đi chưa tới chợ mà mua tương cái nổi gì !

        Bà con miền Bắc nói : " Con gà cục tác lá chanh ", tôi không biết là họ đang làm món gì, chắc họ đang ăn gà luộc ?! Tôi là dân Nam Kỳ lục Tỉnh chỉ biết " Rau răm nó hại con gà chết tươi !" Thịt gà " xé phay " thì không thể nào thiếu rau răm cho được. Thịt gà ngoài việc xào gừng, xào xã ớt, còn một món xào thật đặc sắc mà không dân nhậu nào không thích cả, đó chính là " Gà xào bún nấm củ hành !", nhậu cũng " bắt " mà ăn cơm cũng " hết xẩy " luôn ! Rất thực tế chân thật, không mĩa mai như miền ngoài :

                          Gà tơ xào với mướp già,

                   Vợ hai mươi mốt chồng đà sáu mươi.

        Nói đến đây, lại nhớ đến một câu chuyện dân gian về " ăn chia " thịt gà trong gia đình; để thay đổi không khí, xin được kể theo kiểu phóng tác của ông Ly Cu Tê ở CANADA, vừa có phong thái cổ điển lại vừa có hơi hám thời sự của hiện tình đất nước .... Trích :

 

        Xưa bên nước Vệ có ông nọ làm quan đến chức Tể Tướng. Hơn thập niên nắm quyền sinh sát trong triều đình, của cải ngân lượng ở bá tánh thuộc về ông không biết cơ man nào mà kể. Ngày kia, biết mình đã sắp đến lúc bị cho về vườn giăng câu đặt trúm, chích thuốc dạo, Tể Tướng bèn sai gia nhân làm thịt một con gà mái dầu luộc chín bày lên dĩa, sau đó ông gọi các con lại mà rằng:

      - Các con nghe đây, tuổi cha nay đã cao, sức nhai sắp hết mà sức bú cũng chẳng còn, thời khắc giã từ mũ mão áo gấm không còn xa nữa. Hôm nay ta có con gà luộc, các con hãy tới chọn một bộ phận trên mình gà, rồi làm câu thơ ứng với thứ mình chọn. Để ta biết chí hướng của từng đứa mà lo đường công danh sự nghiệp mai sau cho !

       Bốn người con đồng thanh dạ ran. Chàng trưởng nam giơ tay xin ứng khẩu trước, anh bước tới đĩa ngắt lấy cái đầu gà bỏ vào chén mình, rồi dõng dạc ngâm:

     - Trai thời trung hiếu làm ĐẦU !

Ông quan nghe vậy khoái chí phán:

     - Chọn đầu gà chứng tỏ con là người thao lược, lắm mưu nhiều kế. Để ta cho con làm quan ở bộ Xây, mỗi năm xây chừng mười cái tượng đài và tháp tàng hình thì mặc sức mà đếm ngân lượng !

       Đến phiên người chị cả bước lại bàn bẻ cặp đùi, hai cánh và chiếc phao câu, rồi thong thả ứng khẩu:

     - Gái thời tiết hạnh PHAO CÂU, CÁNH, ĐÙI !

Tể tướng nghe xong vuốt tóc con gái tấm tắc khen:

     - Giỏi lắm con gái rượu của ta, chọn đùi cánh là số phải đi xa, chọn phao câu là người đảm đang có hậu. Được, ta cho con qua xứ Cờ Hoa du học, rồi kiếm thằng Vệ kiều liu vong nào bên ấy mà kết tình phu phụ đặng yên bề gia thất nghe chưa !

       Người thứ ba là cô con dâu, nàng rón rén bước lại đĩa gà bê nguyên bộ lòng e thẹn ngâm nga:

     - Phần con một DẠ một LÒNG !

       Thấy con dâu xinh đẹp mặt hoa da phấn chọn bộ lòng gà, Tể tướng gật gù:

     - Lòng mẹ bao la như biển Thái Bình, con đã chứng minh lòng hiếu thảo với gia đình ta, sau này con sẽ là đệ nhất phu nhân xứ Vệ !

       Người cuối cùng là chàng út có dung mạo giống cha mình hồi trẻ như đúc, anh nhanh nhảu bước lại đĩa rinh hết cái mình gà, rồi hí hửng đọc:

    - Công cha nghĩa mẹ hết MÌNH vì con !

Ông quan vỗ đùi đánh đét một phát, rồi đưa tay vuốt vuốt chiếc cằm nhẵn thín, mặt ngửa lên trời cười ha hả ý chừng vô cùng khoái lạc:

    - Kha khá khá. Đúng là hổ phụ sanh hổ tử, chọn mình gà chứng tỏ biết bao quát nhìn xa trông rộng giống ta, nay ta cho con về cai quản vùng đất Trung phần, ở đấy rất thuận lợi cho việc thăng quan tiến chức của con sau này !

       Bốn người con cúi đầu vâng mệnh ai về chỗ nấy. Bắt đầu từ hôm đó cô chị cả được ông cho qua xứ Cờ Hoa du học, rồi yên bề gia thất với một chàng Vệ kiều lưu vong. Người con trai thứ được ông cho về bộ Xây, nghe đâu mới được thăng lên quan đầu tỉnh thuộc miền Tây giang thuỷ. Chàng út cùng cô dâu xinh đẹp giờ đang cai quản miền Trung nắng gió đầy sản vật, chuyện đến đây không có gì đáng nói.

       Nhiều năm sau, câu chuyện chia gà của ông quan Tể Tướng bị lũ dân đen bần nông vàng vẩu đất Vệ đồn đãi khắp hang cùng ngõ hẻm nên người trong thiên hạ mới có thơ rằng:

                     Con vua thì cứ làm vua,
                 Con sãi ở chùa vẫn quét lá đa,
                     Còn lâu dân mới dám... nổi can qua,
               Nên con vua cứ thế mà... làm cha dài dài !

         

         dcd_namga_13.jpg
                   

 

         Sau khi Tổng Thống Ngô Đình Diệm quyết định xóa số 2 sòng bạc lớn nhất Sài Gòn Chợ Lớn là Kim Chung và Đại Thế Giới, thì đề 36 không còn nữa . Nhưng nhóm quân đội người Nùng giúp Tổng Thống dẹp loạn Bình Xuyên vẫn còn xổ đề ở vùng Cây Da Xà Phú Lâm Chợ Lớn, và họ đã thêm vào 4 con nữa cho đủ 40. Bốn con thêm vào là 37 Thiên Công ( Ông Trời ), 38 Địa Chủ  ( Đất Đai ), 39 Thần Tài và 40 là Táo Quân ( Ông Táo ). Theo đề 36, thì CON GÀ tên chữ là NHỰT SƠN, đứng đầu trong nhóm TỨ HÒA THƯỢNG mang số 28, nếu đánh theo Xổ số Kiến Thiết từ 00 đến 99, thì phải thêm một con 68 nữa là Con Gà Lớn, theo như ...

                     Đêm qua mơ thấy con gà,

                     Sáng ra 28 cứ đà ghi ngay.

                     Số lớn 68 chẳng sai,

                     Ai dè nó xổ ...con Nai ... hết tiền !

          Nạn đánh đề càng trầm trọng khi xã hội càng phân biệt giàu nghèo. Dân càng nghèo càng phải chạy theo cuộc sống và càng mê số đề hơn, và... càng thua nhiều hơn nữa, rồi càng phát sinh nhiều tệ nạn xã hội hơn và cuối cùng là xã hội càng băng hoại hơn ! Đến nỗi phát sinh thêm một loại gà mới : " Gà Móng Đỏ " ! Nghe mà đau lòng, vì đây không phải là Gà thật, mà là tiếng lóng dùng để gọi các cô gái ăn sương, bán trôn nuôi miệng, sống lang thang vất vưởng  mà người đời miệt thị là hạng " Mèo mả Gà đồng ", như Hoạn Bà, mẹ của Hoạn Thư đã hạ nhục Thúy Kiều :

                       Con này chẳng phải thiện nhân,

                Chẳng phường trốn chúa thì quân lộn chồng

                       Ra tuồng MÈO MẢ GÀ ĐỒNG,

                 Ra tuồng lúng túng chẳng xong bề nào !

        Buồn thay số đề ! Con Gà là NHỰT SƠN 日山, là Trời đã về chiều, Mặt trời sắp lặn xuống núi. Theo số đề hoài thì đời sẽ sớm ... về chiều và sẽ ... lặn xuống núi luôn ! Thua đề hết tiền thì đi vay nguội, vay nóng, vay " xã hội đen " ký giấy nợ với mức lời cắt cổ " Xanh xít đít đui ( cinq six dix douze : Mượn 500 thì cuối tháng trả 600; mượn 1000 thì cuối tháng phải trả 1200 )." Bút đã lỡ sa, thì Gà cũng chết ngắt !". Ông bà ta dạy :

                   Nhất tự nhập công môn,   一字入公門,

                   Cửu ngưu đà bất xuất.      九牛拖不出。

Có nghĩa :

     Một chữ đã " lỡ " vào đến công đường rồi, thì ...

     Sức mạnh của chín con trâu cũng kéo ra không nỗi !

    " Bút đã lở sa, thì Gà phải chết " mà thôi ! Như nhắc đến câu " Cỏng rắn cắn gà nhà, Rước voi giày mả Tổ " là bàng dân thiên hạ sẽ nghĩ ngay đến ông vua cuối cùng của triều Hậu Lê :

                                   Lê Chiêu Thống  !

 

                dcd_namga_15.jpg

                               Bút  sa  gà  chết


       Gà chết vì là món ăn khoái khẩu của người đời, nên hễ có dịp là mỗ gà, là giết gà, là làm thịt gà để đãi nhau khi gặp bạn, để ăn nhậu lúc hội hè. Thề thốt nghiêm trang thì vặn cổ gà, Tế thần tế thánh cũng cắt cổ gà, cúng quải ông bà cũng luộc con gà ... Hễ có dịp là sẽ mượn cớ để giết gà, giết gà để dọa khỉ, mất đồ mất đạc thì vái cúng con gà ... Con gà được dùng để trả lễ cho thần thánh, dùng để trả ơn, như ở Mỹ hiện nay, mỗi năm trong ngày Lễ TẠ ƠN ( Thanksgiving ) hơn 50 triệu con Gà Tây được đưa lên bàn ăn để  làm lễ " Tạ Ơn "...

         Lễ Tạ Ơn ở xứ Mỹ nầy được cho là bắt nguồn từ lễ kỷ niệm tại Plymouth, Massachusetts, nơi những người hành hương tị nạn tôn giáo Anh đã mời người da đỏ bản địa đến dự một bữa tiệc thu hoạch sau một vụ mùa bội thu để tỏ lòng biết ơn.

         Vụ thu hoạch của năm trước bị thất bát là vào mùa đông năm 1620, một nửa số người hành hương bị chết đói. Những người sống sót may mắn được các thành viên của bộ lạc Wampanoag địa phương dạy cách trồng ngô, đậu, bí đỏ và đánh bắt cá hải sản, săn gà rừng....

        Bữa tiệc được tổ chức kéo dài trong 3 ngày, gồm các món như gà Tây, ngỗng, tôm hùm, cá tuyết và nai.

        Đặc biệt là mỗi năm, ít nhất có một con gà tây sẽ được Tổng thống Hoa Kỳ " ân xá ". Ân xá cho gà tây chính thức trở thành nghi lễ của Nhà Trắng dưới thời Tổng thống George H.W. Bush ( Bush cha ) vào năm 1989 khi ông " miễn tội " cho một con gà tây tại Vườn hoa hồng trong Nhà Trắng.

        Năm rồi, Tổng thống Obama đã ân xá cho một trong hai con gà tây tại Nhà Trắng vào ngày 23/11.

        Năm nay, Tổng thống tân cử Donald Trump sẽ quyết định có tiếp tục nghi lễ này không, hoặc ông sẽ chọn một hình thức khác ? Chúng ta hãy chống mắt chờ xem !

 

            Sang qua Pháp thì con Gà Trống trở thành thần vật, là biểu tượng của nước Pháp với danh xưng " Con Gà Trống Gô-loa ". Thực ra đây chỉ là một cách chơi chữ, rồi lộng giả thành chơn. Vì Tổ Tiên của Pháp là người Gô-loa ( Gaulois ),tiếng La-tinh viết là Gallus, mà Gallus còn có nghĩa là " gà trống ".  

       Nhận thấy con Gà Trống có nhiều ưu điểm hơn người, từ hình dáng cho đến đi đứng tính cách đều có điểm ưu việt, như " Nó " sở hữu một ngoại hình đẹp đẽ : oai vệ với mào đỏ rực, đuôi dài màu xám xanh cong lên như những đoản kiếm. Mỗi buổi sáng đều gáy vang báo thức đúng giờ, rồi hiên ngang đi vòng quanh trang trại để bảo vệ bầy đàn. Sự cảnh giác và lòng dũng cảm của những chú gà trống đã trở thành lý do khiến nó trở thành biểu tượng của người Pháp.
        Thời trung cổ, gà trống Gô-loa được người Pháp sử dụng như một biểu tượng tôn giáo, thể hiện niềm hy vọng và đức tin. Hình ảnh những con gà trống thường xuất hiện trên các tháp chuông nhà thờ, tháp canh.
        Vào thời kỳ Văn Hóa Phục Hưng, hình ảnh những con gà trống được gắn liền với sự hình thành của nước Pháp. Dưới các vương triều ở thời kỳ này, các bản chạm khắc và đồng tiền đều mang hình ảnh gà trống. Nó cũng xuất hiện trên lá cờ trong cuộc Cách mạng Pháp 1789 và tượng trưng cho sự kiên cường, lòng dũng cảm của người dân nước này trong Thế Chiến Thứ Hai. Ngoài ra, phần lớn người Pháp đến bây giờ vẫn coi gà trống Gô-loa là biểu tượng của sự chân thành và tươi sáng. 

       Khi các đội tuyển Thể Thao của quốc gia Pháp đi giao đấu, mọi người trên thế giới đều gọi họ với biệt danh " Những chú gà trống Gô-loa " là vì thế !

      dcd_namga_16.jpg
           Biểu tượng của nước Pháp : Con Gà Trống Gô-Loa.

 

       Trở lại với phong trào THƠ MỚI của ta thời Tiền Chiến, ngoài những thơ tình ướt át làm rung động lòng người, như những bài thơ tình của Xuân Diệu, Nguyễn Bính, Đông Hồ, Tương Phố, TTKH.... Ta còn nghe được tiếng Gà Gáy của miền quê thôn dã vang vang cả sáng trưa chiều tối vọng mãi trong tâm hồn người dân Việt, nhất là những người dân Việt sống lưu vong nơi xứ lạ quê người như chúng ta hiện nay. Nào hãy nghe ...

 

                     Tiếng gà gáy ơi! gà gáy ơi! 
                     Nghe sao ấm áp tựa nghe đời. 
                     Tuổi thơ gà gáy ran đầu bếp, 
                     Trâu dậy trong ràn, em cựa nôi.

                      ..........................................

                     Gà gáy đầu thôn, gáy giữa thôn, 
                     Mưa tinh sương mát tận tâm hồn.

 
        Đó là tiếng gà gáy trong buổi ban mai vang lên từ đầu bếp  đến đầu thôn, giữa thôn của Huy Cận, Ông còn cho gà gáy hòa âm trên biển sóng :

                      Tiếng gà trên biển hạ cung trầm, 
                      Tiếng sóng hòa theo chẳng tạp âm. 
                      Tiếng sóng làm nền cho tiếng gáy, 
                      Trầm bao nhiêu, lại bấy xa xăm !...

Và tiếng

            Gà gáy trong mưa khi được mùa :

 

                      Gà gáy trong mưa tiếng vẫn trong, 
                      Giọng kim giọng thổ rộn vang đồng. 
                      Được mùa giống mới, gà no bữa, 
                      Tiếng gáy tròn như lúa nặng bông.

 

   .... Và không riêng gì Huy Cận, ta còn nghe thấy tiếng gà gáy trong ký ức tuổi thơ của Chế Lan Viên :

 

                     Nhớ biển miền Trung tiếng sóng đùa
                     Nhớ nhà cha mẹ, cảnh trường xưa...
                     Nhớ chao ôi nhớ ! Trời xanh thế !
                     Gà lại dồn thêm tiếng gáy trưa !

 

         Nhắc đến gà gáy trưa thì không thể nào thiếu được tiếng gà gáy trong Nắng Mới của Lưu Trọng Lư :

 

                      Mỗi lần nắng mới hắt bên song,
                      Xao xác gà trưa gáy não nùng,
                      Lòng rượi buồn theo thời dĩ vãng,
                      Chập chờn sống lại những ngày không.

 

          

         Bỏ văn sang võ : Võ Gà, đương nhiên phải là Võ Gà Trống, là HÙNG KÊ QUYỀN 雄雞拳 !...

         Vào thời Tây Sơn, tương truyền Nguyễn Lữ là người đã sáng tạo ra môn võ Hùng Kê Quyền (quyền gà chọi) hay Hồng Kê Quyền, là bài quyền mô phỏng các kỹ thuật của gà chọi, một trong 10 bài danh võ được Liên đoàn võ thuật cổ truyền Việt Nam lựa chọn qua các kỳ hội nghị chuyên môn toàn quốc ( sau 1975 ). Đặc trưng của bài quyền là những động tác dũng mãnh của con gà chọi nhỏ bé mà nhanh nhạy trước đối thủ, bài Hùng Kê Quyền sử dụng ngón tay trỏ để đâm mô phỏng hình mỏ gà, và các ngón còn lại co vào như chiếc cựa gà. Thủ pháp độc đáo như vậy lại nhằm vào những mục tiêu hiểm của đối thủ, như các huyệt đạo, ngực, hầu v.v. Bộ pháp của bài quyền hết sức linh hoạt, thần tốc, xoay chuyển một cách biến ảo đã hỗ trợ cho việc thi triển thủ pháp một cách kiến hiệu, khiến đối thủ luôn phải hứng chịu những đòn thế có tính sát thương.

 

        Còn ai mê đọc tiểu thuyết võ hiệp của nhà văn Kim Dung thì không thể nào không biết đến chiêu thức KIM KÊ ĐỘC LẬP 金雞獨立, một chiêu thức võ công độc đáo, đứng thẳng một chân với nhiều tư thế, hai tay cung ra hai bên với nhiều điệu bộ khác nhau. Đây cũng là một chiêu thức của môn Thái Cực Quyền, đồng thời cũng là một phương pháp dưỡng sinh độc đáo có một không hai để phòng ngừa các bệnh như Tiểu đường, Cao huyết áp, Mất trí nhớ ...


      
dcd_namga_17.jpg

               Các tư thế của chiêu thức Kim Kê Độc Lập

         Ta thấy, CON GÀ gần gũi thân thiết với con người là thế, NÓ hiện diện trong sinh hoạt, thực phẩm, giải trí và cả phương pháp dưỡng sinh nữa, lại mang những đức tính tốt đẹp như duy trì kỷ luật, đúng giờ, có tinh thần trách nhiệm, "ga-lăng" với phái yếu và bảo vệ bầy đàn ... Nên các Thầy Đồ Nho xưa thường hay khuyên học trò là :

                " NINH VI KÊ THỦ, BẤT VI NGƯU HẬU "

                     寧   為  雞   首,  不   為   牛   後。 

Có nghĩa :

       Thà làm đầu gà, ( chớ ) hổng thèm làm đít trâu !

       Đầu gà tuy NHỎ nhưng mồng mỏ đẹp đẽ hiên ngang, còn đít trâu tuy LỚN mà là nơi thải ra những thứ ... thối không chịu được ! 

 

       Trở lại với sấm Trạng Trình của 500 năm trước : " Mã đề Dương cước anh hùng tận, Thân Dậu niên lai kiến thái bình !" . Thêm một " anh hùng hay anh khùng " Fidel Castro vừa mới " tận " cuối năm 2016 đây, chú khỉ THÂN thì đã đi qua rồi, liệu con gà DẬU có mang đến Thái Bình được hay không ? Dân Chợ Lớn nói " DẬU 有 là CÓ " . Trong khi tổng thống đắc cử của nước Mỹ là tỉ phú ĐỖ NAM TRUNG ( Donald Trump : Báo chí trong nước dịch âm là Đỗ Nam Trung !) chỉ muốn rút vào cái vỏ sò MỸ xinh đẹp của mình mà không màng đến thế giới nữa. Điệu nầy chắc phải cầu cứu với CHỊ DẬU người mẫu mặc rất ít đồ là Melania Trump thúc vào hông của ông ta xem sao !?

 

       Mong rằng trong năm ĐINH DẬU 2017 nầy, thế giới sẽ KIẾN THÁI BÌNH trong phép lạ !!!

 

                                                                 Đỗ Chiêu Đức

 

Thơ Vịnh Năm Gà 2017 :

 

                      CHUYỆN GÀ NĂM DẬU

 

                Thứ mười chi Dậu thuộc con Kê,

                Gặp phải thiên Đinh trở lộn về.

                Đinh Dậu gà nòi đang tạo dáng,

                Bính Thân khỉ đột đã về quê.

               "Văn kê khởi vũ" tua cần mẫn,

               "Độc lập kim kê" thỏa mọi bề.

               "Cỏng rắn cắn gà" gương lịch sử,

               "Bút sa gà chết" tội vua Lê !

 

                                                  Đỗ Chiêu Đức

 

Câu đối cho năm Đinh Dậu 2017 :

 

     Bính Thân khỉ đã về non,

                               Thân hữu bốn phương cùng đón Tết.

     Đinh Dậu gà đang tạo dáng,

                               Đồng hương khắp chốn thảy mừng xuân !

 

                                                                  Đỗ Chiêu Đức

______________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________ 

THẨN THƠ 12 THÁNG

 

Tháng Chạp cứ hằng năm,

Trong gió rét căm căm.

Xuyến xao đời lữ thứ,

Nhớ " Giây Phút Chạnh Lòng " !

                         Hôm nay tạm nghĩ bước gian nan,

                            Trong lúc gần xa pháo nổ ran.

                            Rũ áo phong sương trên gác trọ,

                            Lặng nhìn thiên hạ đón xuân sang !

                                                       ( Thế Lữ )

Mười một quạnh thu đông,

Sau " Giấy Phút Chạnh Lòng ".

Nhớ hoài anh Thứ Lễ,

Mai khóc, hạt sương đong !

                          Em đứng nghiêng mình dưới gốc mai,

                             Vin cành sương đọng lệ hoa rơi,

                             Cười nâng tà áo đưa lên gió,

                             Em bảo : " Hoa kia khóc hộ người ! ".

                                                      ( Thế Lữ )

Tháng Mười gió thu sang,

Hờ hững cuốn lá vàng.

Vàng bay đầy muôn lối,

Ai xui thiếp phụ chàng ?!

                       Trận gió thu phong rụng lá vàng,

                          Lá bay hàng xóm lá bay sang.

                          Vàng bay mấy lá năm già nữa,

                          Hờ hững ai xui thiếp phụ chàng ?!

                                                ( Tản Đà )

Tháng chín lễ Đăng Cao,

Rừng thu lá xạc xào.

Nhạn từng bầy nam độ,

Ngơ ngác chú hươu sao.

                       Em không nghe rừng thu,

                          Lá thu kêu xào xạc,

                          Con nai vàng ngơ ngác,

                          Đạp lên lá vàng khô !

                                         ( Lưu Trọng Lư )

Tháng tám ước đoàn viên,

Trăng sao cùng Thơ Thẩn.

Nội ngoại khắp mọi miền,

Thoả tình lòng hoài vọng !

                        Hẽm rộng thênh thang bỗng nở hoa,

                           Hân hoan đón bạn nắng chan hòa.

                           Hôm nay họp mặt Vườn Thơ Thẩn,

                           Trả lại hồn thơ tuổi ngọc ngà !

                                           ( Vương thủy Tùng )

Tháng bảy ướt mưa Ngâu,

Đôi lứa ngẩn ngơ sầu.

Hai phương trời cách biệt,

Chờ Ô thước bắt cầu !

                        Từ đó thu rồi thu lại thu,

                           Lòng tôi còn giá đến bao giờ.

                           Chồng tôi vẫn biết tôi thương nhớ...

                           Người ấy, cho nên vẫn hững hờ !!!

                                            ( T  T  KH )

Tháng sáu hè đỏ lửa,

Phượng hồng phủ lối đi.

Tiếng ve sầu ra rả,

Não nề thay, chia ly !

                        Rồi chiều nay hè trở về đây...

                           Phượng thắm ơi phượng thắm rơi đầy ...

                           Lại cách xa nhau chín mươi ngày,

                           Hay là một thế kỷ dài,

                           Mà lòng ai đang khóc ai !....

                                     ( Mùa Chia Tay - Duy Khánh )

Tháng năm ngày mùng năm,

Cùng chào Đoan Ngọ lại.

Văn học cổ nhớ hoài,

Tích xưa Nhị Độ Mai.

                         Nụ hồng rãi lối liễu tơ phai,

                            Vườn cũ rêu lan cỏ mọc dài.

                            Bên gốc mai già xuân vắng vẻ,

                            Âu sầu thiếu nữ khóc hoa mai.

                                              ( Jean Leiba )

Tháng tư ngày dài thế,

" Phù Dung " nở trong ao.

Ngó sen non mới nhú,

Gió đưa hương ngạt ngào !

                         Trong đầm gì đẹp bằng sen,

                            Lá xanh bông trắng lại chen nhụy vàng.

                            Nhụy vàng bông trắng lá xanh,

                            Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn !

                                                      ( Ca dao )

Tháng ba đào mai úa,

Hoa nở cuối Trà Mi.

Âu sầu nàng thôn nữ,

Lặng lẽ mối tình si.

                        Danh lợi như mây nổi giữa trời,

                           Hồng nhan phải giống mãi trên đời.

                           Đợi anh áo gấm xuân sau lại,

                           Chỉ sợ nghiêng giành hốt qủa mai !

                                                    ( Jean Leiba )

Tháng hai xuân thắm tươi,

Gieo sức sống bao người.

Kỷ niệm hồng êm ái,

Chan hòa khắp nơi nơi !

                        Xuân đã đem mong nhớ trở về,

                           Lòng cô lái ở bến sông kia.

                           Cô hồi tưởng lại ba xuân trước,

                           Trên bến cùng ai đã hẹn thề.

                                             ( Nguyễn Bính )

Tháng giêng Tết thong dong,

Vạn vật như bừng sống.

Pháo đỏ với liễn hồng,

Niềm vui cao lồng lộng !

                            Đã thấy xuân về với gió đông,

                            Với trên màu má gái chưa chồng.

                            Bên hiên hàng xóm cô hàng xóm,

                            Ngước mắt nhìn trời đôi mắt trong !

                                               ( nguyễn Bính )

           .......................................

 

Xuân đến xuân đi xuân lại qua,

Thời gian vùn vụt khéo ru mà.

Vui xuân vui cả Ngày Năm Tháng,

Chớ để xuân qua phí tuổi già !

 

                                      Đỗ Chiêu Đức

 

ÔNG GIÀ TỨ CANG

            dcd_chonoiCR.jpg     

            

dcd_CRgirl.jpg

 Hò hơ....

                       Cái Răng, Ba Láng, Vàm Xáng, Phong Điền,

                       Anh có thương em thì cho bạc cho tiền,

                       Đừng cho lúa gạo ...ờ ... hò hơ ...

                       Đừng cho lúa gạo...ờ... Xóm giềng họ cười chê !


           Tôi sinh ra ở xã Thường Thạnh, Ba Láng, tức là ấp Yên Thượng của Thị Trấn Cái Răng, huyện Châu Thành, tỉnh Phong Dinh, nên nghe thuộc lòng câu hò trên từ lúc còn chưa vào lớp Đồng Ấu. BA LÁNG quê tôi, nơi đây lúc tôi còn nhỏ, trong làng xóm còn có những vị tiền bối chức sắc của tổ chức xã hội trước kia, như : Hương Quản, Hương Sư... Đặc biệt nhất là ông Ba  Hương Sư, tác phong nghiêm chỉnh, đạo mạo. Theo nghĩa của chữ Sư, thì chắc hồi xưa ông Ba là Thầy dạy chữ Nho trong làng.

 

          Khi tôi khoảng 11, 12 tuổi gì đó, thì ông Ba làm nghề thầy thuốc, bắt mạch cho toa rất nổi tiếng, có thể là lúc bấy giờ đã không còn có người học chữ Nho nữa, nên ông xoay sang nghề làm thầy thuốc chăng ?! Bây giờ thì không nói về những vị Hương Thân đạo mạo khả kính nữa,  tôi xin kể về một ông Hương Thân rất vui tính ở trong làng để các bạn nghe chơi tiêu khiển trong những ngày cuối năm chờ Tết đến !...

    dcd_hoite.jpg

             Hương Chức Hội Tề                Hương Sư

             Không biết xưa kia giữ chức vụ gì trong Hương Chức Hội Tề, ÔNG SÁU rất được mọi người trong xóm kính trọng, giỏi chữ Nho, am tường về phong tục tập quán cổ truyền, tính tình vui vẻ thích nói chơi, nên rất được thanh thiếu niên trong xóm yêu mến...

        Cũng không biết ưu thời mẫn thế như thế nào, Ông Sáu hay nói ngược lại những câu chữ Nho của người xưa. Ví dụ như câu :


                      Tiền tài như phân thổ,              錢 財 如 糞 土,
                      Nhơn nghĩa trị thiên kim.          仁 義 值 千 金。

Nghĩa là :

           Tiền của tài sản thì như là đất là phân, không đáng quí trọng.

           Nhân nghĩa ở đời mới đáng giá ngàn vàng !


thì ông Sáu cũng nhại lại cái âm của câu nói mà nói ngược lại là :
                     Tiền tài như ...ông Tiên Tổ,
                     Nhân nghĩa tợ... cục cức khô !
để mĩa mai thói đời xem trọng kim tiền mà coi nhẹ nghĩa nhân. Hoặc như câu :
                         Nhất ngôn ký xuất,                一 言 既 出,
                         Tứ mã nan truy.                    四 馬 難 追。

Nghĩa là :

           Một lời đã nói ra thì Xe bốn ngựa ( phương tiện giao thông nhanh

                 nhất ngày xưa ) cũng không thể rượt theo mà lấy lại lời nói đó

                 cho được !
thì ông nói thành :
                        Nhất ngôn ký xuất,                一 言 既 出,
                        TỬ ... mã nan truy .              死 ...馬 難 追。
hàm Ý con ngựa Chết thì làm sao rượt theo mà lấy lại lời nói cho được, cho nên cứ nói càn !...

              Nhiều khi Ông chỉ sửa những câu chữ Nho để nói chơi cho vui mà thôi. Ví dụ như câu :

                     Bần cư náo thị vô nhân vấn,        貧 居 鬧 市 無 人 問,

                     Phú tại thâm sơn hữu viễn thân.  富 在 深 山 有 遠 親。

Có nghĩa :   

       Nghèo mà ở nơi chợ búa náo nhiệt cũng không có ai thèm hỏi tới, còn...

       Giàu mà ở nơi núi sâu rừng thẳm, cũng có bà con xa tìm đến thăm !

thì Ông nói thành :
                       Bần cưa ván ngựa đen như sắn,

                       Cú tại màng tang đứng chết trân ! 
hoặc như câu :
                         Đạo cao long hổ phục,         道 高 龍 虎 伏,
                         Đức trọng quỉ thần kinh.       德 重 鬼 神 驚。
Nghĩa là :

            Đạo pháp mà cao cường thì rồng cọp cũng phải phủ phục mà chịu phép. Cái đức của con người mà cao trọng thì quỉ thần cũng phải kinh sợ ( mà không dám làm hại ).

                  dcd_daoao.jpg
                  Đạo cao long hổ phục,                   Đào ao lên đất cục,


thì Ông nói lại cho vui là :
                           Đào ao lên đất cục,
                           Đứt họng cổ lòi gân !

           Nghe Ông nói, lúc đó tôi bèn quay sang nói nhỏ với thằng bạn là : " Đạo cao long hổ phục, mà ổng nói thành Đào ao lên đất cục kìa !". Nhè đâu ông Sáu nghe thấy, mới quay lại nói với tôi là : " Cái thằng nầy, Đào ao không lên đất cục thì lên cái gì mậy ? Mà nầy, mầy học chữ Nho mà mầy có biết " TAM CANG " là gì không ? ". Tôi được dịp, bèn đáp một cách hãnh diện :
       - Thưa Ông Sáu, TAM CANG là Quân thần cang, Phụ tử cang và Phu thê cang. Bà con ta hay nói tắt TAM CANG là : Quân thần, Phụ Tử, Phu Phụ.   

        Ông Sáu cười cười gằn giọng :
      - Mầy giỏi quá há ! Vậy tao hỏi mầy, mầy có biết TỨ CANG không ?

        Tôi há hốc, ngạc nhiên quá hỏi lại :
       - Sao có Tứ Cang nữa ông Sáu ?. Ông Sáu cười lớn nói :
       - Cái thằng nầy không biết gì hết, TỨ CANG là cái lớn nhất không thể CAN được !. Tôi càng ngạc nhiên hơn , hỏi :
       - Cái gì mà hổng CAN được ông Sáu ? Ông Sáu nghiêm mặt lại nói :
       - TAM CANG là Quân thần Cang, Vua đánh tôi, có người CAN được. Phụ Tử Cang, Cha đánh con, cũng CAN được. Phu Thê Cang, Chồng đánh Vợ, cũng còn CAN được. Nhưng , Ông đánh thì vô phương CAN !... Tôi làm tài khôn nhanh nhẩu chen vào :
       - Ông đánh thì cũng CAN được chớ sao không ?. Ông Sáu phá lên cười lớn :
       - Thằng nầy, Ong Vò Vẻ đánh làm sao ai dám CAN. Ong đánh là TỨ CAN đó biết không ?!... 

 

           Vừa lúc đó anh Ba từ ngoài vườn chạy vào, hai tay che đầu miệng la oai oái, có mấy con ONG bay theo phía sau... Ông Sáu cười ngất nói :
      - Đó, đó ! Thằng Ba nó bị TỨ CANG đó, mầy giỏi mầy vô CAN đi !

  Thì ra ...
        Gần Tết, anh Ba ra vườn sửa sang lại vườn tược cho gọn ghẽ sáng sủa để Ăn Tết, kéo nhằm ổ ONG BẦN, nên bị  NÓ rượt chạy vào...

 

        Thì ra, ONG ĐÁNH là TỨ CANG. Ong đánh thì không ai dám CAN cả !!!


       Từ đó, Tôi và các bạn trong xóm gọi ông Sáu là ÔNG GIÀ TỨ CANG !

                   DCD_TuCang.jpg

                                        Ảnh Minh Họa : Ông Già Tứ Cang

          Đây là chuyện có thật, tên cúng cơm của Ông Sáu là ĐỰC. Mọi người trong xóm đều gọi là Ông Sáu Đực. Bà con bên ngoại của Má tôi, nên Má tôi gọi ông là Cậu Sáu.

         Vì là dân Nam Kỳ Luc Tỉnh, nên nói chuyện phát âm không có phân biệt giữa CAN và CANG hay ONG và ÔNG gì cả !

 

        Bây giờ, đã hơn 60 năm qua, ông Sáu đã không còn nữa. Gần Tết, tha hương đất khách, ngồi đây nhớ lại chuyện xưa, lòng bồi hồi xúc động. Đâu rồi thời gian thơ ấu, đâu rồi những phong hóa cũ, đâu rồi những tập tục của ngàn xưa, đâu rồi ÔNG SÁU của dạo nào ?!... đành ngậm ngùi đọc lại 2 câu thơ cuối của Vũ Đình Liên trong bài thơ Ông Đồ là :

 

                    Những người muôn năm cũ,
                    Hồn ở đâu bây giờ  ?!!! ..........

 


                                                                            Đỗ Chiêu Đức

                                                               Viết lại cuối năm Bính Thân 2016.  

___________________________________________________________________________________________________________________________________________________________ 

 

CHỮ NHO DỄ HỌC MÀ...HỌC KHÔNG DỄ:  
bài 21 đến bài 25  

PHIẾM LUẬN :

 

                   GIÓ là PHONG

 

                      DCD_Phong_1.jpg

 

        GIÓ từ Hán Việt là PHONG 風, thuộc dạng chữ Hình Thanh, gồm chữ PHÀM 凡 ở phía trên và bên ngoài chỉ ÂM, bộ TRÙNG 虫 là Sâu Bọ ở dưới bên trong chỉ Ý, theo diễn tiến hình thành của chữ viết như sau đây :

 

目前所在的位置:风的甲骨文、金文、小篆在线转换

甲骨文 Giáp Cốt Văn

金文

金文大篆Kim văn Đại Triện

小篆

繁体隶书Chữ Lệ phồn thể

 

 

             

 

目前所在的位置:風的甲骨文、金文、小篆在线转换

甲骨文

金文

金文大篆

小篆 Tiểu   Triện

繁体隶书

     

 
             

           Chữ viết giản thể của chữ PHONG như sau :

基本解释  Giải thích cơ bản, nét bút  và phiên âm.

拼音:

fèng,fěng,fēng,

笔划:

4

部首:

五笔输入法:

mqi

       

 

       Với hàm Ý : Phong động Trùng sinh 风动虫生 ( Gió chuyển động thì côn trùng sinh sôi nẩy nở ). Nên PHONG là GIÓ, mà...
      GIÓ là Hiện tượng tự nhiên của không khí lưu thông từ chỗ nầy sang chỗ khác, từ cao xuống thấp, từ lạnh sang nóng, từ đông sang tây... là sự vận động tự nhiên của bề mặt Trái Đất.

       PHONG chỉ sự di chuyển, thay đổi, lan truyền nhanh chóng, như : Phong ba ( sóng gió ), Phong trào ( sóng nước ), Phong vũ ( gió mưa ) ...
       PHONG chỉ những thói quen được hình thành trong đời sống xã hội, như : Phong Tục, Phong dao, Phong hóa ...
       PHONG chỉ sự lan truyền tin tức, như : Phong thanh ( Ta hay nói trại thành " Phong Phanh "), Phong Truyền...
       PHONG chỉ Cảnh trí,Thái độ, cử chỉ, như : Phong Cảnh, Phong độ, Phong cách, Tác Phong...

       PHONG LƯU là chỉ sự lưu chuyển như dòng chảy của gió, nên rất thoải mái dễ chịu. Cuộc sống Phong Lưu là cuộc sống dư dã giàu có. Con người Phong Lưu là con người Phóng khoáng Rộng rãi... chịu chơi !

       Nhưng... Chịu chơi quá thì rất dễ bị bệnh Phong Thấp  ( thấp khớp, nhức xương ), thậm chí bị bệnh Phong Tình, và bây giờ thì chữ PHONG 瘋 phải đội thêm một cái mão nữa là Bộ TẬT 疒, có nghĩa là ngồi dựa vào khi Bệnh Hoạn. Trong tiếng Việt ta có 2 từ Phong Tình cần phân biệt :
     * Từ Hán Việt : Phong Tình 風情 là Tình cảm dồi dào ướt át, nên Chuyện Phong Tình là chuyện Tình yêu lãng mạn, ủy mị, thậm chí khiêu dâm tục tiểu..... Mở đầu Truyện Kiều, Cụ Nguyễn Du viết :
                     Cảo thơm lần giở trước đèn,
              PHONG TÌNH cổ lục còn truyền sử xanh.
     Chuyện PHONG TÌNH ở đây là Chuyện tình trai gái của cuộc đời cô Kiều với các chàng trai Kim Trọng, Thúc Sinh, Từ Hải... thì làm sao mà truyền SỬ XANH cho được ?! Nên có Ý kiến cho là chữ " CỔ LỤC "( Ghi chép từ xưa để lại, chỉ Sách Xưa ) của bản Nôm có thể đọc thành " CÓ LÚC ", và câu thơ sẽ là :
              PHONG TÌNH CÓ LÚC còn truyền sử xanh.
chỉ CÓ LÚC mà thôi, phải đặc biệt như cô Kiều mới được truyền sử xanh, chớ không phải chuyện Phong Tình nào cũng được truyền sử xanh cả !  

     * Từ thuần Nôm : PHONG TÌNH là Bệnh Phong do quan hệ tình dục, chơi bời phóng đảng gây ra. Nói theo bình dân : Bệnh Phong Tình tức là Bệnh Cùi, bệnh Mắc Tiêm La đó vậy ! Người Hoa thì không gọi thế, họ gọi bệnh Cùi bằng từ MA PHONG 痲瘋, còn người miền Bắc thì gọi là Bệnh Hủi !

 

      PHONG là gió, GIÓ là phong, Gió thổi suốt ngày , từ sáng tới tối, từ ngày này qua ngày khác, từ tháng này qua tháng nọ, từ năm nọ tới năm kia, nên... 

      Mùa Xuân thì ta có gió từ hướng Đông thổi đến. Đông phương Giáp Ất thuộc Mộc, nên cây cỏ đâm chồi nẩy lộc, trăm hoa đua nở, muôn hồng ngàn tía, ta nhớ lại 2 câu thơ cuối trong bài Đề Tích Sở Kiến Xứ 題昔所見處 của Thôi Hộ 崔護 đời Đường là :

dcd_Phong_4.jpg 

 

                     


         Nhân diện bất tri hà xứ khứ,          人面不知何處去,
         Đào hoa y cựu tiếu ĐÔNG PHONG. 桃花依舊笑東風。


mà cụ Nguyễn Du đã mượn ý thoát dịch trong Truyện Kiều rất hay là :
                 Trước sau nào thấy mặt người,
           Hoa đào năm ngoái còn cười GIÓ ĐÔNG.

dcd_phong_5.jpg 

 

      Gió Đông là Đông Phong, là gió của mùa Xuân từ hướng Đông thổi tới, nên cũng còn được gọi là Xuân Phong.
      Rất nhiều người cứ lầm tưởng Đông Phong là gió của mùa Đông, kể cả người Hoa ở Chợ Lớn hồi xưa, nên đã sửa câu thơ của Thôi Hộ thành :
                Đào hoa y cựu tiếu XUÂN PHONG.

                   桃  花  依  舊   笑    春     風。
mà không biết rằng mình đã làm tài khôn sửa bậy thơ của cổ nhân !

      Trở lại phong trào Thơ Mới thời Tiền chiến với bài MAI RỤNG của Jean Leiba có các câu :

 

                 Yêu chàng em cố chuốc hình dong,

                 Tô cặp môi son điểm má hồng.

                 Em thấy xuân nay hoa nở đẹp,

                 Cảm tình Thanh Đế tạ ĐÔNG PHONG !

 

                      

 

      Thanh Đế là ông vua của mùa xuân, là Chúa Xuân, còn Đông Phong là Gió Xuân ấm áp thổi đến cho muôn hoa nở rộ !


      ĐÔNG PHONG là gió của Mùa XUÂN, còn gió của mùa Đông thì gọi là BẮC PHONG, Bắc Phương Nhâm Quí thuộc Thủy, Thủy ở đây là băng giá của vùng Bắc Cực, là gió từ phương Bắc khô khan lạnh lẽo thổi đến. Gió Bắc được bà con ta gọi trại thành Gió Bấc, nên có những câu Ca Dao trong dân gian Nam Bộ như sau :
                 Gió Bấc non thổi lòn hang chuột,
            Thấy chị hai mầy tao đứt ruột đứt gan !

hoặc ...
                 Gió bấc non thổi lòn hang dế,
            Thấy chị hai mầy tao bế hế băng hăng !

 

      Hướng Bắc còn gọi là hướng Sóc, nên Bắc Phong còn gọi là Sóc Phong, như trong bài Tòng Quân Hành 從軍行 của Lệnh Hồ Sở 令狐楚 :

dcd_phong_6.jpg 

                     Sóc phong thiên lý kinh,          朔風千里驚,

           Hán nguyệt ngũ canh thanh.    漢月五更清。
           Túng hữu hoàn gia mộng,        縱有還家夢,
           Do văn xuất tái thanh !            猶聞出塞聲。
 Tạm dịch :
                Ngàn dặm gió bấc thổi,
                Năm canh trăng quê nhà.
                Dẫu có mộng hoàn gia,
                Còn nghe lời xuất tái !

 Song thất Lục bát :
                Gió bấc thổi làm kinh lính thú,
                Trăng Hán gia vằng vặc canh tà.
                Dẫu cho mộng được về nhà,
                Bên tai còn vẳng tiếng ra ải ngoài !

                                                 

         Ngược với gió Bắc là gió Nam, luôn luôn dịu dàng mát mẻ. Nam Phương Bính Đinh thuộc hỏa, gió của mùa hè oi bức, xoa dịu cái nóng cho vạn vật chúng sinh.
         Trong Khổng Tử Gia Ngữ, có dẫn bài ca của Đế Thuấn là : " Nam phong chi huân hề, khả dĩ giải ngô dân chi uẩn hề. 南風之薰兮,可以解吾民之愠兮。 "... Có nghĩa : Cái mát mẻ ấm áp của gió Nam, có thể giải tỏa được nỗi lòng u uẩn ẩn ức của dân Nam ta ! Và... với thâm Ý nầy, ông Phạm Qùynh đã lập ra Nam Phong Tạp Chí với Ý đồ mở mang dân trí và xoa dịu lòng dân để ẩn nhẫn đợi thời !
          Gió Nam thường hây hẩy vào các buổi trưa hè oi bức làm dịu đi cái nắng hạ chói chan gay gắt, nên theo các thầy Phong Thủy thì nhà nên cất xây mặt về hướng Đông Nam, để buổi sáng hứng lấy ánh mặt trời và buổi trưa thì đón gió Nam cho mát mẻ ! Điều nầy cũng hợp với sự tự nhiên của cuộc sống mà không cần đến thầy Địa Lý chỉ vẻ ta vẫn có thể thấy được !

          Gió Nam dễ chịu là thế, cho nên dân Nam Bộ hay mượn gió Nam để chỉ những việc vui vẻ hoặc để nói chơi : " Thằng đó nó đi hứng gió Nam rồi !. Con đó không chồng mà có chửa, bộ hứng gió Nam sao vậy ?!...."

          Nói đến cái mát mẻ của gió, ta nhớ đến câu " Khoái tai phong dã ! 快哉風也 !  trong bài Hát Nói  của Tản Đà :

 

                       HỎI GIÓ
             Cát đâu ai bốc tung trời ? 
             Sóng sông ai vỗ ? Cây đồi ai rung ? 
             Phải rằng Dì Gió hay không ? 
             Phong tình đem thói lạ lùng trêu ai ?

dcd_phong_7.jpg 

 

              À, Thì ra Thần Gió là phái nữ, là DÌ GIÓ, là PHONG DI 風姨. Thảo nào, khi thì mát mẻ, dịu dàng, mơn trớn êm ái hết chỗ chê, khi thì nổi tam bành cuồng nộ, xô xập nhà cửa, làm gãy đổ cây cối, nhấn chìm thuyền bè cũng... hết chỗ nói ! Đúng ra thì ....

         Theo truyền thuyết cổ đại Trung Hoa xưa, sách " Bắc  Đường Thư Sao ", quyển 144 ghi : " 风伯 名 姨 .此"风姨"之所本. Phong Bá danh Di. Thử Phong Di chi sở bổn ". Có nghĩa : Ông thần gió tên là DI, đó là cái lý do tại sao gọi là PHONG DI. Nhưng vì chữ DI 姨 có nghĩa là DÌ ( chị em gái của mẹ ) nên mọi người cứ lầm tưởng PHONG DI là DÌ GIÓ, hay cố ý tưởng là DÌ GIÓ cho nó... thi vị hơn ! Không phải chỉ riêng Tản Đà mà trong Liêu Trai Chí Dị Bồ Tùng Linh cũng có hẵn một bài viết về câu truyện giữa Dì Gió và các loại hoa hẵn hoi !

      Bây giờ thì đến 4 chữ " Khoái tai phong dã 快哉風也 !"

      KHOÁI 快 : Chữ có bộ Tâm đứng 忄bên trái, nên nghĩa gốc là Vui Vẻ ( trong lòng ), như Khoái Lạc, Khoái cảm.

      Nghĩa phát sinh là Nhanh nhẹn, mau mắn, như Khoái Mã.

      Chỉ Mát Mẻ như Lương Khoái.

      Chỉ tánh tình thoải mái, dễ chịu, như Sảng Khoái, Thống Khoái ... Nên ...

      Khoái tai Phong Dã ! có nghĩa :

             * Nhanh thay là gió !

             * Mát mẻ thay là gió !

             * Vui vẻ thay là gió !

             * Sảng khoái thay là gió ! ....

      Bây giờ thì ta đọc phần còn lại của bài " Hỏi Gió " nhé !

 

              Khoái tai phong dã !

                              !

      Giống vô tình cây đá cũng mê tơi 
      Gặp gió đây hỏi một đôi lời 
      Ta hỏi gió quen ai mà phảng phất?

      Thử thị Đà Giang, phi Xích Bích,

                           壁,
      Dã vô Gia Cát dữ Chu Lang.

                      郎。 

      Ai cầu phong mà gió tự đâu sang! 
      Hay mải khách văn chương tìm kết bạn? 
      Gió hỡi gió, phong trần ta đã chán 
      Cánh chim bằng chín vạn những chờ mong 
      Nên chăng gió cũng chiều lòng ! 


Nghĩa của 2 câu thơ chữ Hán :

    * Nơi đây là sông Đà Giang chớ không phải sông Xích Bích,

    * Chẳng có Gia Các Lượng mà cũng chẳng có Chu Du !

    Ý muốn nói : Ở đây không có ai đánh nhau và cũng không có ai cầu phong cầu gió gì cả !

 

      Còn ...
         Gió Tây là gió thổi đến từ hướng Tây. Tây phương Canh Tân thuộc Kim, nên gió Tây còn gọi là Gió Vàng là Kim Phong, là ngọn gió thổi se sắt lạnh lùng như Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều đã mở đầu Cung Oán Ngâm Khúc bằng câu :


                Trải vách quế GIÓ VÀNG hiu hắt,
                Mảnh vũ Y lạnh ngắt như đồng !

 

        Gió Tây, gió Vàng hay Kim phong là gió của mùa Thu, ta thường gọi là Thu Phong như bài thơ nổi tiếng của Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu :

dcd_phong_8.jpg 

 

                   Trận gió THU PHONG cuốn lá vàng,
                  Lá bay hàng xóm lá bay sang,
                  Vàng bay mấy lá năm già nữa,
                  Hờ hững ai xui thiếp phụ chàng !
                                    ***
                  Trận gió THU PHONG rụng lá hồng,
                  Lá bay tường bắc lá sang đông.
                  Hồng bay mấy lá năm hồ hết,
                  Thơ thẩn kìa ai vẫn đứng trông !

 

      Gió Thu hiu hắt, se sắt, lạnh lùng cộng với bầu trời thu bao la xanh biếc với :

                  Ao thu lạnh lẽo nước trong veo,

         và ...

                  Lá vàng trước gió sẻ đưa vèo !

làm cho ta lại nhớ đến Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu với bài thơ Cảm Thu, Tiễn Thu làm hồi tháng chín năm Canh Thân - 1920 :

                 Từ vào thu đến nay,
                 Gió thu hiu hắt,
                 Sương thu lạnh,
                 Trăng thu bạch,
                 Khói thu xây thành.

                 Lá thu rơi rụng đầu nghềnh
                 Sông thu đưa lá bao ngành biệt ly.

                                               ..............................

          Gió thu hiu hắt luôn là nguyên nhân khơi dậy " bao ngành biệt ly ", khơi dậy mối sầu cô đơn của người lữ khách xa nhà như bài Thu Phong Dẫn 秋風引 của Lưu Vũ Tích 劉禹錫 đời Đường :

dcd_phong_9.jpg 

             
      

            何處秋風至?   Hà xứ thu phong chí ?
            蕭蕭送雁群。   Tiêu tiêu tống nhạn quần.
            朝來入庭樹,   Triêu lai nhập đình thọ,
            孤客最先聞。   Cô khách tối tiên văn.

Có nghĩa :

                    Gió thu từ đâu thổi đến ?

                    Hắt hiu đưa tiễn nhạn bầy,

                    Sáng nay luồn vào cây lá,

                    Lữ khách hay trước hơn ai !

 Lục bát :

                    Từ đâu thổi đến gió thu ?

              Hắt hiu đưa nhạn mịt mù bay cao.

                    Sáng nay cây lá lao xao,

              Cô đơn lòng khách nao nao trước người !

                                                     

 

       Ở gần đường Xích Đạo, vùng Nhiệt Đới như Miền Nam của đất Nam Kỳ Lục Tỉnh, khi gió Tây thổi cũng vẫn cảm nhận được cái hiu hắt lạnh lùng, nên trong Ca dao Dân gian vẫn có câu hát :

                      Anh về để áo lại đây,
              Để khuya em đắp Gió Tây lạnh lùng !

                 - Có lạnh lùng lấy mùng mà đắp,
                Trả áo anh về đi học kẻo trưa !

dcd__phong_10.jpg 

 Nhớ hồi còn nhỏ, trong giờ học môn Khoa Học Thường Thức trên lớp, thầy giáo giảng rằng : " Gió là sự chuyển động của không khí trên bề mặt trái đất, không màu sắc, không mùi vị .... " Một anh bạn giơ tay phát biểu : " Thưa thầy, gió có màu chứ thầy." Thầy hỏi : " Màu gì ? "- " Thưa thầy, màu đỏ bầm. Hôm qua anh của em trúng gió, má em cạo trên lưng 2 đường đỏ bầm và nói là : Gió nhiều quá ! " . Cả lớp cười ồ, có tiếng ai đó nói : " Đồ trúng gió !".

        Đó là cách ăn nói lịch sự, còn bình thường mắng nhau thì là " Đồ Khỉ Gió !", " Đồ... Cái thằng mắc gió !"... Viết đến đây, tôi chợt nhớ đến " Thằng Phải Gió " của Miền Bắc, xin được nhắc lại để đoc chơi tiêu khiển !   
        Về cô gái hái chè gặp " Thằng Phải Gió " dưới đây, diễn tả một câu chuyện xảy ra trên một đồi chè ngoài ý muốn của cô gái, thế nhưng cô ta lại tỏ ra rất... hài lòng. Đây là cái hay của đoạn ca dao đã lột trần được cái tương phản của tâm lý con người !

 

dcd_phong_11_cohaiche.jpg

                   

                  CÔ GÁI HÁI CHÈ - Chính Bản

 

                Hôm qua em đi hái chè 
                Gặp thằng phải gió nó đè em ra 
                Em lạy mà nó chẳng tha 
                Nó đem đút cái mả cha nó vào 
                Bấy giờ em biết làm sao ? 
                Nếu em càng giẩy nó vào thêm sâu 
                Cái gì như thể củ nâu 
                Cái gì như cái cần câu vật vờ 


         Đọc bài thơ, ta thấy được sự phản kháng yếu ớt, chiếu lệ của cô gái, và cuối cùng thì ... nằm im chịu trận, vì ...

                 Nếu em càng giẩy nó vào thêm sâu !

         Chính vì cái tâm lý tương phản của cô gái mà ta còn tìm thấy thêm được ở trên mạng nhiều Hậu Bản của bài thơ nữa. Mời đọc một Hậu Bản sau đây :

 

Cô Gái Hái Chè - Hậu Bản

Mấy hôm sau đến vườn chè, 
Kiếm thằng phải gió em đè nó ra.
Nó lạy em, nó xin tha, 
Nhưng em cứ đút mả cha nó vào. 
Bây giờ mới sướng làm sao, 
Nên em càng giẩy cho vào thêm sâu. 
Giẩy sao cho dập củ nâu, 
Giẩy sao cho gẩy cần câu vật vờ !

                                     Vô danh

 

          Lại một Hậu Bản nữa !

       Cô Gái Hái Chè - Mười Năm Tái Ngộ    

          Mười năm thắm thoát trôi qua 
          Gặp lại phải gió nó già hơn xưa 
          Mừng như nắng hạn gặp mưa 
          Em đè nó xuống em lùa chim ra 
          Nó nằm nó khóc xin tha

          Em ngồi em bóp mả cha ngày nào 
          Khi xưa củ cứng cần cao 
          Ngày nay củ xẹp cần dâu cần xìu

                                                  Vô danh

          Để viết tiếp đoạn kết cho có hậu, Ông ccNN trên mạng đã cho "Thằng Phải Gío" vượt biên,vinh quy bái tổ về làng, tay lủng lẳng bị đô la, túi đầy thuốc Viagra...

 

                    Thằng Phải Gió là Việt Kiều

 

                  "Phải Gió" mang mã Việt kiều,
                   Viagra đầy túi làm liều kiếm em.
                   Tủm tỉm nó nốc hai viên,
                   Mả cha nó đứng chỉ thiên lên liền.
                   Cả giờ nó lắc như điên,
                   Ối giời ! sao sướng như tiên thế này
                   Mười năm nắn bóp rã tay
                   Nó lắc cho bõ những ngày xuội lơ !

                                                                  ccNN

       

       Chuyện Thằng Phải Gió khép lại để kết thúc cho bài phiếm luận " Phải Gió " nầy !

                                                              Đỗ Chiêu Đức

    CHỮ NHO DỄ HỌC

    MÀ...HỌC KHÔNG DỄ

 

BÀI 16 ĐN BÀI 20

https://drive.google.com/file/d/0B6-GwvjUy0dHcEFYWXpHbWJlXzA/view?usp=sharing 

 

BÀI 11 đến bài 15

https://mail.google.com/mail/u/0/?ui=2&ik=e1081c2087&view=lg&msg=155facf4b345ac06  

https://mail.google.com/mail/u/0/?ui=2&ik=e1081c2087&view=lg&msg=155facf4b345ac06 

BÀI 1 ĐẾN BÀI 5:

Click link dưới đây để đọc 

(Download hơi lâu vì cả 5 bài dài 78 trang. Sẽ đăng các bài kế tiếp) 

đ https://drive.google.com/file/d/0B6-GwvjUy0dHc0hvU0I3UzY2a1E/view?usp=sharing

BÀI 6 ĐẾN BÀI 10: 

 https://drive.google.com/file/d/0B6-GwvjUy0dHTjdFXzBoVWNwUlE/view?usp=sharing 

 

(Còn tiếp)_____________________________________________________________________

-

PHIẾM LUẬN :

                       LẠM BÀN VỀ THIỆN ÁC và DỤC

 

       Câu đầu tiên của Huấn Mông TAM TỰ KINH 訓蒙 三字經 là : " Nhân chi sơ, Tánh bản thiện 人之初、性本善 ". Ý muốn nói : " Con người lúc ban sơ khi mới được sanh ra, thì bản tính vốn hiền lành lương thiện ". Điều nầy gần như là hiển nhiên mà mọi người đều thấy rõ, đứa bé mới sinh vô tư hiền lành như tờ giấy trắng. Mọi khả năng, mọi tình huống, mọi biến chuyển về sau của đứa bé đều do một chữ THIỆN của lúc ban đầu nầy mà ra !

       Vậy, THIỆN là gì ? Lần theo từ nguyên ta sẽ thấy ...

甲骨文

金文 Kim Văn

金文大篆 Đại Triện

小篆 Tiểu Triện

繁体隶书 Lệ Thư

 

Ta thấy ...

      Theo Kim Văn ( Chung đĩnh Văn) và Đại Triện, chữ THIỆN gồm có chữ DƯƠNG 羊 là Con Dê là Điềm Lành ở giữa, hai bên là hai chữ NGÔN 言 là Lời Nói, đến Tiểu Triện thì hai chữ NGÔN 言 được nhập làm một, cho đến chữ LỆ, thì chữ NGÔN lại được rút ngắn lên như chữ viết hiện nay 善. Nên ...

       THIỆN 善 là Hiền, Lành, là trái với ÁC, như từ kép Thiện Lương 善良 là Hiền Lành, Thiện Tâm Thiện Ý 善心善意 là Lòng Dạ hiền Lành. Ta hay nghe câu :

                     Vinh danh Thiên Chúa trên trời,

                  Bình an dưới thế cho người THIỆN TÂM.

       Ngoài nghĩa HIỀN ra, THIỆN còn có nghĩa là Thân Mật, như Thân Thiện 親善, Hòa Thiện 和善.

       THIỆN là Giỏi Giắn, Chuyên về việc gì đó là Thiện nghệ 善藝.

       THIỆN KỴ 善騎 : Giỏi về Cởi Ngựa.

       THIỆN XẠ 善射 : Giỏi về Bắn Cung, bắn Súng.

       THIỆN CHIẾN : Giỏi về Đánh Trận, Đánh Giặc.....

 THIỆN còn có nghĩa là TÔT, như :

       THIỆN HẬU 善後 : là Hậu Vận Tốt, Già có nơi nương tựa.

       THIỆN CHUNG 善終 : là Chết Tốt, là Chết An Lành.

       THIỆN ĐỨC 善德 : thì không tốt tí nào, nói lái lại sẽ biết !

THIỆN còn có nghĩa là DỄ, như :

       THIỆN BIẾN 善變 : Dễ Thay đổi.

       THIỆN VONG 善忘 : Dễ Quên.

       ĐA SẦU THIỆN CẢM 多愁善感 : là Đa sầu và Dễ Cảm xúc !

Cuối cùng THIỆN là một trong Bách Gia Tính : Họ THIỆN.

       Kết Luận :....

       THIỆN là Dễ, Hiền, Lành, Tốt, Giỏi . Nên nói theo học thuyết của Manh Tử 孟子 ( 372-289 trước công nguyên ):"Nhân chi sơ, Tính bổn Thiện " là " Cái tính ban sơ của con người vốn Hiền Lành, nên Dễ Giỏi, Dễ trở nên Tốt Lành.  Và  " Cẩu bất giáo, Tính nãi thiên 苟不教,性乃遷 " Nếu không được dạy dỗ thì cái tánh đó sẽ bị thay đổi ( Xấu đi chẳng hạn !).

DCD_thienac.jpg 

 Nói theo đạo Phật, con người sanh ra là đã có sẵn cái THIỆN DUYÊN 善緣 rồi, phải biết vun bồi và phát huy cái Thiện Duyên đó. Đó chính là cái THIỆN NGUYỆN 善願 để kết nên cái Thiện Duyên đã có sẵn trong mỗi con người. Tăng Quảng Hiền Văn của Nho Gia cũng nói rằng :

                 Nhân hữu THIỆN NGUYỆN,      人有善願,

                 Thiên Tất hựu chi.                  天必祐之。                

Có nghĩa :

         Người mà có cái Thiện Nguyện, thì Trời sẽ giúp đỡ phù hộ cho ( được toại nguyện !).

 

         Nhưng theo TUÂN TỬ 荀子 ( 313 TCN - 238 TCN), cũng là một nhà tư tưởng của thời Chiến Quốc, thì " Nhân chi sơ, Tính bản ÁC 惡 " Con người mới sinh ra đã cất tiếng khóc cùng quằn với cuộc sống, đòi ăn đòi bú, quơ được tờ giấy thì muốn nhào nát hoặc xé rách nó đi ... Cái tính bản ÁC 惡 đó cần phải được uốn nắn dạy dỗ, giáo duc thì mới trở nên tốt lành được.

          Bây giờ thì ta truy nguyên tận nguồn gốc của chữ ÁC 惡 nầy nhé !   

甲骨文

金文

金文大篆

小篆

繁体隶书

   

Ta thấy...

       ÁC 惡 là chữ thuộc dạng Hài Thanh, gồm chữ Á 亞 ở trên chỉ ÂM, và chữ TÂM 心 ở dưới chỉ Ý. Nên, ÁC là một sự biểu hiện tình cảm ở trong lòng. Nếu cố giảng theo Hội Ý thì ...Á 亞 chỉ sự thua sút, kém cỏi ( như Á quân, Á Hậu, Á Thánh...), còn TÂM 心 là Tâm lý, là Tình cảm trong lòng. Tình Cảm thì Một là TỐT, Hai là XẤU mà thôi. Nên Á ghép với TÂM là Tình Cảm hạng 2, là Tình Cảm Xấu. Vì vậy nghiã trước tiên của chữ ÁC là XẤU ! Như ...

       ÁC CẢM 惡感 : là Có Cảm giác Xấu về ai đó.

       ÁC DANH 惡名 : là Tiếng Xấu, Tiếng Không Tốt.

       ÁC TẬP 惡習 : là Tập quán Xấu, tức là chỉ Thói Xấu ... 

       ÁC ĐỨC 惡德 : là Cái Đức Xấu. Hành Vi Xấu Xa.

ÁC là HUNG DỮ, như :

       ÁC ĐỘC 惡毒 : Ta nói là Độc Ác !

       ÁC BÁ 惡霸 : là Người Hung Ác, Dữ Dằng.

       ÁC PHỤ 惡婦 : là Người Đàn bà Hung dữ. Tương tự, ta cũng

            có từ ÁC PHU 惡夫. Bạn bè thường hay nói chơi là :

            Hiền Phụ đánh Ác Phu : là Vợ Hiền đánh Chồng dữ !

       HUNG ÁC 兇惡 : là Hung Dữ và Tàn Ác.

       HIỄM ÁC 險惡 : la Hung Hiễm và Ác Độc.

ÁC là Động Từ thì đọc là Ố, có nghĩa là GHÉT, như :

       KHẢ Ố 可惡 : là Đáng Ghét !

       HỈ NỘ ÁI Ố 喜怒愛惡 : là Mừng Giận Yêu Ghét !

       Trong Tiểu thuyết võ hiệp Thiên Long Bát Bộ, Kim Dung đã đặt tên rất hay cho Tứ Ác Nhân của mình, bằng cách xem chữ ÁC nằm ở vị trí nào trong Ngoại Hiệu để biết được vai vế của người  đó trong Tứ Ác như sau :

     * Lão đại, Ác nhất, nên chữ ÁC đứng đầu, hiệu là ÁC QUÁN MÃN DOANH 惡貫滿盈 : là Tội ÁC đã đầy ăm ắp, hết chỗ chứa luôn ! Chính là Thái Tử Đoàn Diên Khánh.

     * Lão Nhị, Ác nhì, nên chữ ÁC đứng ở vị trí thứ 2 là : VÔ ÁC BẤT TÁC 無惡不作 : Có nghĩa là Không Có Cái ÁC Nào Mà Không làm, là Diệp Nhị Nương, mẹ của nhà sư Hư Trúc.

     * Lão Tam, Ác thứ 3, nên chữ ÁC cũng ở vị trí thứ 3 là : HUNG THẦN ÁC SÁT 兇神惡煞 : là Dữ dằng sát khí như một Hung Thần, chính là Nam Hải Ngạc Thần.

     * Lão Tứ, Ác thứ Tư, nên chữ ÁC ở vị trí cuối cùng là : CÙNG HUNG CỰC ÁC  窮兇極惡 : là Hung dữ vô cùng và Ác hết chỗ nói, đó chính là Vân Trung Hạc.

        Kết luận ...

        ÁC là Xấu Xa, Dữ Dằng, Đáng Ghét ! Nên theo Tuân Tử thì vì con người " Tính bản Ác " nên cũng cần phải được chú trọng giáo dục đào tạo thì mởi trở nên người tốt được.

dcd_thienac2.jpg 

       Ta thấy ...

       Dù cho con người tính bản THIỆN hay tính bản ÁC, dù là học thuyết của Mạnh Tử hay Tuân Tử gì ... đều phải chú trọng đến giáo dục. " Ngọc bất trác, bất thành khí. Nhân bất học, bất tri lý " mà ! Tăng Quảng Hiền Văn có câu :

              Sự tuy tiểu bất tác bất thành,     事雖小不作不成,

              Tử tuy hiền bất giáo bất minh.    子雖賢不教不明。

Có nghĩa :

     - Việc tuy nhỏ, nhưng không làm thì sẽ không xong,

     - Con tuy hiền, nhưng nếu không dạy thì sẽ không sáng suốt.
        Tuân Tử thì bảo rằng :" :君子曰:学不可以已。 青,取之于蓝而青于蓝;冰,水为之而寒于水。" Quân tử viết : Học bất khả dĩ dĩ. Thanh, thủ chi vu lam nhi thanh vu lam. Băng, thuỷ vi chi nhi hàn vu thuỷ ". Có nghĩa :

         " Người quân tử nói rằng : Sự HỌC không thể ngừng nghỉ được. Màu xanh được lấy từ cây chàm, nhưng lại xanh hơn chàm. Băng được đong lại bởi nước, nhưng lại lạnh hơn nước ". Nếu chiụ học thì sóng sau sẽ dồn sóng trước, người càng về sau sẽ giỏi hơn người đi trước !

         Mạnh Tử thì cho là :" 學而不思則罔,思而不學則殆。Học nhi bất tư tắc võng, tư nhi bất học tắc đãi.". Có nghĩa :

        " Học mà không biết suy luận thì cũng uổng cho sư học. Biết suy luận mà không chiụ học thì cũng như không ! ".

         Nói chung, là con người thì luôn luôn phải cầu học mới tiến bộ, mới hoàn thiện bản thân và mới giúp ích cho xã hội nhân quần được !

         Về phần chữ DỤC, xin mời đọc lại bài viết về GIÁO DỤC dưới đây :

 

                              GIÁO DỤC

 

      Giáo Dục luôn luôn là đề tài muôn thuở gắn liền với đời sống con người. Bất cứ nơi đâu trên trái đất, bất cứ màu da nào, dân tộc nào đều cũng có một nền giáo dục riêng biệt, đặc trưng của mình. Ngay cả trong mỗi gia đình đều có một nề nếp riêng của gia đình đó, mà người chủ gia đình là đầu tàu dẫn dắt theo cái hướng đi của gia đình mình và của cái xã hội mà gia đình mình đang hiện hữu. Nên từ ngàn xưa ông bà ta cũng đã cảnh báo là :" Dưỡng bất giáo, phụ chi quá. Giáo bất nghiêm, sư chi đọa " 養不教,父之過。教不嚴,師之惰。Có nghĩa : " Nuôi mà không dạy là lỗi của người cha. Dạy mà không nghiêm, là do sự biếng nhác của người Thầy." Vậy nên ...

           Muốn Giáo Dục có hiệu qủa tốt, thì cần phải kết hợp chặc chẽ giữa người dạy, người học và người theo dõi đôn đốc nữa ! Tức là phải kết hợp giữa Học Đường và Gia Đình, phải điều phối hợp lý chặc chẽ giữa Học Sinh, Thầy Cô Giáo và Phụ Huynh ! GIÁO DỤC luôn là vấn đề bức xúc, tế nhị và lâu dài, không phải trong một ngày một buổi mà đem lại hiệu qủa trông thấy được.

           Bây giờ thì ta hãy thử Chiết Tự để tìm hiểu một cách thấu đáo hơn về 2 chữ GIÁO DỤC nhé !

     * GIÁO 教 là chữ Hội Ý, theo diễn tiến của chữ viết như sau :

甲骨文

金文

金文大篆

小篆

繁体隶书

Giáp Cốt Văn          Kim Văn      Đại Triện             Tiểu Triện     Lệ Thư   

Ta thấy các chữ trên ...

        Bên Trái phía trên là 2 dấu chéo chỉ SỰ KIỆN, phía dưới là hình chữ Tử 子 là NGƯỜI, là Thằng Nhỏ. Bên Phải là hình của một Người hai tay dang ra, tay phía trên có cầm một cây Roi giơ cao như đang chỉ huy. HỘI Ý những hình trên lại : Trong xã hội nô lệ, thường thì chủ nô lệ phải cầm roi để chỉ huy, ra lệnh, dạy bảo đám người nô lệ. Nên ...

        GIÁO 教 đầu tiên có nghĩa là Chỉ Bảo, Ra Lệnh. Như :

    - GIÁO HUẤN 教訓 : là Dạy Dỗ, chỉ bảo, bắt buộc phải làm theo. Huấn còn có nghĩa là Huấn Tập, Huấn luyện cho thành thạo. Nghĩa phát sinh hiện nay thì Giáo Huấn có nghĩa là : Dạy cho một bài học cho nên thân !.

    - GIÁO ĐẠO 教導 : Chữ ĐẠO 導 nầy có bộ THỐN 寸 là Tấc ở dưới, Ý chỉ dò dẵm từng tấc đất một. Nên ĐẠO là Chỉ Dẫn để đi cho đúng Đường là Hướng Đạo đó. Nên GIÁO ĐẠO là Dạy dỗ và Hướng dẫn để đi cho đúng với con đường phải đi.

    - GIÁO DƯỠNG 教養 : Chữ DƯỠNG có bộ THỰC 食 bên dưới, nên Dưỡng là Cho Ăn, là NUÔI. Nên GIÁO DƯỠNG là Nuôi Dạy. 

Nuôi dạy là phạm vi của Gia đình, của Cha mẹ đối với Con cái. nhưng nghĩa rộng của Giáo Dưỡng là Giáo dục và Bồi Dưỡng. Có nghĩa dạy xong rồi, còn phải củng cố bồi dưỡng cho kiến thức được vững chắc lâu dài !

    - GIÁO HỌC 教學 : là DẠY và HỌC, nên Giáo Học là Dạy Học. Công Việc Giáo Học là Công việc truyền thụ kiến thức cho người khác, nhưng GIÁO HỌC cũng có nghĩa Dạy tức là Học đó. Càng DẠY thì lại càng HỌC được nhiều kiến thức hơn, càng Giỏi hơn ra.

      Đó là chung quanh các chữ GIÁO mà có liên quan đến DỤC. Vậy DỤC là gì ? Ta hãy xem nguồn gốc của chữ DỤC dưới đây :

甲骨文

金文

金文大篆

小篆

繁体隶书

   

                                                       Đại Triện           Tiểu Triện         Lệ Thư

Ta thấy :

    * Chữ Đại Triện : Có bộ MẪU 母 là Mẹ bên trái, bên phải là chữ Tử 子 là Con lật ngược đầu xuống, dưới cùng là chữ Tiểu 小 là Nhỏ. Ý chữ là : Bà mẹ đang sanh ra đứa con nhỏ, nên chữ Tử 子 mới để ngược đầu trở xuống. Và chữ DỤC 育 ở đây có nghĩa là SANH RA. Như :

        - Sinh Dục 生育 nghĩa như Sinh Sản.

        - Tiết Dục 節育 là Hạn chế Sinh đẻ.

        - Đoạn Dục 斷育 là Nghỉ đẻ luôn !

    * Chữ Tiểu Triện : Phần trên  là chữ TỬ 子 trở ngược đầu, phần dưới là bộ NHỤC 肉 là THỊT,( được viết cách điệu như chữ Nguyệt 月 là Trăng ). Ý chữ là : Đang đút cho đứa bé ăn thịt, nên DỤC 育 có nghĩa là NUÔI NẤNG. Như :

        - Dưỡng Dục 養育 : là từ kép của Nuôi, là Nuôi Nấng.

        - Đức Dục 德育 : Nuôi Nấng về mặt Đạo Đức.

        - Trí Dục 智育 : Nuôi Nấng về mặt Trí Thức.

        - Thể Dục 體育 : Nuôi Nấng cho cơ thể Khỏe Mạnh.

        - Mỹ Dục 美育 : Nuôi Nấng về khiếu Thẩm Mỹ.

           .... và cuối cùng là ...

        - GIÁO DỤC 教育 : Là Nuôi Nấng về mặt Dạy Dỗ.

          Nhưng, Nuôi như thế nào ? Nuôi bằng cách rèn luyện cho người được nuôi có được Phẩm Chất Đạo Đức Tốt ( Đức Dục ). Nuôi bằng cách truyền thụ cho người được nuôi mở mang trí hóa với các kiến thức căn bản ( Trí Dục ). Nuôi cho người được nuôi có được một cơ thể cường tráng ( Thể Dục )  và có được cái năng khiếu về thẩm mỹ mỹ thuật, biết thưởng thức được những cái đẹp của cuộc sống chung quanh ta ( Mỹ Dục ). Còn ...

          DẠY thì phải ra sao ? Dạy  cho nắm bắt được kiến thức cơ bản của xã hội mà ta đang sống, có được một kỹ năng kiếm sống và biết sống cho đáng sống ( Giáo Huấn ). Dạy cho biết bồi dưỡng cập nhật và thích ứng với xã hội luôn luôn phát triển không ngừng ( Giáo Dưỡng ). Dạy cho biết phải đi đúng đường đúng hướng của đạo làm người trong tập thể mà ta đang sống ( Giáo Đạo ) và cuối cùng là Dạy cho ta biết phải luôn luôn học hỏi và không ngừng cầu tiến để thăng hoa hơn con người của bản thân ta ( Giáo Học ). Cho nên ...

          Giáo mà không Huấn sẽ không tinh, không giỏi được. Giáo mà không Dưỡng sẽ không lâu dài bền vững được. Giáo mà thiếu chỉ Đạo sẽ dễ bị chệch hướng, " Tẩu hỏa nhập ma ", lầm đường lạc lối,  còn Giáo mà không chịu trao dồi Học hỏi thêm sẽ bị lạc hậu ngay, như câu nói :

            

            Học như nghịch thuỷ hành chu,    學如逆水行舟,

            Bất tiến tắc thoái dã !                  不進則退也!

dcd_thienac3.jpg 

Có nghĩa :

       - Chuyện học hành như là đang đi thuyền nước ngược vậy,

       - Nếu không cố gắng tiến lên, thì sẽ bị nước đẩy cho lùi trở xuống ! ( chớ không thể đứng một chỗ được !).

 

       Hai chữ GIÁO DỤC  thấy như đơn giản, nhưng lại bao hàm đầy đủ các mặt NUÔI DẠY cần thiết để đào tạo con người. Cho nên, Công Tác Giáo Dục cũng là Công Tác vô cùng phức tạp và hết sức thiêng liêng và Hiệu Qủa Giáo Dục thì không phải là chuyện một ngày một buổi mà có được. Ngạn ngữ Trung hoa xưa có câu :

                 Nhất niên thọ đạo,       一年樹木,

                 Thập niên thọ mộc,      十年樹稻,

                 Bách niên thọ nhơn.     百年樹人!

Có nghĩa :

        - Vì lợi ích trong một năm thì trồng lúa,

        - Vì lợi ích của mười năm thì trồng cây,

        - Vì lợi ích của trăm năm thì phải đào tạo con người !

dcd_thienac4.jpg 

          

      Mong rằng những người làm Công Tác Giáo Dục phải biết cân nhắc, châm chước và trân trọng !

 

                                                             Đỗ Chiêu Đức

_________________________________________________________________________________________________________________________________________________________  

THI THIÊN TỬ


          Những người nghiên cứu và say mê thơ Đường, thường hay kháo nhau về những giai thoại xoay quanh các thi nhân của thời đại nầy. Trong số các giai thoại đó, chuyện thường được nhắc đến nhiều nhất